Vài Sự Kiện Quan Trọng trong những năm 1967-1974
PHẠM BÁ HOA
Tôi rời chức vụ chánh văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng vào những ngày cuối năm 1966 để nhận chức tại tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), nên không có điều kiện theo dõi những sự kiện chính trị từ trong căn phòng nhỏ hẹp của Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Trung Tướng Viên thăng cấp Ðại Tướng nhân lễ Quốc Khánh năm 1967), nơi mà các vị lãnh đạo với tất cả quyền lực trong tay thường hội họp và quyết định những vấn đề trọng đại của quốc gia. Giữa năm 1968, tôi thuyên chuyển trở lại Bộ Tổng Tham Mưu, phục vụ trong bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận với chức vụ Chánh Sở Kế Hoạch Chương Trình. Năm 1972, nhận chức Cục Trưởng Cục Mãi Dịch. Năm 1974, nhận chức Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Trong thời gian này cho đến giờ thứ 25 của cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, tôi có cơ hội trực tiếp lẫn gián tiếp, theo dõi được tình hình quốc gia qua một số sự kiện quan trọng trong phần này và những phần tiếp sau.
1. Quỹ Tương Trợ Và Tiết Kiệm Quân Nhân.
Xin nhắc lại rằng, vào đầu tháng 6/1965, Thủ Tướng Phan Huy Quát gởi văn thư mật, yêu cầu Hội Ðồng Quân Lực nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia, vì do bất đồng quan điểm với Quốc Trưởng khi thay đổi nhân sự trong nội các mà Quốc Trưởng từ chức, và Thủ Tướng phải từ chức theo. Văn thư nhấn mạnh, nếu Hội Ðồng Quân Lực không nhận trách nhiệm này thì tình hình có thể sẽ trở nên rối loạn. Sau hai ngày họp, Hội Ðồng Quân Lực quyết định chấp nhận lời yêu cầu của Thủ Tướng.
Ðể có khả năng đảm nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia, Hội Ðồng Quân Lực đã tổ chức hai cơ cấu: Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Chủ Tịch, và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Chủ Tịch. Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia hành sử chức năng Quốc Trưởng, và Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương tức Thủ Tướng chánh phủ.
Ngày 19 tháng 6 năm 1965, tất cả thành viên của hai Ủy Ban này đã ra mắt quốc dân đồng bào và ngoại giao đoàn. Trong năm 1965 và 1966, Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia đã tổ chức hai lần "Ðại Hội Toàn Quân", để quyết định đường lối hành động trong trách nhiệm quân đội lãnh đạo quốc gia. Thật ra những thành viên của hai lần Ðại Hội này, tôi có tham dự cả hai đại hội, hằng ngàn quân nhân đại diện toàn quân về Sài Gòn tham dự để nghe quí vị thành viên của hai Ủy Ban trình bày về những chính sách của các ngành sinh hoạt quốc gia, và trong một chừng mực nào đó, có thể xem đây là một sách lược quốc gia.
Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ với tư cách Thủ Tướng, đã tuyên bố nội các của ông là "nội các chiến tranh" và là "chánh phủ của người nghèo". Sau đó ông có thực hiện một số chính sách giúp đỡ người dân cải thiện đôi chút cuộc sống, như:
- Bán xe Lambretta 3 bánh trả góp dùng chở khách trong thành phố. Ðây cũng là cách gia tăng phương tiện chuyên chở công cộng trong thành phố,
- Cất nhà liên kế bán trả góp cho quân nhân viên chức.
- Bán xe gắn máy 2 bánh cho quân nhân trả góp dài hạn.
- Tổ chức hệ thống Quân Tiếp Vụ để bán hàng tiêu dùng thông thường với giá miễn thuế cho quân nhân và gia đình.
- Và vân vân . . .
Năm 1967, Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia quyết định tăng lương đồng đều cho tất cả quân nhân các cấp thuộc chủ lực quân, mỗi quân nhân 100 đồng. Lúc bấy giờ, quân số chủ lực quân khoảng 450.000 người (chưa kể quân số Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân). Chỉ 100 đồng thôi vì ngân sách không thể chi trả nhiều hơn nữa, mà 100 đồng thời điểm ấy cũng chẳng mua sắm được gì. Cũng không rõ là Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia có chấp thuận cho Bộ Quốc Phòng hay không, về việc sử dụng 100 đồng đó để thành lập một quỹ gọi là "Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân", và chỉ áp dụng cho quân nhân chủ lực quân mà thôi. Mục đích của quỹ như tên gọi là "vừa tiết kiệm vừa tương trợ quân nhân và gia đình". Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ, Tổng Trưởng Quốc Phòng, giữ chức Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị. Tôi không nhớ hết các vị thành viên trong Hội Ðồng Quản Trị, chỉ nhớ là có vị Tổng Giám Ðốc Tài Chánh Thanh Tra Quân Phí/Bộ Quốc Phòng, và Thiếu Tướng Ðồng Văn Khuyên (cấp bậc lúc bấy giờ) Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu.
Tôi không rõ vị nào đã đưa ra đề nghị này, nhưng có điều là Quỹ này có hợp lệ hay không thì nhiều dư luận trái ngược nhau, mặc dù Quỹ đã được Bộ Nội Vụ cấp giấy phép hoạt động. Vì Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia quyết định tăng lương là trách nhiệm của cấp lãnh đạo đối với quân nhân, nhưng Bộ Quốc Phòng đã thay mặt quân nhân quyết định thành lập Quỹ. Ngay trong Bộ Tổng Tham Mưu, các quân nhân cũng phàn nàn quyết định này không ít, vì Họ là thành viên đương nhiên nhưng không hề được hỏi ý kiến về việc nên hay không nên thành lập Quỹ. Với lại trên nguyên tắc, Quỹ này không phải của quân đội mà lại do vị Tổng Trưởng Quốc Phòng nắm chức Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị. Các thành viên trong Hội Ðồng đều được lãnh phụ cấp. Các vị khác thì tôi không rõ, nhưng riêng Thiếu Tướng Ðồng Văn Khuyên lãnh xong là ông hoàn vào quỹ. Chính mắt tôi thì không thấy, nhưng Thiếu Tướng Khuyên nói điều này trong những buổi họp tham mưu của Tổng Cục Tiếp Vận. Xin tạm gác sang một bên, để theo dõi dư luận đồn đoán xoay quanh nguyên nhân dẫn đến quyết định tăng lương mà là số tiền được tăng gần như chẳng đáng là bao so với vật giá thị trường.
Lúc bấy giờ, dư luận từ các nhà hoạt động chính trị cho rằng, Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia tăng lương chỉ nhằm mục đích lấy lòng quân nhân chuẩn bị cho liên danh quân đội ra ứng cử Tổng Thống-Phó Tổng Thống, chớ thật ra số tiền được tăng đó không có giá trị bao nhiêu về vật chất.
Và rồi quí vị Tướng Lãnh ra ứng cử thật. Không phải một liên danh mà đến hai liên danh: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu một liên danh, và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ một liên danh khác. Sự kiện này đã đưa quân đội, cho dù có thản nhiên đến mấy đi nữa, tự nó đã hình thành ba khuynh hướng: Một khuynh hướng ủng hộ Trung Tướng Thiệu, một khuynh hướng khác ủng hộ Thiếu Tướng Kỳ, và một khuynh hướng khác nữa thì không quan tâm mấy đến việc phải ủng hộ liên danh nào. Nếu tình trạng hai liên danh vẫn quyết tranh đua trong cuộc bầu cử này thì sự phân hóa trong quân đội là điều không tránh khỏi, và đó là điều tệ hại cho quân đội, cho quốc gia. Cũng may, các vị Tướng Lãnh đã vận động hai vị đứng đầu hai liên danh đến sát cạnh ngày hết hạn nộp đơn ứng cử, thì Thiếu Tướng Kỳ bằng lòng đứng chung liên danh với Trung Tướng Thiệu, sau cuộc họp khá gay gắt tại câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu. Cũng trong "sự thành công" đó, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu có hứa là nếu đắc cử Tổng Thống, ông sẽ tham khảo các vị như trong thành phần Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia về đường lối chính sách quốc gia. Ðồng thời ông cũng thỏa thuận với Thiếu Tướng Kỳ là sẽ mời giáo sư Nguyễn Văn Lộc -người đứng chung liên danh với Thiếu Tướng Kỳ lúc 2 liên danh riêng rẽ- thành lập chánh phủ.
Trở lại Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân. Khi quân số chủ lực quân gia tăng thì số vốn hằng tháng cũng theo đó mà gia tăng. Khi quân lực lên đến hơn 1 triệu quân thì chủ lực quân xấp xỉ con số 600 ngàn người, và như vậy có nghĩa là số vốn hằng tháng của quỹ ngoài các khoản lời khác, được tăng thêm đến 60 triệu đồng. Có thể nói mà không sợ lầm lẫn là lúc bấy giờ, chưa có cơ sở tài chánh nào tại Việt Nam mà số vốn gia tăng nhiều đến như vậy cả. Ðiều này ít nhất cũng là một trong hai nguyên nhân dẫn đến việc Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân "bị đánh sập" sau 51 tháng hoạt động. Nguyên nhân thứ hai, tôi sẽ thuật tiếp ở phần sau.
Trong thời gian thành lập Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, tôi đang phục vụ tại tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ) nên không trực tiếp thấu hiểu, nhưng năm sau đó (1968) tôi thuyên chuyển về Tổng Cục Tiếp vận mới có cơ hội nghe Thiếu Tướng Ðồng Văn Khuyên cho biết thêm về tổ chức và hoạt động của Quỹ này. Theo ông, số vốn ngày càng gia tăng nhanh chóng và Hội Ðồng Quản Trị quyết định thành lập một số cơ sở dịch vụ và kinh doanh, song song với gia tăng số vốn đầu tư vào các công ty dệt sợi, đặc biệt là Vimytex (Việt Mỹ Dệt Sợi Công Ty). Ðây là công ty dệt sợi lớn nhất lúc bấy giờ. Hằng năm, công ty này trúng thầu khoảng 50% đến 70% trong số 30 tỷ đồng (Việt Nam Cộng Hòa) cung cấp vải treillis thường và treillis ngụy trang dùng may quần áo trận cho quân nhân. Ngoài ra còn các nhu cầu vải sợi khác, như: vải may quân phục Không Quân, Hải Quân, vải may mùng, may võng, may mũ, vải che mưa, vải dùng lau chùi vũ khí, vải may quân phục đại lễ, quân phục mùa đông cho sinh viên Trường Võ Bị Quốc Gia, quân phục cho sinh viên Trường Bộ Binh Thủ Ðức, vải may quân phục cho quân nhân công du hoặc du học ngoại quốc, ..v..v.. Theo thời gian, các cơ sở sau đây được thành lập:
- Kỹ thương ngân hàng.
- Công ty bốc dỡ hàng hoá tại cảng Sài Gòn.
- Công ty vận tải.
- Công ty sản xuất vật liệu xây dựng.
- Xây cất tòa nhà nhiều tầng tại số 8 đại lộ Nguyễn Huệ khu trung tâm thủ đô, dự trù sử dụng cho văn phòng ngân hàng, cho các công ty do Quỹ thành lập, và cho thuê. Tòa nhà này thường được gọi là "cao ốc Nguyễn Huệ". Quan điểm táo bạo nhất là Hội Ðồng Quản Trị sẽ tiến đến xây dựng nhà máy sản xuất đạn bắn thẳng mà khởi đầu là tân trang.
Quan điểm này càng trở nên mạnh mẽ khi Trung Tướng (đã được thăng cấp) Ðồng Văn Khuyên được cử giữ chức Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Không biết do đâu mà quan điểm này lọt ra ngoài, và phía Hoa Kỳ bắn tiếng xa gần là sẽ không hỗ trợ mục tiêu này nếu như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thực hiện. Rất có thể đây là nguyên nhân thứ hai mà tôi vừa nói ở trên. Hoa Kỳ cho rằng, họ sẽ cung cấp đầy đủ đạn dược với phí tổn nhẹ hơn so với giá thành sản xuất tại Việt Nam. Ðúng hay không thì chưa rõ, vì phải nắm được giá thành sản xuất tại Hoa Kỳ mới so sánh được, với lại trong nghiên cứu chiến lược lắm khi người ta chấp nhận phí tổn cao về kinh tế để đạt được mục đích khác cao hơn như mục đích chính trị chẳng hạn. Giả thuyết rằng, một viên đạn sản xuất tại Việt Nam cùng phẩm chất mà giá thành cao hơn giá thành sản xuất tại Hoa Kỳ, chánh phủ vẫn chấp nhận được vì cái cốt lõi của mục đích là khả năng tự lực, còn giá thành không phải là yếu tố quyết định. Nhưng điều đó cho phép ta nhận định là Hoa Kỳ không muốn Việt Nam Cộng Hòa dần dần ra khỏi tầm kiểm soát của họ, mà đây là bước đầu Hội Ðồng Quản Trị muốn thử nghiệm. Và theo tôi, đây là nguyên nhân thứ hai góp phần dẫn đến quyết định đánh sập Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, mà lại là quyết định từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu!
Số tiền thanh trả cho quân nhân và gia đình ra khỏi Quỹ, ngày được gia tăng nhiều hơn lúc đầu nhờ vào số lời thu được từ các nguồn đầu tư.
Ðùng một cái, Tổng Thống chỉ thị Phó Tổng Thống Trần Văn Hương thành lập Ủy Ban Thanh Tra do Ðại Tá Trương Bảy (về sau là Chuẩn Tướng ngành Cảnh Sát) trách nhiệm, và Cục Mãi Dịch là cơ quan được nhắm vào như là trọng tâm. Ðại Tá Trương Bảy là sĩ quan ngành Tiếp Vận, và ông là vị Cục Trưởng thứ hai từ khi ngành Mãi Dịch trong quân đội thành lập năm 1964. Cơ quan này căn cứ vào thể lệ mãi ước hành chánh quốc gia, và căn cứ vào nhu cầu cùng những điều kiện kỹ thuật do các ngành liên hệ cung cấp, có trách nhiệm thiết lập hồ sơ đấu thầu và đệ trình Tổng Cục Trưởng Tiếp Vận (nếu khế ước có trị giá đến 80 triệu đồng lúc thành lập ngành, và năm 1973 tăng lên đến 200 triệu) và Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu quyết định (nếu khế ước trị giá 80.000.001 đồng trở lên, và năm 1973 thì từ 200.000.001 đồng trở lên).
Khi thành lập Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, không ít sĩ quan ngay tại quân trấn Sài Gòn tỏ ý than phiền việc thành lập Quỹ cũng như Hội Ðồng Quản Trị Quỹ này không nằm trong nguyên tắc hành chánh nào cả, vì tổ chức này không hoàn toàn quân sự cũng không hoàn toàn là dân sự. Nhưng khi Quỹ bị bắt buộc ngưng hoạt động và chi trả tài sản cho quân nhân thì dư luận quay lại ủng hộ Quỹ, cho rằng Tổng Thống đã bị "tài phiệt Chợ Lớn" và Hoa Kỳ khống chế, đành tâm đánh sụp một cơ sở tài chánh mà "tài phiệt Chợ Lớn" rất sợ sẽ mất độc quyền về kinh tế tài chánh. Ðúng hay không, tôi không có được những bằng chứng xác đáng về việc này nên không dám đánh giá, nhưng rõ ràng là sự sụp đổ của Quỹ Tương Trợ Và Tiết Kiệm Quân Nhân đã dẫn đến bữa tiệc rất trọng thể của nhiều nhà "tài phiệt Chợ Lớn".
Sở dĩ Cục Trưởng Cục Mãi Dịch bị Ủy Ban Thanh Tra nhắm vào vì Cục Trưởng là một thành viên trong Ủy Ban Thực Hiện cung cấp máy móc dụng cụ cho cao ốc số 8 đại lộ Nguyễn Huệ nói trên, đặc biệt là các thang máy chở đồ và chở người cho cao ốc này, trị giá chung là 60 triệu đồng Việt Nam. Ủy Ban Thanh Tra kết luận, việc thực hiện hai loại thang máy nói trên là không đúng nguyên tắc, và hệ quả là vị Cục Trưởng bị phạt và bị cách chức.
Ủy Ban Thanh Tra cho rằng, đáng lẽ Ủy ban Thực Hiện phải mở cuộc đấu thầu công khai với các nhà thầu quốc tế lẫn trong nước, đằng này Ủy Ban Thực Hiện chỉ "gọi thầu trực tiếp" dù là với nhà thầu quốc tế, nghĩa là mời các nhà thầu mà Ủy Ban Thực Hiện xét thấy có khả năng thi hành khế ước để khảo giá trực tiếp rồi trình lên Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị. Sở dĩ trình lên Hội Ðồng Quản Trị vì ngân khoản này không thuộc ngân sách quốc gia, mà là ngân khoản của Quỹ. Thật ra theo nguyên tắc mãi ước hành chánh do chánh phủ Pháp ban hành năm 1899 (chính xác là vậy đó), mà nền hành chánh Việt Nam Cộng Hòa vẫn áp dụng không mảy may thay đổi điều khoản căn bản nào cả. Cũng theo đó, "đấu thầu công khai" hay "gọi thầu trực tiếp", đều đúng nguyên tắc cả, có điều là mỗi nhu cầu tùy theo trường hợp và thực hiện theo cách nào cho là thích hợp nhất mà áp dụng, nhưng nhất thiết phải có lợi cho ngân sách. Xét cho đúng thì không có gì trái nguyên tắc cả, với lại lần thực hiện đó giảm chi được khoản tiền đáng kể mà lại được món hàng tốt nữa. Nhưng khi cấp thẩm quyền muốn cho nó sập thì kết luận phải cho nó sập, vì đó là lệnh của Tổng Thống mà!
Lúc ấy tôi đang phục vụ tại Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận (Cần Thơ), được cử thay thế vị Cục Trưởng nói trên. Bấy giờ là tháng 6/1972. Tôi đương nhiên là thành viên trong Ủy Ban Thanh Lý tài sản của Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân. Ủy Ban Thanh Lý do Tổng Nha Tài Chánh và Thanh Tra Quân Phí/Bộ Quốc Phòng giữ chức Chủ Tịch, có nhiệm vụ thanh trả hợp lý những khoản còn lại trong thời gian thực hiện cao ốc số 8 đại lộ Nguyễn Huệ, mà trọng tâm là xác định mức độ công tác hoàn thành của nhà thầu Huỳnh Thi (?). Về họ thì tôi chắc chắn là đúng, nhưng về tên của nhà thầu thì tôi chưa dám xác định.
Trong thời gian tham gia Ủy Ban này, tôi được biết một số sự kiện, đồng thời Trung Tá Bùi Hy Trọng -Cục Phó Cục Mãi Dịch lúc thực hiện hàng cho cao ốc- cung cấp cho tôi những con số sau đây:
- Ðến khi bị cưỡng bách ngưng hoạt động thì số vốn do đóng góp là 3.520.000.000, 00 (3 tỷ 520 triệu) đồng Việt Nam.
- Trước đó, số tiền chi trả cho quân nhân giải ngũ, về hưu, hi sinh, từ trần hay mất tích, là 460.000.000,00 (460 triệu) đồng.
- Khi thanh lý tài sản, đã chi trả cho toàn thể quân nhân hội viên (gồm cả tiền lời) lên đến 3.500.000.000,00 (3 tỷ 500 triệu) đồng. - Ðã chi ra 360.000.000,00 (360 triệu) đồng vào công trình xây dựng cao ốc Nguyễn Huệ.
- Số tiền còn lại trong ngân hàng là 500.000.000,00 (500 triệu) cùng với tài sản tại các công ty của Quỹ ước tính cũng đến vài chục triệu nữa.
Cao ốc số 8 Nguyễn Huệ gồm 12 tầng, cộng với sân thượng dự trù sử dụng một nửa phía đại lộ Nguyễn Huệ để cho thuê khai thác nhà hàng có ca nhạc, và một tầng hầm làm chổ đậu xe (parking) với lối ra vào dành cho xe chuyên chở hàng hóa sử dụng chuyển vận lên các tầng trên, và hai máy phát điện đủ cung cấp điện năng cho cao ốc khi bị cúp điện. Ngay tầng trệt dành cho Kỹ Thương ngân hàng và phòng khách chung cho cao ốc như tại các khách sạn lớn vậy.
Cũng trong năm 1972, Bộ Tài Chánh thương lượng với Ủy Ban Thanh Lý mua lại cao ốc Nguyễn Huệ với giá sơ khởi do Ủy Ban Thanh Lý ra giá là 1.000.000.000,00 (1 tỷ) đồng. Khi tôi được cử vào chức vụ Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, tôi không còn trong Ủy Ban Thanh Lý nữa nên không rõ diễn tiến như thế nào mà đến tháng 4/1975, cao ốc vẫn chưa bán được.
Hãy để mục đích thành lập cũng như mục đích đánh sập Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân đúng hay sai qua một bên, chúng ta thử kết toán một cách tổng quát sau 51 tháng hoạt động: Số vốn 3 tỷ 520 triệu, đã lên đến 4 tỷ 460 triệu, cộng với cao ốc số 8 Nguyễn Huệ trị giá 1 tỷ, cộng với tài sản tại Kỹ Thương ngân hàng và các công ty. Nếu không bị đánh sập, rất có thể Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, có khả năng góp phần đáng kể vào mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia, cũng có thể góp phần quan trọng vào mục tiêu của quân đội từng bước tiến đến tự lực trong nền kinh tế quốc gia, đang đặt trọng tâm vào khả năng và tiềm năng tìm kiếm khai thác dầu hỏa dưới thềm lục địa Việt Nam, mà Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa đặt nhiều tin tưởng vào đó, ước tính từ năm 2000. Không phải là ảo tưởng khi Thiếu Tướng Ðồng Văn Khuyên (cấp bậc lúc bấy giờ), Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, năm 1969, giao cho tôi lúc tôi phụ trách Sở Kế Hoạch & Chương Trình/Tổng Cục Tiếp Vận, âm thầm nghiên cứu phác thảo một hướng đi cho ngành Tiếp Vận từng bước tiến đến tự lực các loại dụng cụ chiến tranh, mà một trong những nền tảng là khả năng và tiềm năng dầu hỏa. Trong năm 1970, Thiếu Tướng Khuyên đã chấp thuận dự thảo của tôi và ngay sau đó đã ban hành trong toàn ngành Tiếp Vận tập tài liệu nhỏ có tên là Ðường Lối Tiếp Vận 10 điểm với dự phóng từ năm 2000 có khả năng đạt đến nếu như những dự phóng phát triển của Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa không quá sai lệch. Sau đó, từng lãnh vực trách nhiệm được nghiên cứu phác thảo tổng quát. Và rồi tháng 4 năm 1975 chợt đến, tât cả trở thành giấy vụn.
2. Chuẩn bị phát triển quốc gia.
Hiệp Ðịnh ngưng bắn trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa ký ngày 27 tháng 1 năm 1973, đến tháng 3/1973 Hiệp Ðịnh có hiệu lực. Sau đó là trao đổi tù binh, gồm cả tù binh Hoa Kỳ và tù binh Việt Nam Cộng Hòa bị cộng sản giam giữ. Hiệp Ðịnh bị lãnh đạo cộng sản Việt Nam có tên là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vi phạm ngay khi Hiệp Ðịnh tưởng chừng chưa ráo mực, Nhưng không vì vậy mà chánh phủ đặt nhẹ nhu cầu phát triển đất nước. Với những sinh hoạt khá rộn rịp, chuẩn bị các dự án phát triển quốc gia thời hậu chiến, như:
Tháng 6 năm 1973, một phái đoàn chánh phủ gồm quí vị: Tổng Trưởng Giao Thông Bưu Ðiện, Tổng Trưởng Tài Chánh, Tổng Giám Ðốc Ngân Hàng Phát Triển Kỹ Nghệ cùng 3 vị Giám Ðốc trực thuộc, Chủ Tịch Phòng Thương Mại Sài Gòn, và nhiều công kỹ nghệ gia thuộc Phòng Thương Mại Sài Gòn. Phía quân đội được Thủ Tướng chỉ định đích danh 4 sĩ quan của ngành Tiếp Vận liên quan đến các dự án của chánh phủ, tham dự:
- Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, Cục Trưởng Cục Công Binh.
- Ðại Tá Nguyễn Hữu Bầu, Cục Trưởng Cục Quân Nhu.
- Ðại Tá Trần Văn Lễ, Cục Trưởng Cục Quân Tiếp Vụ.
- Và tôi, Ðại Tá Phạm Bá Hoa, Cục Trưởng Cục Mãi Dịch.
Một nửa phái đoàn sang Hawaii hội thảo với các nhà đầu tư Hoa Kỳ, rồi sang Singapore ráp vào một nửa kia đã có mặt tại đây, cùng nghiên cứu về phát triển chiều cao, phát triển kỹ nghệ chế biến, và xây dựng hải cảng dành cho tàu chở container.
Trước đó, một khóa hội thảo về đầu tư phát triển được tổ chức tại Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng kéo dài trong 3 tuần lễ, với sự tham dự đông đảo của công thương kỹ nghệ gia Việt Nam, và phái đoàn kỹ nghệ gia Hoa Kỳ. Tôi được Tổng Cục Tiếp Vận chỉ định tham dự hội thảo. Tóm tắt tổng quát các dự án đã trình bày, gồm:
- Dự án mở rộng Sài Gòn về phía Thủ Thiêm được xem như thủ đô chính trị.
- Biến vùng Rừng Sát ngập nước, lọt thỏm giữa Sài Gòn-Biên Hòa-Vũng Tàu, thành khu chế xuất lớn nhất Việt Nam mang dáng vấp khu kỹ nghệ Jurong Town của đảo quốc Singapore.
- Một phi trường quốc tế tọa lạc gần sông Ðồng Nai, cũng gần xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa. Phi trường Tân Sơn Nhất trở thành phi trường quốc tế thứ hai.
- Hầu hết những cơ sở cấp trung ương của quân đội chuyển lên hướng xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa, nhường chổ cho những dự án canh tân thủ đô.
Tất cả đều dự trù thực hiện trong khoảng 20 năm kể từ đầu thập niên 1980. Với những dự án này -trong một chừng mực nào đó- cho thấy chánh phủ vẫn tin tưởng vào Hiệp Ðịnh, dù rằng bị cộng sản vi phạm sau khi Hiệp Ðịnh có hiệu lực.
Sở dĩ tôi được tham dự khoá hội thảo này vì tôi trách nhiệm liên lạc với Bộ Kế Hoạch lúc đầu, về sau là Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa, để nghiên cứu phác thảo một quan niệm tổng quát về khả năng ngành Tiếp Vận có thể từng bước tiến đến tự lực về dụng cụ chiến tranh, căn cứ vào khả năng và tiềm năng quốc gia mà dầu hỏa được xem là nền tảng cho công cuộc phát triển đất nước. Công tác đang diễn tiến, thì lần lượt Phước Long rồi Ban Mê Thuột thất thủ, rút bỏ Cao Nguyên, rồi những cuộc lui binh hỗn loạn từ tuyến đầu Quảng Trị cho đến Cam Ranh, ..v..v.. thế là kết thúc.
Ngay trong năm 1973, trong phạm vi Tổng Cục Tiếp Vận, gồm 8 ngành chuyên môn: Quân Nhu, Quân Cụ, Quân Y, Quân Vận, Quân Tiếp Vụ, Công Binh, Truyền Tin, và Mãi Dịch quân đội, thực hiện chương trình cải tổ để thích nghi với viện trợ quân sự Hoa Kỳ sẽ giảm nhiều. Trọng tâm của chương trình cải tổ là giản lược hệ thống tổ chức về tồn trữ và sửa chữa quân dụng theo quan niệm tập trung, để giảm bớt số lượng tồn trữ bị trải mỏng theo quan niệm diện địa, vì số lượng dụng cụ chiến tranh không nhiều như trong thời chiến. Ðồng thời áp dụng khoa quản trị vào công tác quản trị toàn bộ dụng cụ chiến tranh bằng máy điện toán IBM 360/50, là loại máy có khả năng rất lớn so với quân đội của các quốc gia bạn trong vùng lúc bấy giờ, để giải quyết nhu cầu tiếp liệu, tồn trữ, vận chuyển, sửa chữa và tân trang, vừa chính xác vừa nhanh chóng. Tách hẳn kế toán với tồn trữ, quan niệm này có nghĩa là bộ phận giữ kho không hề biết trong kho có những món hàng nào, số lượng bao nhiêu, hay vị trí món hàng ở đâu. Trung Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận là cơ quan kế toán, và Trung Tâm Tiếp Liệu Lục Quân là cơ quan điều khiển.
Tổng Cục Tiếp Vận sử dụng danh từ "khách hàng" để chỉ các đơn vị Tiếp Vận tại 5 Vùng Tiếp Vận, được chỉ định liên lạc trực tiếp với Trung Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận ngang qua máy điện toán để xin tiếp liệu hay sửa chữa, nói chung là mọi nhu cầu về quản trị Tiếp Vận. Cũng xin giải thích thêm về 5 Vùng Tiếp Vận: Vùng 1 Tiếp Vận thuộc Quân Ðoàn I/Quân Khu I, Vùng 2 Tiếp Vận và Vùng 5 Tiếp Vận thuộc Quân Ðoàn II/Quân Khu II, vì lãnh thổ Vùng này trải dài theo ven biển và từ ven biển lên tận Cao Nguyên, Vùng 3 Tiếp Vận thuộc Quân Ðoàn III/Quân Khu III, và Vùng 4 Tiếp Vận thuộc Quân Ðoàn IV/Quân Khu IV.
Kế hoạch cải tổ đã thực hiện xong phần căn bản về tổ chức, nhưng về máy điện toán của các khách hàng chưa thực hiện xong, thì chế độ dân chủ tự do chúng ta sụp đổ.
3. Sức mạnh và quyền lực quốc gia.
Quốc Hội Lập Hiến bầu ra trong một tình hình an ninh được kiểm soát vào tháng 9 năm 1966. Hiến Pháp được ban hành ngày 1 tháng 4 năm 1967 trong buổi lễ trọng thể tại thềm đình dinh Ðộc Lập, dưới sự chủ tọa của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia. Lúc bấy giờ tôi phục vụ tại Cần Thơ, và có tham dự buổi lễ này. Ngày ban hành Hiến Pháp cũng là ngày khai sinh nền Ðệ Nhị Cộng Hòa.
Vào những tháng cuối năm 1967, theo qui định của Hiến Pháp, các cuộc bầu cử Hội Ðồng Nhân Dân Xã, Hội Ðồng Nhân Dân Tỉnh, Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Hạ Viện, Thượng Viện, được thực hiện đầy đủ. Riêng chức vụ Tỉnh Trưởng, theo Hiến Pháp cũng do dân bầu trực tiếp, nhưng Hiến Pháp cũng dự liệu điều khoản miễn áp dụng trong thời chiến tranh, nên Tỉnh Trưởng vẫn do chánh phủ bổ nhiệm.
Sau khi đắc cử, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống và Phó Tổng Thống vào ngày 31 tháng 10 năm 1967 tại thềm đình Hạ Viện.
Bây giờ thì quyền lực nằm trong tay hai vị Tổng Thống và Phó Tổng Thống do dân bầu. Quyền lực có rồi, nhưng cần có sức mạnh hỗ trợ cho quyền lực. Sức mạnh quốc gia với quyền lực lãnh đạo, luôn hỗ trợ nhau để tạo thế vững vàng cho vị lãnh đạo, nếu như vị lãnh đạo vận dụng được toàn bộ sức mạnh kết hợp một cách thích hợp với quyền lực.
Quyền lực quốc gia, không nhất thiết là do nhiều súng đạn, nhiều cảnh sát, cũng không phải là "con dấu" của Tổng Thống lớn hơn bất cứ con dấu nào trong hệ thống tổ chức chánh quyền, biểu tượng cho quyền lực của một Tổng Thống, mà sức mạnh của quyền lực quốc gia là do nhiều hợp phần quốc gia tạo nên: (viết theo ký ức dựa theo tài liệu Khoa Quản Trị của Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng năm 1973)
Một là, diện tích và địa lý.
Diện tích quốc gia càng rộng càng có chổ cho đông dân cư trú, và diện tích càng rộng càng có triển vọng nhiều tài nguyên, mà nhiều tài nguyên càng có cơ hội làm cho dân giàu nước mạnh. Vị trí địa lý rất là quan trọng, nếu như biên giới được bao quanh bởi chướng ngại thiên nhiên hiểm trở như núi non hay biển cả đối với quân ngoại xâm, thì quốc gia càng có nhiều thuận lợi trong mục đích phòng thủ trước kẻ thù. Nhưng diện tích rộng, tự nó cũng chưa phải là một hợp phần của sức mạnh như trường hợp Mông Cổ với 1 triệu 500 ngàn cây số vuông, hay Brazil ở Nam Mỹ với 8 triệu 500 ngàn cây số vuông chẳng hạn, hai quốc gia này vẫn trong tình trạng quốc gia nghèo mà nghèo thì đâu thể mạnh được . Về vị trí địa lý cũng thế, một nhóm quần đảo ở biển khơi như Nhật Bản vẫn bị thua trận trong đệ nhị thế chiến 1939-1945 cho dù sự thua trận này là do 2 quả bom nguyên tử như là giọt nước mạnh làm tràn ly nước.
Vào những năm 50, 60, và đầu những năm 70, đất nước Việt Nam bị chia đôi bởi Hiệp Ðịnh Ðình Chiến do cộng sản Nga, cộng sản Trung Hoa, cộng sản Việt Nam, và nước Pháp thực dân ký hồi tháng 7 năm 1954. Theo đó, từ vĩ tuyến 17 trở lên Bắc là Việt Nam Dân Chủ cộng Hòa dưới chế độ cộng sản độc tài, từ vĩ tuyến 17 trở xuống Nam là Việt Nam Cộng Hòa chúng ta trong chế độ dân chủ tự do. Như vậy, lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, tạm thời cứ xem như một nửa diện tích phía Nam. Ðối với một địch quân cùng chủng tộc trong chiến tranh ý thức hệ giữa cộng sản độc tài với dân chủ tự do, vì vậy mà lằn ranh vĩ tuyến 17 rất yếu cho công tác phòng thủ mặt Bắc. Với lại sườn phía Tây bị hở bởi Cam-Bốt và Lào, tuy hai quốc gia này tuyên bố trung lập nhưng thật sự bị cộng sản Việt Nam khống chế, nên lợi thế về phía địch quân của chúng ta. Nói chung về diện tích, địa lý, và chủng tộc, Việt Nam Cộng Hòa chúng ta không thuận lợi.
Mở ngoặc. Nhưng Việt Nam chúng ta ngày nay (2004), với diện tích chung vào khoảng 331.000 cây số vuông. Lãnh thổ có dạng hình thể đặc biệt theo chiều Nam Bắc mà hai đầu phình ra và thắt lại ở giữa, rất dễ bị cắt đôi bởi quân ngoại xâm. Nhưng bù lại, lãnh thổ được che chắn sườn phía Ðông bởi duyên hải Biển Ðông xuống đến Vịnh Thái Lan dài 2.200 cây số, sườn phía Tây tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ. Mặt yếu nhất là biên giới phía Bắc giáp với Trung Hoa, mà Trung Hoa từ thời phong kiến xa xưa đến thời cộng sản hiện nay, lúc nào cũng ôm tham vọng chiếm hầu hết các quốc gia trong khu vực Ðông Nam Á, mà Việt Nam chúng ta là quốc gia tuyến đầu trên đường xâm lăng của chúng. Xin chứng minh một số hành động thể hiện tham vọng của Trung Hoa cộng sản đối với Việt Nam chúng ta:
- Tháng 1 năm 1974, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, ngoài khơi Ðà Nẳng.
- Tháng 2 năm 1979, xua 230 ngàn quân đánh chiếm dọc biên giới phía Bắc. Một tháng sau đó tuyên bố rút quân nhưng vẫn chiếm đóng hơn 70 vị trí trọng yếu.
- Từ năm 1983 đến tháng 7 năm 1992, với chính sách "xâm lăng gậm nhấm" lần lượt chiếm 8 đảo thuộc quần đảo Trường Sa, ngoài khơi Ðông Nam Vũng Tàu.
- Cuối năm 1999 và cuối năm 2000, cộng sản Trung Hoa "gậm" hơn 700 cây số vuông dọc biên giới phía Bắc, và hơn 11 ngàn cây số vuông trên vịnh Bắc Việt.
Trong tình hình hiện nay (2004) và những thập niên trước mắt, vị trí địa lý trong hợp phần này không thuận lợi về mặt Bắc và mặt Ðông đối với địch quân từ phương Bắc. Ðóng ngoặc.
Hai là, dân số và văn hóa.
Dân số càng đông quốc gia càng có nhiều nhân lực cho nền kinh tế, và trong trường hợp chiến tranh sẽ có nhân lực cho nhu cầu quốc phòng. Dân số đông, có khả năng cung cấp một đội ngũ trí thức đông đảo với một đội ngũ chuyên viên thông thạo cho mọi ngành sinh hoạt quốc gia, bởi một hế thống giáo dục hữu hiệu, kể cả một quân đội hùng mạnh về vật chất và được trang bị một truyền thống hào hùng của dân tộc để bảo vệ tổ quốc. Nhưng dân số đông, tự nó cũng chưa phải là một hợp phần của sức mạnh để tạo nên quyền lực, như Ấn Ðộ với dân số gần 1.000 triệu người, hay Nam Dương hơn 200.000.000 người chẳng hạn. Với lại dân số đông mà trình độ dân trí thấp kém, trở thành gánh nặng cho lãnh đạo chớ không phải góp phần cho sức mạnh quốc gia.
Việt Nam Cộng Hòa chúng ta từ năm 1954 đến đầu năm 1975, với dân số xấp xỉ 20 triệu (không tính dân số miền Bắc), với trình độ dân trí ở mức trung bình. Ðội ngũ trí thức và chuyên viên các ngành tuy khá đông đảo nhưng chưa đủ, và cần nhiều thời gian đào tạo, nhưng cái khó là chiến tranh do cộng sản gây ra ngày càng gia tăng mức độ lẫn cường độ, nên trong một chừng mực nào đó, ưu tiên về nhân lực vẫn phải dành cho nhu cầu quốc phòng. Chúng ta thực hiện một nền giáo dục khai phóng và nhân bản, tuy chưa phải là hoàn chỉnh nhưng rõ ràng là đã và đang đào tạo cho xã hội những thế hệ hữu ích qua sự kết hợp hài hòa giữa văn hoá dân tộc với khoa học kỹ thuật. Nhưng điều không thể tránh khỏi là tuổi trẻ ít nhiều chịu ảnh hưởng một số sự kiện không hoàn toàn thích hợp bởi sự tham gia chiến đấu của các quốc gia đồng minh trên lãnh thổ Việt Nam.
Mở ngoặc. Nước Việt Nam chúng ta khởi đi từ một xã hội nông nghiệp, và đến năm 2004 vẫn là xã hội nông nghiệp, đang vào bước đầu chuyển sang xã hội kỹ nghệ nhưng lãnh đạo cộng sản Việt Nam rất ngập ngừng vì sợ mất quyền lãnh đạo khi xã hội Việt Nam được gọi là xã hội kỹ nghệ. Do vậy mà sau gần 30 năm dưới quyền cai trị của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, đất nước vẫn trong tình trạng chậm tiến, so với những quốc gia chậm tiến khác trong vùng Ðông Nam Á và Ðông Bắc Á. Dân số hơn 80.000.000 người tính đến tháng 7 năm 2003, với tỷ lệ gia tăng hằng năm trên dưới 1.5% là khá cao so với nhiều quốc gia trên thế giới.
Tính ôn hòa và lòng nhân ái, là nét đặc thù của nền văn hoá mà các tôn giáo đã góp phần hình thành. Nhưng từ khi đất nước chia đôi thành hai quốc gia (năm 1954), chế độ cộng sản độc tài miền Bắc đã du nhập văn hoá cộng sản quốc tế vào hủy hoại văn hoá cổ truyền dân tộc, làm đảo lộn nền nếp kỹ cương xã hội miền Bắc để tạo sức mạnh bằng vũ lực chớ không phải bằng giá trị văn hoá của dân tộc. Và từ khi thành lập nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1975 đến nay (2004), lãnh đạo cộng sản Việt Nam cai trị bằng chính sách độc tài đảng trị trên toàn cõi Việt Nam, thì toàn xã hội Việt Nam bị đảo lộn luân thường đạo lý, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa đã dẫn mọi người trong xã hội sống với nhau bằng những lọc lừa dối trá, những nghi kỵ hiềm khích, và phân hoá từ trong những cộng đồng nhỏ đến những cộng đồng lớn của dân tộc để nhà cầm quyền dễ bề khống chế mà cai trị.
Hiện nay (2004), hợp phần này chỉ có giá trị về dân số, trong khi văn hoá truyền thống đã và đang bị hủy hoại gần như hoàn toàn. Thời hậu cộng sản, ước tính ít nhất phải vài ba thế hệ mới khôi phục lại được. Ðóng ngoặc.
Ba là, hợp phần kinh tế.
Một dân tộc giàu có trong một quốc gia hùng mạnh, có nghĩa là quốc gia đó có một nền giáo dục hữu hiệu, phương thức tổ chức và quản trị hữu hiệu dẫn đến một nền kinh tế phát triển vững chắc về khai thác, sản xuất, kinh doanh, thương mãi, kỹ nghệ, và dịch vụ. Một quốc gia phồn thịnh bởi tài nguyên thiên nhiên phong phú và khai thác sử dụng đúng mức, sẽ là quốc gia có khả năng độc lập về kinh tế, và khi độc lập kinh tế thì không chịu ảnh hưởng chính trị của ngoại quốc, hoặc nếu có thì ảnh hưởng đó không đến mức quan ngại. Một quốc gia như vậy, tiếng nói rất có trọng lượng trong bang giao quốc tế. Trên các phương tiện truyền thông, thỉnh thoảng có câu với ít nhiều châm biếm, nhưng rất thật. Ðó là "nhà ngoại giao của nước giàu khi phát biểu rất được sự chú ý của các nhà ngoại giao nước nghèo, dù nước nghèo đó có đông dân hay diện tích rộng, vì biết đâu sẽ được sự trợ giúp của họ". Nhưng một quốc gia nhiều tài nguyên thiên nhiên, tự nó cũng chưa phải là một hợp phần của sức mạnh như các quốc gia dầu mỏ ở Trung Ðông chẳng hạn. Ngược lại như Nhật Bản và Singapore, là hai trong số những quốc gia chẳng có tài nguyên thiên nhiên nhưng nền kinh tế của họ phát triển rất mạnh.
Nhìn lại Việt Nam Cộng Hòa trong thời kỳ chiến tranh bảo vệ tổ quốc 1954 -1975, chúng ta có khả năng nông nghiệp rất lớn, trong khi xây dựng nền móng cho xã hội kỹ nghệ. Mặt khác, tiềm năng về các loại khoáng sản được đánh giá là rất có triển vọng lớn lao, đặc biệt là trữ lượng dầu hỏa dọc theo thềm lục địa Việt Nam từ ngoài khơi Quảng Ngãi trải dài xuống đến Côn Sơn mà Cơ Quan Viễn Á Kinh Ủy Hội của Liên Hiệp Quốc giúp đỡ thăm dò từ năm 1964, cho phép đánh giá tổng quát như vậy. Nhưng tất cả từ khả năng đến tiềm năng kinh tế các ngành trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, đều chưa thể khai thác cũng như tìm kiếm khai thác vì tình trạng chiến tranh ý thức hệ do lãnh đạo cộng sản Việt Nam, cánh tay nối dài của cộng sản quốc tế gây ra, đã giới hạn tối đa.
Mở ngoặc. Từ năm 1975 đến năm 1986, với chính sách cai trị rập khuôn theo các xã hội xã hội chủ nghĩa của cộng sản quốc tế, lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã đẩy dân tộc xuống mức nghèo khổ ngang bằng với các quốc gia nghèo khổ trên thế giới. Trước sự sụp đổ của Liên Xô, quốc gia lãnh đạo khối cộng sản quốc tế, và nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đang bên bờ vực thẳm của sụp đổ, lãnh đạo cộng sản Việt Nam đưa ra chính sách "mở cửa đổi mới" vào cuối năm 1986. Từ đó, nhiều quốc gia mà đa số là các quốc gia trong vùng Á Châu, đầu tư vào Việt Nam. Nhờ vậy mà sức sống của dân tộc được vực dậy với nền kinh tế mà họ gọi là "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Bước tiến chậm chạp này trong gần 20 năm qua, chỉ mới giúp cho bộ mặt Việt Nam sáng sủa hơn cái thời "tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội" thôi, chớ chưa thể gọi đó là sức phát triển của ngần ấy thời gian trong hòa bình của một đất nước có nhiều khả năng và tiềm năng như đất nước Việt Nam. Ðóng ngoặc.
Bốn là, hợp phần chính trị.
Một nền chính trị ổn định, luôn luôn là nền tảng cho công cuộc phát ttriển quốc gia. Chính trị là thế, và kinh tế là lực. Thế có vững thì Lực mới thuận lợi phát triển. Lực có mạnh thì Thế mới phát huy được vị trí của mình trong bang giao quốc tế. Kinh tế với chính trị quyện vào nhau, hỗ trợ nhau, và thúc đẩy xã hội phát triển trong thế cân bằng. Nền chính trị ổn định, được hiểu là từ tổ chức đảng chính trị, thực lực của những đảng đó, phương thức sinh hoạt trong nội bộ đảng cũng như sinh hoạt của các đảng chính trị trong sinh hoạt xã hội, thúc đẩy được sự cân bằng giữa quyền lực của lãnh đạo với quyền lợi của nhân dân, giữa quyền lợi của quốc gia với quyền lợi của quốc tế’.
Nhưng những quốc gia có nền chính trị ổn định lâu dài, tự nó cũng chưa đủ tạo nên quyền lực như Cam Bốt, Lào, hay Nam Dương chẳng hạn, và các quốc gia này đã có sự phát triển nào đáng kể đâu.
Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, với nền chính trị non trẻ thậm chí là rất trẻ vì mới hình thành từ năm 1954. Từ đó, bản Hiến Pháp đầu tiên ra đời, lần lượt một cơ chế dân cử từ hạ tầng cơ sở lên đến thượng tầng kiến trúc với những cơ cấu phân quyền giữa Lập Pháp, Hành Pháp, với Tư Pháp đầu tiên cũng ra đời. Cũng từ đó, phương thức tổ chức và quản trị xã hội, dần dần được áp dụng trong điều hành hệ thống hành chánh quốc gia. Tuy chưa phải là hoàn chỉnh, nhưng rõ ràng là Việt Nam Cộng Hòa có một hệ thống tổ chức và điều hành về các ngành sinh hoạt quốc gia khá vững vàng, kể cả trong lãnh vực an ninh quốc phòng.
Bên cạnh đó là cái ưu thế về sự hỗ trợ các mặt của Hoa Kỳ giúp lãnh đạo chúng ta phát huy có mức độ về vai trò lãnh đạo, đồng thời cũng là những hạn chế từ phía Hoa Kỳ đã giới hạn quyền lãnh đạo của vị nguyên thủ quốc gia chúng ta. Nhưng đây lại là điểm then chốt, là thách thức đối với nhà lãnh đạo Việt Nam về bản lãnh chính trị. Bởi, chịu ảnh hưởng của Hoa Kỳ là điều không tránh khỏi, vì không riêng Hoa Kỳ mà bất cứ quốc gia nào giúp chúng ta hay giúp một quốc gia nào khác, họ cũng phải đạt được quyền lợi của họ cho dẫu quyền lợi về tinh thần hay quyền lợi về vật chất, hoặc cả hai thứ đó. Bởi, trong bang giao quốc tế, không có vấn đề tình cảm cá nhân mà chỉ có quyền lợi quốc gia của mỗi nước. Do vậy mà vị lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, phải vận dụng mọi góc cạnh trong bản lãnh chính trị của một dân tộc tôn trọng truyền thống văn hoá Á Châu nói chung, và truyền thống văn hóa Việt Nam nói riêng, để khai thác được những lợi ích cho quốc gia, và đó cũng là cách góp phần tạo nên quyền lực quốc gia mà vị lãnh đạo sử dụng trong trách nhiệm phục vụ nguyện vọng người dân.
Mở ngoặc. Với nhóm lãnh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, họ rập khuôn của cộng sản Liên Xô cộng sản Trung Hoa đến tận cùng ngóc ngách trong tổ chức và quản trị xã hội từ năm 1954 trên đất Bắc, và từ giữa năm 1975 trên toàn cõi Việt Nam. Họ vẽ nên bản Hiến Pháp cho phép họ độc đảng trong lãnh đạo nên không cho dân bầu, độc tài trong cai trị nên không ai được quyền phát biểu quan điểm, độc quyền trong xét xử nên không ai được tranh cãi điều sai điều đúng, và độc ác trong giáo dục để tạo nên những thế hệ thần dân để chỉ biết vâng lời đảng vâng lời nhà nước. Nói chung, mọi người dân trong xã hội xã hội chủ nghĩa, không được hành sử những quyền căn bản của con người mà Liên Hiệp Quốc công nhận, thế giới văn minh công nhận, và Hiến Pháp của họ cũng công nhận. Nhưng có điều khôg giống với thế giới văn minh là những gì ghi trong Hiến Pháp, có hai phần khác nhau: Những gì thể hiện độc tài thì họ áp dụng đúng mức, còn những gì thuộc về dân chủ tự do thì họ chỉ dùng để lừa dối đồng bào, lừa dối thế giới văn minh. Vì vậy mà dưới chế độc cộng sản độc tài hiện nay (2004) trên quê hương Việt Nam, chỉ có giá trị tạo nên thứ quyền lực bạo lực, quyền lực trên đầu súng, dẫn đến quyền lực nhà tù, chớ không có quyền lực chính trị theo đúng nghĩa của nó. Ðóng ngoặc.
Và năm là, hợp phần quân sự.
Một quốc gia có một quân đội đông người, tổ chức thích gợp với nhu cầu quốc phòng, trang bị thích hợp với khả năng quốc gia kết hợp với kỹ thuật quân sự thế giới, quân đội được rèn luyện như một quân đội nhà nghề, có khả năng bảo vệ tổ quốc, và góp phần quan trọng vào công cuộc ổn định chính trị và hậu thuẫn cho phát triển kinh tế.
Cụ thể như cộng sản Trung Hoa với một quân đội hơn 4.000.000 người, chưa kể đến hằng chục triệu Dân Quân võ trang, họ thường xuyên chứng tỏ ưu thế quân sự trên mặt biển qua các cuộc hành quân tập trận trên Biển Ðông mà họ gọi là Nam Hải, để uy hiếp các quốc gia trong vùng trong việc tranh chấp quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hoặc như Ấn Ðộ với hơn 1.000.000 người, đã duy trì sức mạnh của họ một cách hiệu quả trong khu vực tranh chấp thường xuyên với Pakistan.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với hơn 1.000.000 quân, từ tổ chức, trang bị, đến huấn luyện, và phương thức quản trị theo quan niệm của Hoa Kỳ từ thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, cái thời mà nhà lãnh đạo Việt Nam có tinh thần dân tộc rất cao, và đã thẳng thắn chống lại Hoa Kỳ khi Hoa Kỳ muốn thiết lập căn cứ quân sự của họ trên đất Việt Nam. Với tổ chức và trang bí đó, quân lực đủ khả năng chống lại cuộc chiến tranh xâm lăng của quân cộng sản từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phương Bắc, nhưng lại bị đồng minh Hoa Kỳ trói tay trói chân về chính trị lẫn quân sự vì quyền lợi của quốc gia Hoa Kỳ. Nói cách khác, chúng ta có khả năng bảo vệ tổ quốc nhưng cần chiến cụ của Hoa Kỳ, đó là điều vô cùng khó khăn cho vị lãnh đạo của chúng ta.
Mở ngoặc. Quân đội nhân dân của lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng đông đến hằng triệu quân, do khối cộng sản quốc tế trang bị chiến cụ, và nuôi ăn trong cuộc chiến xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, vì cộng sản Việt Nam thực hiện cánh tay nối dài của cộng sản quốc tế. Quân đội của họ bị kềm kẹp bởi hệ thống tổ chức đảng trong hệ thống dọc của quân đội, nhưng lãnh đạo của họ thành công là do hệ thống tuyên truyền lúc nào cũng đổ vào đầu của họ toàn những dối trá, trong khi không một thông tin nào từ bên ngoài lọt vào trong quốc gia đóng cửa rút cầu với thế giới văn minh, nên họ cứ tưởng như họ là những anh hùng trong một thế giới tối tăm mờ mịt!
Mai đây, nếu có một cuộc chiến tranh xâm lăng từ bên ngoài, rất có thể người lính trong quân đội nhân dân của lãnh đạo cộng sản Việt Nam vẫn còn tinh thần chiến đấu, nhưng nếu một cuộc nội chiến xảy ra do nhân dân vùng dậy lật đổ chế độ độc tài, để tạo cơ hội huy động toàn bộ nhân lực vật lực và tài lực vào công cuộc phát triển quốc gia, không chắc người lính trong quân đội nhân dân sẳn sàng tham chiến. Chẳng những thế, những người lính đó rất có thể đứng về phía nhân dân chống lại nhóm lãnh đạo độc tài tàn bạo của họ nữa. Ðóng ngoặc.
Với hợp phần quân sự này, trong quá khứ chúng ta đã rõ. Trong hiện tại và trước mắt, chứa đựng nhiều bất trắc cho nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Dĩ nhiên là có phần thuận lợi cho các thành phần dân tộc, quan tâm và dấn thân vào bổn phận công dân.
Nhìn chung. Với các hợp phần trên đây, vấn đề là khả năng, bản lãnh, và uy tín của vị lãnh đạo quốc gia là hết sức quan trọng, vì phải biết vận dụng tất cả thế mạnh lẫn thế yếu để tạo thành quyền lực quốc gia trong bối cảnh quốc tế với thực trạng quốc gia theo từng thời kỳ. Vị lãnh đạo cần xây dựng một chiến lược dài hạn, những chính sách trung hạn ngắn hạn thích ứng, và thực hiện mục tiêu phát triển quốc gia trên nền tảng nguyện vọng toàn dân lồng trong bối cảnh một thế giới phát triển toàn bộ.
4. Viện trợ quân sự.
Tháng 3 năm 1973, Hiệp Ðịnh Paris Ngưng Bắn Và Tái Lập Hòa Bình có hiệu lực, nhưng ngay sau đó quân cộng sản mở cuộc bao vây tấn công vào đồn Tống Lê Chân trong phạm vi Quân Ðoàn III do Biệt Ðộng Quân trú đóng. Lần lượt nhiều đơn vị khác cũng bị chúng tấn công. Ðó là sự vi phạm Hiệp Ðịnh một cách trắng trợn mà Ban Quân Sự Liên Hợp 4 bên do Hiệp Ðịnh Paris qui định cũng không giải quyết được gì cả. Trong một tình hình ngưng bắn nhưng thật sự thì chiến tranh vẫn còn nguyên đó, súng vẫn nổ, người vẫn thương vong, nhưng mức độ viện trợ quân sự đã giảm nhiều. Từ 1.062.000.000 (1 tỷ lẻ 62 triệu) mỹ kim năm tài chánh 1972-1973 xuống còn 700 triệu cho năm tài chánh 1974-1975. Cũng trong năm tài chánh này, lần đầu tiên Cơ Quan Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ (gọi tắt theo tiếng Mỹ là D.A.O.) cho biết ngân khoản viện trợ trong một năm, và là lần đầu tiên cũng là lần duy nhất, cơ quan DAO yêu cầu Tổng Cục Tiếp Vận cho biết quan niệm sử dụng cùng với một kế hoạch chi tiết sử dụng số tiền viện trợ đó.
Trước khi đi sâu vào kế hoạch sử dụng 700 triệu mỹ kim viện trợ, tôi xin lướt qua đôi nét về thủ tục viện trợ quân sự để quí vị quí bạn có khái niệm về "đồng đô la viện trợ quân sự" của Hoa Kỳ như thế nào. Cũng xin trình bày rõ thêm, đây không phải là viết theo tài liệu của Hoa Kỳ hay của Việt Nam, mà là tôi căn cứ vào những buổi họp tham mưu của toàn ngành Tiếp Vận mà đúc kết vào đây.
Từ khi Hoa Kỳ viện trợ quân sự trực tiếp cho Việt Nam Cộng Hòa chúng ta (1966-1967) đến cuối tài khóa 1973-1974, họ không cho chúng ta biết trước là họ viện trợ cho chúng ta bao nhiêu trong một tài khóa, mà họ căn cứ theo nhu cầu của chúng ta đưa sang và họ xét thấy phù hợp với chính sách của họ là họ cấp, dĩ nhiên là phải thông qua các buổi họp tham mưu chuyên môn giữa Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với Bộ Tệnh Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam. Quân lực Việt Nam nhận viện trợ quân sự trực tiếp từ quân đội Hoa Kỳ chớ không bị ràng buộc bởi đạo luật năm 1961 về viện trợ quân sự ngoại quốc (theo chế độ MDAP), nghĩa là không theo hệ thống Bộ Tổng Tham Mưu lên Bộ Quốc Phòng, rồi sang Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa. Từ Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa chuyển sang Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, lần lượt đến Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, sau đó mới đến Quân chủng liên hệ của Hoa Kỳ. Tôi nói nhận viện trợ trực tiếp (theo chế độ MASF, dịch sang Việt ngữ là Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự), có nghĩa là mỗi quân chủng Hải Lục Không Quân của Việt Nam Cộng Hòa, liên hệ trực tiếp với các quân chủng Hải Lục Không Quân của Hoa Kỳ, ngang qua các cố vấn tại các quân chủng để đưa yêu cầu viện trợ. Trong trường hợp này, Bộ Tổng Tham Mưu theo dõi chặt chẻ mọi diễn tiến, nhưng Bộ Quốc Phòng thì không nắm vững như vậy.
Bây giờ là công tác tham mưu soạn thảo kế hoạch sử dụng 700 triệu mỹ kim viện trợ quân sự tài khóa 1974-1975. Căn cứ trên quan niệm của Phòng 3/Tổng Tham Mưu, quan niệm của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, là muốn duy trì một khả năng phòng thủ trong phạm vi khả năng giới hạn, cần:
- Phải có vũ khí, gồm cả phi cơ với chiến hạm, bom đạn và chất nổ.
- Phải di động nhanh, tức là nói đến phương tiện vận chuyển đường bộ, đường thủy, và hàng không, cùng với các loại nhiên liệu thích hợp.
- Phải duy trì tốt hệ thống chỉ huy liên lạc, tức là máy móc truyền tin vô tuyến lẫn hữu tuyến, diện địa lẫn chiến thuật.
- Và phải điều trị đúng mức cho thương bệnh binh, vì sau mỗi trận chiến thể nào cũng có tổn thất nhân mạng, cho nên chi tiêu cho các quân y viện cũng là nhu cầu thiết yếu.
Quan niệm cũng dứt khoát, không mua thêm bất cứ loại quân dụng chiến tranh nào, mà đặt trọng tâm vào kế hoạch săn nhặt cơ phận từ các quân dụng phế thải cùng chủng loại để tân trang sử dụng.
Từ quan niệm căn bản đó, bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận phối hợp với các Cục, soạn thảo kế hoạch như thế này:
Với nhu cầu thứ nhất là vũ khí thì không cần mua thêm bất cứ loại nào, cần sử dụng tân trang trong số 2 triệu khẩu súng các loại hiện có. Về bom đạn và chất nổ, bảng thống kê trong 3 năm trước đó do Sở Ðạn Dược của Cục Quân Cụ thiết lập, đã cung cấp một loạt thông tin về mức tiêu thụ trung bình của từng loại vũ khí, từng loại đạn nổ, đạn chiếu sáng, đạn khói, ..v..v.., từng loại bom, và từng loại chất nổ. Nhóm công tác tham mưu của Tổng Cục Tiếp Vận sử dụng những thông tin đó làm căn bản ước tính nhu cầu năm 1974-1975 theo tình hình chiến sự do Phòng Nhì và Phòng Ba/Tổng Tham Mưu ước tính. Xin nhớ rằng trong năm 1971 đến 1973, chiến sự dữ dội nhất là năm 1972, và mức tiêu thụ các loại quân dụng chiến tranh rất cao, với ngân khoản viện trợ quân sự năm đó lên đến 1.062.000.000 mỹ kim, và con số này là cao nhất trong suốt 20 năm Hoa Kỳ viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa. Khi chiết tính nhu cầu đạn dược, các sĩ quan tham mưu ngành Tiếp Vận đã phải tính riêng cho loại đạn bắn thẳng như súng trường, súng M16, súng trung liên, đại liên, đến các loại đạn bắn vòng cầu của súng cối, súng đại bác 105 ly, 155 ly, 175 ly, hỏa tiển chống chiến xa, ..v..v... Và rồi mỗi loại phải tính đến đạn chiếu sáng, đạn xuyên phá, đạn khói.
Tóm lại là phải tính đến từng chi tiết để mua đúng loại bom đạn thật sự cần thiết, đúng chủng loại vũ khí, đúng số lượng ước tính, và thích hợp với số tiền viện trợ. Ðó cũng là phương châm của ngành Tiếp Vận: "Ðúng lúc, đúng mức, và đúng chổ". Không có gì cao siêu trong cách tính này cả, vì nó tương tự những bà nội trợ trước khi đi chợ phải ước tính xem nấu những thức ăn gì, để từ đó mới tính ra là mua những cá những tôm những hành những tỏi, mỗi thứ bao nhiêu để nấu đúng món và đủ cho số khẩu phần trong gia đình thích ứng với hoàn cảnh mới về "kinh tế" của gia đình. Tiếp Vận để duy trì cho một triệu quân nhân từ đỉnh đầu xuống đến gót chân, từ dạ dày đến thương tích hay bệnh hoạn, hy sinh hay từ trần, từ khẩu súng viên đạn, đến vận chuyển hay liên lạc, ..v..v.., trong một góc độ nào đó, tương tự như bà nội trợ bảo vệ hạnh phúc gia đình, dĩ nhiên là mức độ phức tạp khác nhau.
Áp dụng cách tính như vậy cho nhu cầu duy trì khả năng di động với phương tiện của Lục Quân, là xe vận tải từ 2.5 tấn trở lên, phương tiện của Hải Quân là Giang Vận Ðỉnh và Hải Vận Hạm, phương tiện của Không Quân là phi cơ vận tải C47, C130, ..v..v... Chỉ riêng nhu cầu các loại nhiên liệu cho Hải Lục Không Quân đã ngốn hết 80 triệu mỹ kim rồi, nhưng mức chi tiêu này chỉ mới bằng 2/3 chi phí nhiên liệu của tài khoá 1973-1974 thôi.
Ðối với nhu cầu cơ phận sửa chữa các loại máy truyền tin trong hệ thống liên lạc diện địa cũng như hệ thống liên lạc chiến thuật, cũng theo cách tính trên. Nghĩa là loại nào cần thiết cho hai nhu cầu trên mới đưa vào kế hoạch sử dụng ngân khoản đó.
Cơ quan D.A.O. cũng thông báo chánh thức cho Tổng Cục Tiếp Vận biết rằng, chế độ viện trợ quân sự theo "Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự" (MASF) sẽ chấm dứt vào cuối tài khóa 1974-1975, sau đó chuyển sang chế độ "Chương Trình Viện Trợ Quân Sự" (MDAP). Họ thông báo để Tổng Cục Tiếp Vận chuẩn bị cho kịp thời gian, vì hệ thống viện trợ này phải theo hệ thống vòng vo cần nhiều thời gian cho hành trình giấy tờ thủ tục, kèm theo một danh sách dài thật dài, ghi rõ từng loại quân dụng với từng số lượng đang sử dụng, tiếp đó là những danh sách cơ phận cần thực hiện cho từng loại quân dụng. Họ chấp nhận món quân dụng nào trong danh mục của Tiếp Vận quản trị, họ mới viện trợ "một đổi một" cũng như cơ phận thay thế nó.
Cũng nên nói thêm về sự kiện vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có xin thêm ngân khoản 300 triệu mỹ kim nhưng Quốc Hội Hoa Kỳ không chấp thuận, và có dư luận cho rằng vì không có 300 triệu đó mà chúng ta thua trận! Tôi không rõ việc đó có đúng hay không, nhưng có điều tôi biết là đến tháng 4/1975 thì tài khoá 1974-1975 vẫn còn giá trị. Ðiều đó có nghĩa là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn nhận viện trợ theo chế độ "Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự", tức là ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ vẫn viện trợ trực tiếp cho chúng ta nếu họ muốn. Khi Hành Pháp chuyển sang Lập Pháp, nếu chưa có đạo luật hay nguyên tắc nào khác thay đổi sự điều hành "Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự" trong hoàn cảnh bất thường đối với Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, tôi nghĩ, đó là cách "giã từ" của Hành Pháp Hoa Kỳ, chớ không phải Hành Pháp không có thẩm quyền viện trợ. Nhắc lại để có thêm chút chuyện xưa thôi, chớ "khi muốn" thì cách nào cũng được, còn "khi không muốn" thì cách nào cũng xong. Chuyện đời thường đã thế, chuyện chính trị thường khi cũng thế, chỉ đôi khi chẳng thế! Ngôn ngữ chính trị là thế!
Chẳng hạn như chương trình "Việt Nam Hóa Chiến Tranh" vậy thôi. Khi mắt xích tại Việt Nam chưa thực hiện được thì chiến lược Domino của Hoa Kỳ trong mục tiêu ngăn chận sự bành trướng của cộng sản quốc tế xuống khu vực Ðông Nam Á Châu xem như chưa hoàn chỉnh. Thế rồi cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 giết chết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, không biết có phải vì Tổng Thống từ chối ý định của Hoa Kỳ thiết lập những căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hay không, đến cuộc chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964, dẫn đến Thông Ðiệp của Trung Tướng Nguyễn Khánh với tư cách Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, yêu cầu các quốc gia đồng minh giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa chống quân cộng sản, mà thật ra Thông Ðiệp đó chẳng khác chiếc chìa khóa dành riêng cho Hoa Kỳ mở cửa Việt Nam thôi. Từ đó, quân bộ chiến Hoa Kỳ lần lượt thiết lập các căn cứ Chu Lai, Cam Ranh, Plei Ku, An Khê, Ðồng Tâm (Mỹ Tho), ..v..v.. cùng chúng ta chiến đấu chống quân cộng sản từ miền Bắc len lỏi xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Ðến khi chính trị nội bộ Hoa Kỳ có những biến chuyển không thuận lợi cho chánh phủ liên bang, vì quân đội đã can dự sâu vào cuộc chiến tranh chống cộng sản trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, lúc bấy giờ Hoa Kỳ cho rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã đủ mạnh để đương đầu với quân cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa miền Bắc, thế là Hoa Kỳ thực hiện chương trình rút quân có tên gọi là "Việt Nam Hóa Chiến Tranh". Ðích thực của Việt Nam Hóa Chiến Tranh là gì? Ðơn giản mà nói, chẳng qua là Hoa Kỳ triệt thoái quân đội về nước mà Hoa Kỳ đã thu được trong thỏa hiệp ngưng bắn Paris tháng 1 năm 1973 là cái màn che chắn danh dự cho Hoa Kỳ rút quân về nước. Còn thật sự cái Hiệp Ðịnh đó có phải là danh dự cho cuộc triệt thoái quân đội Hoa Kỳ về nước hay không, lại là chuyện khác!
Khi rút quân, Hoa Kỳ để lại cho quân đội chúng ta một khối lượng dụng cụ chiến tranh gồm đại bác 175 ly nòng dài, đại bác phòng không, xe tăng M48, các loại giang tốc đỉnh sử dụng tuần duyên tuần giang, phi cơ vận tải C130, ..v..v.., là những loại thuộc vào hàng cũ kỹ kể cả số lượng nằm hư hỏng -đáng kể là phi cơ các loại- trong các cơ xưỡng chờ sửa chữa, mà nếu chuyển vận trở về Hoa Kỳ không chừng phải tốn một ngân khoản tương đương với trị giá khối dụng cụ này nữa đó.
Báo chí của những đồng minh chúng ta, đã thật tàn nhẫn khi nói Việt Nam Hóa Chiến Tranh chẳng qua là "thay đổi màu da trên xác chết!" Chừng như bạn chúng ta cho là Người Lính Việt Nam Cộng Hòa chúng ta chưa bao giờ chết trận, cho mãi đến khi quân đội Hoa Kỳ về nước chúng ta mới bắt đầu chết trận vậy!
Bài học cho chúng ta, tôi nghĩ: đồng minh là đồng minh, nhưng quyền lợi quốc gia vẫn là trên hết. Vì vậy mà những vị lãnh đạo các cấp từ lập pháp, hành pháp đến quân đội, hành sử chức năng của mình phải xuất phát từ tư tưởng quyền lợi quốc gia Việt Nam hài hòa với văn hoá Việt Nam./.