Ðọc "Cuộc Chiến Thắng Bị Bỏ Lỡ" của Stephen b. Young
Nguyễn Cao Quyền
Tên sách và tên tác giả đã là động lực chính khiến tôi miệt mài nghiền ngẫm tác phẩm này. Gần 400 trang sách đã khơi lại trong tôi những vết thương dĩ vãng chưa lành hẳn kể từ khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản. Giữa những trang sách, uất ức, từng đợt nối tiếp nhau, lại sô lên lồng ngực và niềm thương cảm cho số phận của dân tộc, nhiều lần trào ra ngoài khóe mắt.
Chiến tranh Việt Nam đang trên đà thắng lợi thì phong trào phản chiến leo thang rầm rộ. Năm 1965, cả một thế hệ thanh niên Hoa Kỳ đua nhau xuống đường để phản lại truyền thống cao đẹp của tổ tiên. Các đại học trở thành những trung tâm đối kháng. Tệ hại hơn cả là vào tháng 2 năm 1965, George Frost Kennan, cha đẻ của sách lược " be bờ " cộng sản ( containment policy ), khi ra điều trần trước Ủy Ban Ðối Ngoại Thượng Viện đã cho rằng sách lược "be bờ " không phù hợp với vùng Ðông Á và CSVN không đe dọa nền an ninh của Mỹ Quốc. Ðược lời như cởi tấm lòng, các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ thi nhau bóp méo sự thật để phục vụ thị hiếu của khán thính giả và trút lên đầu lên cổ chính quyền và quân lực VNCH, một cách vô tội vạ, những tiếng xấu hoàn toàn bịa đặt. Tuy nhiên bàn tay không che nổi mặt trời và cây kim để lâu ngày trong túi vải đã lòi ra.
Cây kim đó là cuốn sách mà T.S Stephen B. Young đã viết lên như một trách nhiệm do " định mệnh" giao phó. Ðây là tiếng nói đĩnh đạc và trung thực nhất, trước công luận thế giới , để vạch trần một sự phản bội. Ðây là bản luận trạng hùng hồn và chính xác nhất, bào chữa cho VNCH, kể từ gần ba chục năm nay. Ðây là một câu chuyện mủi lòng nhưng cũng là một thiên hùng ca được viết lên bởi một tâm hồn tôn trọng sự thật và trung hậu với lý tưởng mình theo đuổi. Ðồng thời, đây là một tài liệu lịch sử vô cùng quý hiếm để lại cho các thế hệ mai sau, dựa trên những bút tích từng giờ, từng ngày mà Ellsworth Bunker, vị đại sứ có nhiệm vụ hoàn tất chương trình Việt Nam Hóa Chiến tranh, đã thân tình trao lại cho tác giả trước khi qua đời.
Việt Nam Hóa Chiến Tranh đang trên đà phát triển tốt đẹp thì bị đình chỉ. Ðó là một cuộc chiến thắng bị bỏ lỡ, một Victory Lost theo ngôn từ của tác giả. Tuy không nói rõ nhưng Stephen Young đã để cho độc giả hiểu rằng, nếu không có những chuyện lủng củng trong nội bộ của nước Mỹ thì Hoa Kỳ đã không thất bại và miền Nam Việt Nam đã không bị cộng sản hóa như ngày nay.
Công cuộc Việt Nam Hóa Chiến Tranh, khởi sự vào tháng giêng năm 1967, khi ông Ellsworth Bunker được tổng thống Lyndon Johnson bổ nhiệm làm đại sứ tại Saigon với nhiệm vụ bí mật là chuẩn bị cho Hoa Kỳ rút quân chiến đấu khỏi miền Nam. Vào thời gian đó bốn nhân vật chủ chốt chịu trách nhiệm hoàn tất chương trình này: Ellsworth Bunker. William Westmoreland, Creighton Abrams và Robert Komer. Ðại sứ Bunker chịu trách nhiệm tổng quát, tướng Westmoreland và tướng Abrams chịu trách nhiệm về mặt quân sự, còn ông Komer thì chịu trách nhiệm về mặt bình định và phát triển nông thôn.
Vấn đề " Bình Ðịnh và Phát triển Nông Thôn" giữ một vị trí đặêc biệt trong tác phẩm Victory Lost. Tác giả đã thẩm định tầm quan trọng của vấn đề này và cho nó một giá trị vượt trội hơn cả vấn đề quân sự. Thực tế cũng đã chứng minh điều đó. Năm 1967, Robert Komer khuyến cáo TT Johnson là phải phối hợp quân đội và dân sự trong công cuộc chiến đấu chống cộng sản tại Việt Nam. Kể từ đó, vấn đề an ninh, phát triển và chính trị đã được tổng hợp thành một kế hoạch. Ðó là C.O.R.D.S, những chữ viết tắt của Civil Operations Revolutionary Development Support. C.O.R.D.S rút kinh nghiệm từ một sự thành công trong sách lược chống cộng tại Phi Luật Tân. Tại miền Nam Việt Nam C.O.R.D.S là một bộ phận trong cấu trúc chi huy quân sự MACV.
Tại C.O.R.D.S những nhân viên dân chính và quân đội đã sát cánh cùng nhau trong việc thực hiện những mục tiêu chung, nhằm chuyển giao cuộc chiến chống cộng sản cho người Việt quốc gia. Ủng hộ quan điểm của Robert Komer, từ Washington những bộ óc kiệt xuất của Hoa Kỳ cũng nhận định là cuộc chiến tại Việt Nam phải được thắng tại nông thôn và các vấn đề khác chỉ là chiến thuật. Bunker thúc đẩy chính quyền miền Nam thực hiện chương trình Bình Ðịnh và Phát Triển Nông Thôn với sự giúp đỡ của C.O.R.D.S. Cơ bản là dân chúng miền Nam phải có một cuôc sống ổn định về mặt chính trị, và phát triển về mặt kinh tế. Cả hai khía cạnh này đều phải do nông dân tại địa phương quyết định. Ðó cũng là điều kiện tất yếu mà chính quyền trung ương phải mang đến cho người dân trước khi đòi hỏi họ tham gia vào đời sống chính trị của cả nước.
Ðể đẩy mạnh công cuộc bình định và phát triển, vào ngày 1-11-1968, một kế hoạch được gọi là Accelerated Pacification Campaign ( APC ) được đem ra áp dụng cho 3800 làng xã ở miền Nam. Lực lượng cộng quân thời đó thật ra chỉ kiểm soát 18 % số làng xã nói trên. Từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 2 năm 1969 khoảng 1000 xã đã tái ổn định. Số còn lại dự kiến sẽ ổn định vào những tháng còn lại trong năm 1969. Kế hoạch APC là một tổng hợp phát triển chính trị và kinh tế, có mục đích thực hiện một chính quyền theo nguyện vọng của dân chúng địa phương.
Song song với kế hoạch bình định và phát triển, vấn đề an ninh tại địa phương được giải quyết theo phương thức thay thế các lực lượng quân sự chính quy bằng các lực lượng địa phương quân, nghĩa quân và nhân dân tự vệ. Lực lượng chính quy nhờ thế được rảnh tay để mở các cuộc hành quân lùng diệt. Theo thăm dò của Hamlet Evaluation Survey ( HES) do các cố vấn Hoa Kỳ thực hiện khắp miền Nam Việt Nam thì trong 1333 xã ấp cuối cùng do APC đảm trách, 1055 xã ấp đã có an ninh và chính phủ đã kiểm soát thêm 1,6 triệu dân chúng. 80 % dân số miền Nam đã được sống trong những vùng an ninh khi chương trình bình định được xem như chấm dứt vào lúc tổng thống Nixon tuyên thệ nhậm chức tại Hoa Kỳ ( tháng 1 năm 1969 ).
Ðiều không may cho miền Nam Việt Nam là đúng vào lúc công cuộc Việt Nam Hóa Chiến Tranh đang tiến hành tốt đẹp và thành công
cụ thể thì tại Hoa Kỳ làn sóng chống chiến tranh dâng lên như nước thủy triều. Cả một thế hệ xuống đường vào năm 1968, gồm những thành phần trẻ mới vào đời, chịu ảnh hưởng tiểu thuyết hiện sinh của Hemingway và Fitgerald. Họ sợ hãi. Một
loại sợ hãi chỉ có thể xảy ra trong các xã hội tân tiến và thịnh vượng. Ðó là thứ sợ hãi trách nhiệm, thích hưởng thụ và không chịu ràng buộc vào bất cứ vấn đề gì.
Phong trào phản chiến đã phân hóa nước Mỹ và ảnh hưởng đến chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam, cho nên cuộc chiến thắng đã bị bỏ lỡ. Lỗi này, nền chính sự suy thoái của Hoa Kỳ, vào thời gian đó, phải chịu trách nhiệm và danh
dự của quân lực VNCH phải được phục hồi. Những chiến công oanh liệt của quân lực anh hùng đó hãy còn vang dội đến ngày nay và sau đây là bằng chứng.
Sau khi rảnh tay với vấn đề an ninh tại nông thôn, các đơn vị chính quy của VNCH đã giáng trả cho cộng quân những đòn đích đáng. Thành tích lẫy lừng nhất của các chiến sĩ tự do là chiến thắng Tết Mậu Thân ( 1968 ) bẻ gẫy tham vọng tổng khởi nghĩa của Võ Nguyên Giáp, một tên tướng cộng sản từ lâu chỉ còn là huyền thoại. Tại Huế 16 tiểu đoàn Việt Cộng, sau 1 tháng đụng độ với 11 tiểu đoàn VNCH và 3 tiểu đoàn thủy quân lục chiến My,õ đã ôm đầu máu bỏ chạy, để lại những xác chết không có thời giờ đếm hết. Theo thống kê đáng tin cậy nhất thì Hà Nội đã tung 84.000 quân vào vụ Tết Mậu Thân và chỉ sau 1 tháng chạm súng, phân nửa số quân ấy đã bị QLVNCH triệt hạ.
Chiến thắng lẫy lừng này không được các báo Mỹ tường thuật lại tại Hoa Kỳ. Truyền hình Mỹ cũng không làm phóng sự để phổ biến trong quần chúng và đưa vào những khuôn viên đại học có sinh viên phản chiến. Ứng cử viên tổng thống Eugene Mc Carthy nói bừa rằng : " Vị thế của chúng ta tại miền Nam VN bây giờ tồi tệ hơn là vào đầu năm 1966.". George Rommey, khi vận động để thành ứng viên của đảng Cộng Hòa lớn tiếng hò hét :" Vụ Tết Mậu Thân chứng tỏ một điều là dân chúng miền Nam VN đã ủng hộ cộng sản." John Galbraith, người bạn láng giềng của đại sứ Bunker thì viết rằng : " Chính quyền miền Nam VN sẽ sụp đổ trong vài tuần lễ sắp tới và quân đội VNCH sẽ tan rã ". Toàn là những giọng trù ẻo đầy ác ý và vô trách nhiệm xuất phát từ miệng lưỡi của những người có khả năng trở thành nguyên thủ của một đất nước đồng minh. Mầm mống phản bội xuất phát từ đây.
Sau vụ Tết Mậu Thân, quân lực VNCH lần lượt tự đảm nhiệm các trọng trách tác chiến để quân đội Mỹ có thể rút về nước. Thất bại khắp nơi, Việt cộng tập hợp tàn quân, từ bỏ địa bàn nông thôn và di chuyển về đóng căn cứ tại Thất Sơn. Ngày 4-9-1969 đồn Bến Hét bị chúng tấn công. Hà Nội, một lần nữa, lại lớn giọng nói rằng đó là trận mở màn cho một Ðiện Biên Phủ thứ hai. Nhưng Bến Hét đã không thất thủ và sau 2 tháng bao vây, Việt cộng đã tháo chạy. Kevin Buckley được báo Newsweek phái sang làm phóng sự đã không tường thuật chiến thắng vẻ vang đó. Trái lại, y đã ca tụng tài bắn chính xác của pháo binh cộng sản.
Tháng 3 năm 1970, Sihanouk ký hiệp ước thương mại với Hà Nội. Với hiệp ước này Việt cộng được quyền ngang nhiên tiếp liệu qua cảng Kompong Som, cho các lực lượng võ trang ẩn náu tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. VNCH phản đối. Ngày 13-3-1970 Cam Bốt ra lệnh cho Bắc Việt và Việt cộng rút khỏi lãnh thổ của họ và liền sau đó Lon Nol truất quyền Sihanouk. Thấy vậy, Hà Nội đem các đơn vị đồn trú tại Cam Bốt tấn công quân của Lon Nol. Ðể cứu Lon Nol, quân đội Hoa Kỳ phối hợp với quân lực VNCH hành quân vào lãnh thổ Campuchia. Với cách đánh thần tốc, tấn công vũ bão vào các đơn vị cộng quân cũng như bám sát cuộc rút lui của chúng, quân lực VNCH đã gây thiệt hại cho cộng quân một cách đáng kể. Kết quả ta tịch thu 552 tấn đạn dược và 4926 tên địch bị ta hạ sát tại chiến trường. Phía ta có 745 chiến sĩ hy sinh.
Ðây cũng là một chiến công oanh liệt nhưng Hoa Kỳ và quốc tế không biết đến vì các cơ quan truyền thông Mỹ đã cố ý không làm nhiệm vụ thông tin trung thực. Thanh tóan xong vấn đề Cam Bốt, quân lực VNCH liền mở một cuộc hành quân bằng đường bộ sang Lào để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, thông lộ tiếp vận của cộng sản . Chiến dịch này mang tên Lam Sơn 719. Tin tình báo cho biết ở Lào, cộng sản Bắc Việt có 46.000 quân tại các mục tiêu trong khi lực luợng tấn công của miền Nam chỉ có 17.000 binh sĩ cộng thêm sự yểm trợ không lực của quân đội Hoa Kỳ.
Cùng lúc với chiến dịch Lam Sơn 719 quân đội miền Nam cũng thực hiện một cuôc hành quân quy mô khác, tấn công vào đồn điền cau su Chup trong lãnh thổ Cam Bốt để tiêu diệt 3 trung đoàn chính quy của Hà Nội đang chuẩn bị tiến về Kontum.
Trong chiến dịch Lam Sơn 719, mặc dầu với thời tiết xấu, không lợi dụng được sự yểm trợ của không lực Hoa Kỳ và mặc dầu với quân số chỉ bằng 1/3 lực lượng tham chiến của Bắc Việt, các chiến sĩ của ta đã anh dũng chấp nhận tổn thất để tiêu diệt 2 tiểu đoàn cộng quân tại chiến trường và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cắt đứt con đường tiếp liệu thứ hai của Hà Nội. Trước thực tế đó, các phóng viên báo chí Hoa Kỳ và Tây Phương đã tường thuật chiến dịch Lam Sơn 719 với một giọng điệu bi quan.
Cũng với tính thần chiến đấu dũng mãnh đó, cộng thêm với lòng yêu nước vô bờ bến, quân lực VNCH đã tử thủ An Lộc và giải tỏa cổ thành Quảng Trị trong năm 1972. Bị hai sư đoàn của cộng sản bao vây và pháo kích dòng dã hơn 2 tháng trời với mức độ trung bình 10.000 hỏa tiễn một đêm, tinh thần các chiến sĩ tử thủ An Lộc vẫn không hề nao núng. An Lộc có cảnh tượng giống như những vùng đất trên mặt trăng khi Sư Ðoàn 21 của tướng Lê Văn Hưng tiến vào giải tỏa. Ðịa danh này, vì chiến công lẫy lừng của những anh hùng bảo vệ nó, sẽ được lưu truyền mãi mãi trong chiến sử miền Nam giống như Verdun của Pháp trong Thế Chiến Thứ Nhất.
Ngày 20-7-1972, binh sĩ của tướng Ngô Quang Trưởng dựng lại ngọn cờ vàng ba sọc đỏ trên cổ thành Quảng Trị. Sau hơn một tháng rưỡi chiến đấu, chiếm lại từng tấc đất, cuối cũng các chiến sĩ thiện chiến, can trường và dũng mãnh của ta đã đánh bật cộng quân ra khỏi cổ thành lịch sử, chấm dứt một lần và vĩnh viễn tất cả những huyền thoại liên quan đến bộ đội Hồ Chí Minh do ngoại nhân thêu dệt. Cuộc công kích của Hà Nội năm 1972 được xem như hoàn toàn thất bại. Quân đội miền Nam đã anh dũng và kiên cường bào vệ lãnh thổ của mình.
Mặc dầu chiến đấu oanh liệt và thắng lợi như vậy, rút cuộc quân lực VNCH đã phải rã ngũ để nhìn cộng sản chiếm trọn miền Nam và đã là thành phần phải trả giá đắt nhất cho một sự phản bội. Chúng ta thua không phải vì hèn kém mà thua vì lộ đồ bại trận đã được phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ vạch sẵn từ lâu.
Tác giả Stephen B. Young thuật lại là đại sứ Bunker cho rằng cuộc chiến Việt Nam bị thấât bại vì người Mỹ đã mất niềm tin theo truyền thống Hoa Kỳ. Nhận định này đúng nhưng chỉ đúng một phần. Phần còn lại phải bao hàm sự kiện chủ yếu sau đây. Trong cuộc xung đột toàn cầu giữa hai phe tư bản và cộng sản, miền Nam Việt Nam chỉ có một giá trị chiến lược tương đối. Mục tiêu của Hoa Kỳ khi can thiệp vào Việt Nam là chỉ muốn ngăn chặn sự bành trướng của Trung Cộng chứ không phải để loại trừ chế độ Hà Nội. Do đó tới năm 1972, khi Hoa Kỳ đã bắt tay được với Trung Cộng thì mối đe dọa từ Bắc Kinh không còn nữa. Hiệp Ðịnh Paris (27-1-1973) được ký kết là để Hoa Kỳ rút lui trong danh dự và chỉ có thế thôi. Còn cái gì xảy ra cho miền Nam Việt Nam sau khi Hoa Kỳ rút hết quân là chuyện "sống chết mặc bay".Việc Henry Kissinger chấp nhận cho Hà Nội để lại 300.000 quân tại miền Nam và áp lực chính quyền Saigon chấp nhận thực tế này là bằng chứng rõ rệt nhất cho thái độ phản trắc nói trên. Nếu Hoa Kỳ coi miền Nam Việt Nam là một điểm chiến lược tối quan hệ và cần phải giữ bằng mọi giá thì thất bại đã không thể xảy ra.
Dù sao cũng phải cám ơn tiến sĩ Stephen Young và ghi nhận tấm thịnh tình của tác giả đối với miền Nam Việt Nam và đối với người Việt quốc gia. " Cuộc chiến thắng bị bỏ lỡ "sẽ đánh tan mây mù thế kỷ che lấp một quãng đường lịch sử chung của Hoa Kỳ và của miền Nam Việt Nam. Các thế hệ mai sau sẽ có một tiếng chuông thứ hai để giúp họ nhận định nghiêm túc khi họ muốn làm sáng tỏ một giai đoạn vô cùng đen tối mà thế hệ ông cha đã can trường chịu đựng./.
Nguyễn Cao Quyền