Ngày 10 tháng 10 năm 1972, trong một cuộc hành quân tại Quảng Trị, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã khám phá một hầm bí mật và tịch thu một bản thảo của hiệp định chấm dứt chiến tranh và vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, cùng các kế hoạch của Bắc Việt nhằm dành
dân lấn đất của Việt Nam Cộng Hòa. Đô đốc Sharp, nguyên tư lệnh các lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương, vào năm 1978 đã thổ lộ sự thật trong tác phẩm Strategy For Defeat như sau:
"Hiệp Ðịnh Hòa Bình Paris ngày 27 tháng 1/1973 mà Mỹ chấp thuận và bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa thi hành, không phải là một công thức hòa bình. Theo đó, Cộng Sản Bắc Việt không còn sợ Mỹ can thiệp nên đã tự do xâm lăng miền Nam Việt Nam mà không bị chế tài..."
Sau năm 1973, đường mòn Hồ Chí Minh biến thành một xa lộ đất. Nhiều đơn vị Bắc Việt bổ sung vào Nam như các Trung Ðoàn 263 Tên Lửa Phòng Không và Hỏa Tiển SA-2, ba ngàn cán bộ Công An Bắc Việt đến nắm quyền sinh sát tại các vùng đất vừa lấn chiếm, một
hệ thống ống dẫn dầu dài hơn 5,000 km chạy từ Bắc xuống Quảng Trị, xuyên qua Cao Nguyên Trung Phần tới thị xã Lộc Ninh, song song với ống dẫn dầu cũ đã có sẵn từ Vinh chạy đến thung lũng A Shau. Nhiều lần, các thám thính cơ của Không Quân VNCH đã phát hiện
từng đoàn xe Bắc Việt trên xa lộ đất nhưng bị Mỹ tìm mọi cách ngăn chặn không cho oanh tạc và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cũng không dám phản đối vì Nixon đã đe dọa "sẽ cắt hết tiền viện trợ."
Tại Mỹ, từ năm 1971 đến 1973, nền kinh tế và tài chính đang bước vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng, cán cân thương mại bị thâm thủng. Hoa Kỳ hai lần liền cho phá giá đồng Mỹ kim, khiến cho các đồng minh của Mỹ đều phải thay đổi hệ
thống tiền tệ riêng để khỏi phải chết chìm theo Mỹ. Còn các nhà tư bản thì nhanh chân rút vốn đem ra ngoại quốc đầu tư, gây cảnh thất nghiệp, tưới dầu thêm trong rừng lửa phản chiến đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam, đang hoành hành bốc cháy dữ
dội khắp nơi trên nước Mỹ.
Vì vậy hồi tháng 8 năm 1973, Quốc Hội Hoa Kỳ ra đạo luật cấm sử dụng ngân khoảng yểm trợ quân sự cho các nước Đông Dương. Tháng 10 năm 1973 lại ban hành đạo luật War Power Act hạn chế quyền hạn của Tổng Thống Mỹ. Hai đạo luật trên vừa cho phép
Cộng Sản Bắc Việt toàn quyền xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa và bảo đảm Mỹ sẽ không can thiệp vào Việt Nam trở lại đã khiến cho Hà Nội bất chấp lệnh của quan thầy Trung Cộng, họp hội nghị Trung Ương lần thứ 21, ra lệnh tấn công cưỡng chiếm
miền Nam.
Ngày 3 tháng 4/1974, Thượng nghị viện Mỹ biểu quyết cắt giảm viện trợ của Nam Việt Nam. Ngày 11 tháng 4/1974, Cộng Sản Bắc Việt tràn ngập trại Tống Lê Chân ở tỉnh Bình Long. Trại này do Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân của Trung tá Lê Văn Ngôn trấn giữ sau 510 ngày bị vây
hãm. Ngày 7 tháng 8/1974, quận Thường Đức thuộc tỉnh Quảng Nam thất thủ. Ngày 9 tháng 8/1974, Tổng Thống Nixon từ chức vì vụ Watergate, mang theo xuống mồ những lời hứa hẹn với Tổng Thống Thiệu về viện trợ, can thiệp,... Khi Phó Tổng Thống Ford lên thay thế, ông đã
không thèm đếm xỉa gì tới miền Nam Việt Nam nữa.
Đầu năm 1975, Binh Ðoàn 301 Bắc Việt gồm các Sư Ðoàn 3 và 7 với chiến xa, đại pháo tấn công tỉnh Phước Long do Sư Ðoàn 5 Bộ Binh của Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ. Phước Long lọt vào tay Cộng Sản Bắc Việt ngày 6 tháng 1/1975 vì không có quân tiếp viện. Trước
sự vi phạm trắng trợn của Bắc Việt, Hoa Kỳ chỉ phản ứng lấy lệ.
Rồi Chiến Dịch 275 của Cộng Sản Bắc Việt được mở màn. Hai giờ sáng ngày 10 tháng 3/1975, quân Cộng Sản tấn công thành phố Ban Mê Thuột ở Cao Nguyên Trung Phần. Thành phố này thất thủ sau hai ngài giao chiến.
Thảm họa, giặc ngoài, vài trí thức a dua đâm sau lưng người lính khiến Tổng Thống Thiệu suy ra chiến lược "đầu bé, đít to" ra lệnh bỏ Cao Nguyên, bỏ dân chúng cho Cộng Sảnm rút trọng pháo và chủ lực quân về bảo vệ vùng duyên hải. Sau đó lại bỏ
Quảng Trị, Huế, khiến cho bao người dân vô tội làm mồi cho hỏa lực pháo binh Bắc Việt khi họ di tản theo quân đội, làm hủy diệt tất cả các lực lượng pháo binh, chiến xa của Quân Ðoàn 1 và 2. Ba Sư Ðoàn 1, 3 và 23 tan hàng. 200 máy bay các loại bị bỏ tại các phi trường
Huế, Đà Nẵng, Pleiku cùng với 1,000 chiến xa và 900 đại bác cũng không được phá hủy. Nhiều sư đoàn khác bị tổn thất quá nửa quân số. Tổng Thống Thiệu chỉ trong một phút quyết định tại Cam Ranh trước các tướng Viên, Khiêm, Quang, Phú đã làm mất 2
phần 3 lãnh thổ và làm tan rã phân nửa lực lượng Việt Nam Cộng Hòa.
MẶT TRẬN XUÂN LỘC
Sau ngày 2 tháng 4/1975, Quân Ðoàn 2 chỉ còn lại tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, nên được sát nhập vào quân Ðoàn 3. Phan Rang và Xuân Lộc trở thành hai cửa ngõ để Bắc Việt vào Saigon bằng quốc lộ 1 và 20. Xuân Lộc là tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh được Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm thành lập từ năm 1957 bằng cách cắt bớt phần đất của tỉnh Biên Hòa, với mục đích giúp định cư đồng bào Việt, Mường, Nùng, Thái di cư năm 1954. Tỉnh có diện tích vào khoảng 3,457 km vuông, đất đai phần lớn là núi thấp, đồi cao, rừng thưa
và đồn điền cao su -- trong kháng chiến là một vị trí chiến lược quan trọng vì là ngã ba của hai Quốc Lộ 1 và 20, cửa ngõ từ miền Trung, miền Cao nguyên vào Saigon chỉ cách nhau 80. Do đó Xuân Lộc được coi như vòng đai ngoài bảo vệ phi trường Biên Hòa và thủ đô.
Xuân Lộc nằm trên đường giao liên giữa chiến khu C và D của Việt Cộng với các mật khu Mây Tầm, Cù Mị, Xuyên Mộc, Đất Đỏ của tỉnh Phước Tuy, con đường mạch máu mà Bắc Việt dùng để nhận tiếp tế bổ sung quân và tiếp liệu bằng đường
biển, vì vậy từ lâu Sư Ðoàn 18 Bộ Binh đã được bố trí tại tỉnh này để ngăn chận quân Cộng Sản.
Để cắt đứt đường rút quân của Việt Nam Cộng Hòa từ hai tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, Bắc Việt tấn công quận Định Quán do Tiểu Ðoàn 2/43 Bộ Binh trấn giữ và trong khi giao tranh đẫm máu, không quân VNCH đã thả lầm 2 trái bom 500 cân Anh vào vị trí của quân
bạn tại núi Đất, khiến gần 200 người chết và bị thương trong đó có cả vị sĩ quan tiểu đoàn trưởng. Định Quán thất thủ ngày 17 tháng 3/75.
Để tấn công Long Khánh, Bắc Việt xử dụng quân Ðoàn 4 với 3 sư đoàn 6, 7, và 341 cùng các đơn vị có sẵn của Quân Khu 7. Thiếu Tướng (Cộng Sản) Hoàng Cầm là tư lệnh mặt trận, Chính Ủy là Thiếu Tướng Hoàng Thế Thiệp. Trận chiến đẫm máu đã xảy
ra tại ba phòng tuyến sau đây: ngã ba Dầu Giây, thị xã Xuân Lộc và Gia Rai (nằm tiếp cận giữa Bình Tuy và Long Khánh).
Phía Quân Lực VNCH có Sư Ðoàn 18 Bộ Binh (với các Trung Ðoàn 43, 48, và 52), lực lượng Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân ở tỉnh và các đơn vị tăng phái gồm Trung Ðoàn 8 (thuộc Sư Ðoàn 5 Bộ Binh), Lữ Ðoàn 3 Thiết Kỵ, Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân, hai tiểu đoàn Pháo Binh, Liên Ðoàn 81
Biệt Cách Dù, toàn bộ Lữ Ðoàn 1 Dù (với các tiểu Ðoàn 1, 2, 8, 9) và Tiểu Ðoàn 3 Pháo Binh Dù. Sư Ðoàn 4 Không Quân VNCH từ phi trường Cần Thơ phụ trách không yểm chiến thuật. Tất cả lực lượng trên đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo (Tư
Lệnh Sư Ðoàn 18) và hai viên sĩ quan phụ tá tài giỏi: Đại Tá (tư lệnh phó) Lê Xuân Mai và Đại Tá Phạm Văn Phúc (Tỉnh Trưởng Long Khánh) của Biệt Ðộng Quân mới về thay Trung Tá Lê Ánh Nguyệt hồi tháng 3/1975.
Chiến trường Long Khánh gồm 3 mặt trận chánh: Mặt trận ngã ba Dầu Giây do Trung Ðoàn 52 Bộ Binh và một thiết đoàn chiến xa trấn giữ. Mặt trận núi Chứa Chan, Gia Rai được phòng thủ bởi Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân và Trung Ðoàn 43 Bộ Binh. Thị xã Xuân Lộc do Trung Ðoàn 43 Bộ
Binh và các tiểu đoàn Ðịa Phương Quân bảo vệ. Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Tướng Lê Minh Đảo đặt tại quận đường Xuân Lộc ngã ba Tân Phong - Long Giao và được bảo vệ bởi các đơn vị trừ bị của sư đoàn, các đơn vị pháo binh và một
thiết đoàn chiến xa.
Thế rồi vào lúc 5 giờ 30 ngày 9 tháng 4/1975, khi vạn vật bắt đầu một ngày mới, chim chóc rời tổ kiếm ăn, dân chúng dọn hàng ra chợ, các tín đồ Thiên Chúa Giáo đi xem lễ sớm tại các nhà thờ, các loa phóng thanh của Ty Thông Tin Xuân Lộc mở đầu bằng các bài hát trữ tình
thương lính... thì cũng là lúc Bắc Việt bắn hàng trăm ngàn loại pháo đũ loại vào thành phố, đa số rớt vào chợ, nhà thờ và các nhà của dân chúng khiến cho người dân vô tội chết và bị thương như rạ. Trận pháo kích kéo dài trong 2 tiếng đồng hồ với hơn
3,000 trái đạn liên tục không dứt, dân chúng người thì ngã gục, kẻ thì rụng rời không biết chạy đâu để trốn tránh tử thần.
Tám giờ... bộ đội Bắc Việt tấn công vào thành phố nhưng bị chận lại bởi Trung Ðoàn 43 Bộ Binh và Tiểu Ðoàn 3/4 Ðịa Phương Quân Long Khánh. Quân Bắc Việt rút lui, bỏ lại tại chỗ 100 tử thi. Nhiều xe tăng T-54 và thiết vận xa PT-76 bị hạ khắp nơi bởi các
hỏa tiễn M-72 và các phản lực cơ A-37 cùng F-5 của Không Quân VNCH.
Ngày 10 tháng 4/1975, Cộng quân trở lại tấn công Xuân Lộc với 2 Sư Ðoàn 6 và 7, cùng các trung đoàn thiết giáp trên khắp các mặt trận Đông, Tây, Nam, Bắc thành phố từ tòa thị chánh Long Khánh đến sân bay, nơi nào Cộng quân cũng sử dụng quân số cấp trung Ðoàn. Cuộc chiến kéo dài
trong nhiều ngày, cả hai phía giành giật từng ngôi nhà, phòng tuyến để sống. Không Quân VNCH yểm trợ tích cực và hữu hiệu cho các đơn vị dưới đất bằng các phản lực cơ F-5E, góp phần tiêu diệt số lớn Cộng quân. Trung Ðoàn 43 Bộ Binh mặc dù bị Cộng quân
cắt ra từng đơn vị nhỏ, nhưng vẫn tiếp tục chống trã mãnh liệt, gây cho địch nhiều tổn thất, như Văn Tiến Dũng đã xác nhận trong tác phẩm Mùa Xuân Đại Thắng sau này.
Qua đến ngày thứ tư của cuộc chiến, Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù gồm các tiểu Ðoàn 1, 2, 8, 9 và Tiểu Ðoàn 3 Pháo Binh Dù mới từ miền Trung về, được lệnh tăng cường cho Xuân Lộc. Tất cả trực thăng của hai trung Ðoàn 3 và 4 Không Quân với hàng trăm trực thăng UH-1 đã
thả hơn 2,000 binh sĩ Nhảy DÙ từ Trảng Bom vào trận địa. Các pháo đội cũng được trực thăng Chinook chuyển vận đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân Nhảy Dù đóng cạnh bên Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh.
![]()
Hình chụp tại thị xã Xuân Lộc, năm 1975: Dân chúng hối hả bỏ chạy khi Việt Cộng pháo kích bừa bãi vào các khu dân cư (hình ảnh: Canapress Photo Service).
Hai tiểu đoàn Dù đầu tiên đã nhảy xuống đồn địch để chiếm lại Bảo Định và Quốc Lộ 1, nơi 2 trung đoàn thuộc Công Trường 6 Cộng Sản Bắc Việt đang tập trung tấn công Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 VNCH tại Tân Phong. Một tiểu đoàn Dù khác
nhảy xuống chiếm lại khu vực vườn cây của cố Thống Tướng Lê Văn Tỵ. Các tiểu đoàn Nhảy Dù khác nhảy vào Xuân Lộc để giải vây cho các lực lượng Ðịa Phương Quân và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Long Khánh.
Tại ngã ba Dầu Giây, Cộng Sản Bắc Việt đã đồng loạt tấn công Chiến Ðoàn 52 Bộ Binh từ ngày 12 tháng 4/1975 bằng các trận đánh biển người, kèm theo xe tăng và pháo. Lần lượt các tiền đồn của Trung Ðoàn 52 Bộ Binh từ Kiệm Tân về tới ấp Phan Bội Châu
trên Quốc Lộ 20 bị tràn ngập. Một trận chiến ác liệt và đẫm máu đã xảy ra chiều ngày 15 tháng 4/1975 ngay tại xã Dầu Giây (ở ngã ba giao điểm của Quốc Lộ 1 và 20) giữa Chiến Ðoàn 52 Bộ Binh (gồm Trung Ðoàn 52, Lữ Ðoàn 3 Thiết Kỵ, các lực lượng Ðịa Phương
Quân ở Kiệm Tân, tổng cộng khoảng 2,000 người) và Binh Ðoàn 4 Cộng Sản Bắc Việt (trong đó có Sư Ðoàn 341, một sư đoàn tổng trừ bị của Hà Nội vừa từ Thanh Hóa vào), do Trần Văn Trà thay thế Hoàng cầm chỉ huy.
Trong trận này, bộ đội Bắc Việt đánh trận biển người. Trong trận chiến nướng quân man rợ, tàn bạo và khủng khiếp này của Bắc Việt, mỗi một người lính VNCH đã phải chọi với 10 bộ đội Cộng Sản được yểm trợ bằng tăng và pháo.
Chiến Ðoàn 52 Bộ Binh cuối cùng đã tan hàng vào đêm 15 tháng 4/1975. Tất cả pháo binh, thiết giáp, người, đều bị Cộng Sản Bắc Việt hủy diệt sau mấy ngày đêm cầm cự. Chín giờ đêm đó, khi chiếc hầm chỉ huy của chiến Ðoàn bị bắn sập, đại tá
chiến đoàn trưởng mới cho rút quân. Cùng theo ông chỉ còn 200 người sống sót.
2 TRÁI BOM "DAISY CUTTER" TẠI MẶT TRẬN NGÃ BA DẦU GIÂY
Trong cuộc phỏng vấn của nhà văn Phạm Huấn sau ngày 30 tháng 4/1975, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh Quân Ðoàn 3 đã cho biết, sau khi trình Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH ông đã ra lệnh cho Không Quân sử dụng 2 trái bom "Daisy Cutter" tại ngã ba Giầu Dây trong đêm 15 tháng 4. Hai trái
bom này được thả vào vùng tập trung của quân Bắc Việt ngay khi lúc Chiến Ðoàn 52 Bộ Binh VNCH tan hàng. Gần 10,000 quân Bắc Việt với chiến xa T-54, đại pháo đang di chuyển trên Quốc Lộ 20 vừa tới ngã ba Dầu Giây đã bị hủy diệt toàn bộ.
Bom "Daisy Cutter" còn được gọi là bom "con heo" hay là bom "tiểu nguyên tử," trọng lượng 7 tấn vừa vỏ bọc, vừa thuốc nổ TNT đến 15,000 cân Anh. Bom Daisy Cutter dùng để mở bãi đáp phi cơ cho cấp sư đoàn hay lộ quân trong bất cứ địa thế nào và có
hiệu quả sát hại trong một khoảng rộng với đường kính 5 dặm Anh.
Mười giờ sáng ngày 16 tháng 4/1975, Không Quân VNCH gọi về Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 báo cáo về rừng người, chiến xa, đại pháo Bắc Việt đang tập trung trong xã Dầu Giây để chuẩn bị tiến về Saigon. Mười một giờ cùng ngày, 2 chiếc vận tải cơ C-130 được
lệnh mang 2 quả bom khổng lồ, xuất phát từ phi đạo 39 tại phi trường Tân Sơn Nhất, thả xuống vùng tập trung quân của quân Bắc Việt. Sau khi bom nổ, đại quân của Hà Nội đã rối loạn trong 3 ngày liền, và Bắc Việt la làng rằng Mỹ đã vi phạm Hiệp định
Paris và cho B-52 trở lại chiến trường Việt Nam.
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA RÚT KHỎI LONG KHÁNH
Về việc rút khỏi Long Khánh, trong khi các đơn vị chiến đấu tại đây (ngoại trừ ngã ba Dầu Giây) vẫn còn giữ nguyên được các vị trí, cũng có nhiều nguồn tin. Theo lời đồn từ những kẻ thân cận làm việc trong Dinh Độc Lập thì Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu nhận được tin các quân nhân tại Phan Ran đã uất ức trong cảnh gia đình ly tán, đất nước lâm nguy nên bất tuân thượng lệnh, dùng xe ủi đất và chiến xa M-113 san bằng mồ mả gia đình Tổng Thống Thiệu. Bởi vậy quá đau đớn, trước khi bỏ
ngai vàng, ông đã cho rút khỏi Long Khánh để Bắc Việt mau vào Saigon thay thế ông, vì theo các thầy tướng số mà ông tin, thì nếu ông từ chức, Nam Việt Nam không ai có thể thay thế được, trừ Cộng Sản.
Nhưng theo lời Tướng Nguyễn Văn Toàn, thì chính ông ra lệnh rút bỏ Long khánh vì thấy rằng phòng tuyến này không còn giữ được nữa, hơn phân nữa quân CSBV, sau khi bị thiệt hại nặng nề, đã cho thay đổi kế hoạch tấn công Saigon bằng chiến dịch thứ nhì với
với 5 sư đoàn đánh vào Biên Hòa, Phước Tuy, đồng loạt với 3 sư đoàn khác tại Tây Ninh. Vì vậy, Long Khánh không còn là điểm nóng, nên tất cả lực lượng tham chiến tại đây phải rút về Biên Hòa để lập phòng tuyến mới.
Trong cuộc rút quân này, Lữ Ðoàn Nhảy Dù bị thiệt thòi và chịu số phận bi đát nhất vì là đơn vị đi đoạn hậu. Họ phải chống trả với đại quân Cộng Sản Bắc Việt. Hai bên còn đang giao tranh ác liệt tại Bảo Định thì 7 giờ tối ngày 20 tháng 4/1975 có
lệnh rút quân, trong khi các thương binh và tử thi lính VNCH chưa được di tản. Nhưng tất cả đành phải bỏ lại như năm nào tại Hạ Lào, bởi vì đối với người còn sống, đoạn đường đầy xác lính VNCH hơn 4 km trong rừng cao su đen nghịt để ra
Quốc Lộ 1, là các cửa địa ngục phải vượt qua. Tất cả thảm trạng trên đều là những oan khiến bi thảm của người lính VNCH mà ít ai biết đến.
Chín giờ tối, các tiểu đoàn Nhảy Dù mới tới quốc lộ và một hoạt cảnh cảm động đã diễn ra, tất cả giáo dân của xóm đạo Bảo Đình, Bảo Toàn, Bảo Hòa đã tập trung sẵn 2 bên vệ đường để theo chân lính di tản. Mấy chục cây số
đường rừng bị bỏ hoang trên Liên Tỉnh Lộ 2 từ Tân Phong đến Đức Thành, Long Lễ và Bà Rịa không phải là chuyện bình thường của một đoàn quân có dân chúng lẫn lộn. Bởi vậy ngay trong đêm rút quân 10 tháng 4/1975, Đại Tá Phạm Văn Phúc và Trung Tá Lê Quang Định,
hai vị sĩ quan tiểu khu trưởng và tiểu khu phó của tiểu khu Long Khánh đã bị tử thương vì nhiều loạt B-40 của CSBV bắn sả vào đoàn quân dân đang di chuyển. Lữ Ðoàn 1 Dù rút lui sau cùng, chỉ riêng Tiểu Ðoàn 3 Pháo Binh đươc di chuyển trên đường lộ với Ðại Ðội
Trinh Sát Dù, các tiểu đoàn tác chiến đến mở đường bọc sâu trong rừng.
Bốn giờ sáng ngày 21 tháng 4/1975, tại ấp Suối Cá, gần ranh giới Long Khánh-Phước Tuy, Tiểu Ðoàn 3 Dù bị 2 tiểu đoàn CSBV phục kích. Pháo Ðội C và trung đội trinh sát bảo vệ, hầu hết đều bị thương vong trước biển người tấn công. Cánh quân đi đầu
của Tiểu Ðoàn 9 Dù cũng đụng độ nặng với CSBV tại thung lũng Gia Rai, dưới chân núi Cam Tiên. Ngoài những thiệt hại kể trên, cuộc rút quân trên Liên Tỉnh Lộ 2 coi như hoàn tất, kết quả tốt đẹp. Sư Ðoàn 18 Bộ Binh được chỉ định về phòng thủ
tuyến phía Đông thủ đô Saigon từ Long Bình đến kho đạn thành Tuy Hạ, tiếp cận với các lực lượng của trường Bộ Binh Thủ Đức, trường Thiết Giáp và một lữ đoàn Dù có trách nhiệm bảo vệ Quốc Lộ 15 từ Long Thành về Bà Rịa. Tất cả
chiến đấu với giặc cho tới khi Dương Văn Minh ra lệnh bỏ súng, tan hàng vào lúc 11 giờ 30 mới chấm dứt.
Chuẩn tướng Lê Minh Đảo và Bộ Chỉ Huy của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh đóng bản doanh sát căn cứ Hải Quân ở Cát Lái. Ngày ngày nhìn thấy thiên hạ bỏ chạy bằng tàu thuyền, ông và các binh sĩ dưới quyền cũng có thể bỏ chạy dễ dàng như dân chúng. Nhưng họ đã
ở lại và sau ngày 1 tháng 5/1975, cái giá mà Tướng Đảo phải trả là sự đày ải, hành hạ, chịu tủi nhục trong các trại tù từ Nam, Trung ra tận biên giới Việt Nam, Lào, Trung Hoa, cho đến thập niên 1990, ông vẫn còn bị Cộng Sản trả thù, hành hạ tại trại tù Z30D, Long Khánh.