Hào Kiệt Nước Nam không đời nào thiếu...

Phan Nhật Nam - 30/04/2005

Tướng Quân Nguyễn Văn Hiếu (*)
(*) Nguyễn Văn Tín - Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu CA, USA 2005

Hành Quân Triệt Thoái là hình thái hành quân KHÓ NHẤT - Bởi tự thân đã mang mầm thất bại, thực hiện trong những tình huống bế tắc.

Quân Sử Ðông-Tây, Cổ-Kim thế giới đã xác chứng điều nầy qua thất bại của những danh tướng, những đạo binh bách thắng.. Napoléon rút khỏi đất Nga (1812); quân Mông Cổ lui binh ở Ðại Việt (Thế Kỷ 13). Và gần gũi mới mẻ nơi chiến trường Ðông Dương trên Quốc Lộ 4 (Bắc Việt) với lần tan rã của Binh Ðoàn Charton-Le Page (1953); Binh Ðoàn Lưu Ðộng 100 (GM.100) trên Quốc Lộ 19 (1954). Và không đâu xa, mới đây, ở Mặt Trận Hạ Lào, Lam Sơn 179 (tháng 2/ 1971): Một Thiết Ðoàn Kỵ Binh; một Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân; một sư đoàn bộ binh hàng đầu của quân lực; hai đơn vị tổng trừ bị quốc gia: Sư Ðoàn 1 Bộ Binh; Sư Ðoàn Nhảy Dù; Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến đồng bị đem làm vật thí nghiệm cho những “chiến lược gia hạng thứ yếu”, những tướng lãnh bất tài, vô dụng.. Lẽ tất nhiên không thể không kể những viên “tướng” gọi là: “Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia; Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Lực; Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Quốc Gia; Chủ Tịch Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia; Bộ Trưởng Quốc Phòng; Tổng Tham Trưởng..” Những kẻ đã lập nên “công, danh, lợi” trên máu xương Người Lính – Của rất nhiều Người Lính.

Miền Nam thật sự lâm cảnh nước mất, nhà tan từ cuộc rút lui gọi là “di tản chiến thuật” bắt đầu ngày 15 tháng 3, nơi Tây Nguyên.

 Trùng vây bất minh...

Quỹ Tiết Kiệm Quân Ðội là gì? Như thế nào?

Ngày 14 tháng 7, 1972 trong khí thế của toàn Quân-Dân Miền Nam kiên cường giữ nước trên mặt trận quân sự, Ðài Truyền Hình Việt Nam tại Sài Gòn đã nổ phát pháo hiệu của trận tuyến không tiếng súng nhưng không kém phần uy mãnh: Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Phụ Tá Ðặc Biệt Phó Tổng Thống Ðặc Trách Bài Trừ Tham Nhũng, Tổng Thư Ký UƯy Ban Ðiều Tra Ðặc Biệt về Quỹ Tiết Kiệm Quân Ðội (QTKQÐ) tuyên bố bản tường trình sau ba tháng làm việc. Lòng người Miền Nam bừng lên khí thế hy vọng: Thù trong-giặc ngoài đồng lần thanh toán. Vận nước sau hồi điêu linh, bĩ cực nay phải chăng đang đến kỳ vinh hiển hanh thông. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu quả đã một lần đốt lên ngọn nguồn Hy Vọng cho cả Miền Nam. Nhưng oan nghiệt thay, chỉ hơn hai năm sau, Người thắp sáng ngọn lửa lẫn quê hương đồng lâm cơn bức tử cùng đành. Chúng ta nhìn lại Nỗi Ðau không hề giảm sút dẫu đã ba-mươi năm qua.

Bắt đầu từ tháng Giêng năm 1968, mỗi quân nhân các cấp thuộc chủ lực quân và địa phương quân QLVNCH đồng bị khấu trừ 100 Ðồng vào tiền lương mỗi tháng. Với quân số khoảng 1 triệu người, số tiền kia sau một thời gian ngắn trở thành một tổng giá trị to lớn mà không một tổ chức hay hiệp hội thương mại, kỹ nghệ nào trong nước có thể sánh được. Và nếu như chỉ dùng tổng số tiền nầy mở những trương mục ký thác cố định, và huy động, sử dụng vốn, tiền lời nên thành một số vốn nhỏ cho mỗi quân nhân (có được khi giải ngũ), thì chắc rằng ý niệm ban đầu khi thiết lập quỹ ắt là một kế hoạch rất đáng ca ngợi. Với tình huống nầy cũng không thể có hiện tượng gọi là tham những, gian trá trong việc điều hành quỹ. Hoặc tài giỏi, khôn khéo hơn, điều động số vốn khổng lồ kia vào những dịch vụ kinh doanh, thương mãi với thành tâm, thiện ý – Gây sinh lợi cho Người Góp Vốn: Tập thể những Người Lính đang thật sự góp máu, xương gìn giữ Miền Nam - Thì ý niệm “Kinh Bang Tế Thế” sẽ nên là một điểm son, nguồn sức mạnh kinh tế, vật chất, tài lực góp phần bền vững cho Người và Chế Ðộ Cộng Hòa. Khổ thay, sự việc không diễn tiến theo chiều hướng tốt đẹp mong muốn nầy. Chúng ta trở lại bản tường trình mà thực chất là bản cáo trạng của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu – Vì sao đơn độc trong đêm dài bất hạnh của quê hương.

1.- Những vi phạm về pháp lý:

Chiếu Dụ Số 10 ban hành ngày 6 tháng 8, 1950 (Chế độ Quốc Gia Việt Nam- Quốc Trưởng Bảo Ðại): Ðiều 1- Cấm triệt để các hiệp hội có những sinh hoạt với mục đích “chia hưởng lợi tức”. Thế nhưng, Hội Ðồng Quản Trị Quỹ Tiết Kiệm Quân Ðội (HÐQT/ QTKQÐ) đã dùng vốn của Hiệp Hội (QTKQÐ) để mua cổ phần hai công ty (của chính phủ): COGIVINA và SICOVINA; thành lập Kỹ Thương Ngân Hàng (KTNH), và bốn công ty mới: VICCO; VINAVATCO; ICICO; và FOPROCO với số vốn 1, 232, 753, 000. 00 Ðồng Việt Nam (Tính chung, 1 Tỷ 3).

Không được đứng tên Hiệp Hội (QTKQÐ) để ký các văn kiện hành chánh, nên những giấy tờ thiết lập tại Phòng Chưởng Khế Sài Gòn, Trung Tướng Nguyễn Văn Vỹ (Tổng Trưởng Quốc Phòng) cùng một số người nữa đã đứng tên làm chủ cổ phần với tư cách cá nhân. Sau đó, do biết rõ đã vi phạm luật khi thiết lập những chứng từ căn bản trong việc tổ chức, những cá nhân nầy lại ký những “Giấy Chuyển Nhượng các Cổ Phần” lại cho Hiệp Hội (QTKQÐ) với lời cam kết: “Chỉ là những chứng chỉ cá nhân” - Nhưng, hồ sơ chính lưu trữ tại Phòng Chưởng Khế Sài Gòn vẫn là danh tính của những cá nhân kia.

Hai khuyết điểm vi phạm luật thiết lập, điều hành hiệp hội như trên không phải không được nêu ra, Phủ Thủ Tướng đã gởi Văn Thư số 2960 ngày 27/8/1970 yêu cầu Bộ Quốc Phòng điều chỉnh về mặt tổ chức để đúng với luật lệ hiện hành. Thế nhưng, Bộ Trưởng Nguyễn Văn Vỹ và HÐQT/ QTKQÐ vẫn tiếp tục điều hành Quỹ trên căn bản vi phạm luật lệ tổ chức hiệp hội, qua lần mua thêm cổ phần trong Công Ty Dệt Việt Nam, và thiết lập những công ty mới: CôngTy Xây Cất Kỹ Nghệ VN (VICCO); CÔNG TY Vận Tải VN (VINAVATCO); Công Ty Bảo Hiểm Kỹ Nghệ và Thương Mãi (ICICO); Công ty Sản Xuất Thực Phẩm (FOPROCO). (NVT sđd trg 276-281)

Ðể đúc kết phần trình bày về vi phạm luật tổ chức, điều hành Hiệp Hội, chúng tôi nêu lên hai chi tiết bổ túc: 1/Bộ Trưởng Nguyễn Văn Vỹ vốn tốt nghiệp Trường Luật Hà Nội, và Trường Võ Bị St. Cyr của Pháp (George Mcarthur Los Angeles Times April 4, 1972 -NVT sđd trg 274)

2/Quân nhân các cấp bắt đầu góp 100 Ðồng/Tháng vào Quỹ kể từ Tháng 1/1968, nhưng mãi đến 9 Tháng 5/1969, Bộ Quốc Phòng mới ra chỉ thị ấn định những điều lệ thu nhận, điều hành số tiền đóng góp của toàn quân đội. (NVT sđd, trg276)

Do bất chính từ tổ chức, và điều hành như trên, Quỹ đã có những khuyết điểm tất nhiên như sau: - Giữa thu, chi có những số liệu chênh lệch quá lớn, và không thể giải thích.

- Khuyết điểm trên xẩy ra do mỗi đơn vị, địa phương kết toán theo mỗi cách thức khác nhau. Có đến hơn 400 đơn vị kế toán hành chánh tài chánh trên toàn quốc (kể cả trung ương) giữ sổ sách không minh bạch, (không ghi ngày, tháng; không chữ ký của kế toán trưởng; đánh số đầu mỗi trang giấy kế toán.. v.v.)

Tờ những trở ngại nêu trên, Ủy Ban Ðiều Tra (UBÐT) chỉ có thể làm việc trên hai con số liệu cụ thể: - Số liệu thật sự thu góp từ năm 1968 đến 1981

- Số liệu Quỹ đã thật sự hoàn trả cho các thành viên quân đội đã giải ngũ, hay trợ giúp cho những người thừa kế (của quân nhân tử trận, mất tích).

Từ yêu cầu đơn giản và khẩn thiết trên, UBÐT có được hai số liệu kết toán (tính đến ngày 31 tháng 12/1971) mà không thể nào giải thích thỏa đáng cho dù quan niệm rộng rãi, giản lược đến bao nhiêu.

Số liệu thật sự thu góp từ năm 1968 đến 1981: 3, 267, 631, 585. Ðồng

Số liệu thật sự hoàn trả và trợ giúp: a/ Từ 1968 đến 1969: 14, 487, 642. Ðồng

b/ Từ 1970 đến 1971: 293, 287, 047. Ðồng

Tóm lại: Trong hai năm (1970-1971) Quỹ đã hoàn trả, bồi thường cho quân nhân giải ngũ, và gia đình tử sĩ một số lượng gấp hai-mươi lần của hai năm trước (1968-1969)!! (NVT sđd trg 277)

2/ Lạm dụng, vi phạm:

Tuy nhiên, những vi phạm pháp lý như trên vẫn có thể được điều chỉnh, và biện minh nếu như như những người quản lý điều hành Quỹ nhận hiểu ra điều đơn giản thương tâm: Những đồng tiền người lính góp vào Quỹ Tiết Kiệm kia quả thật là giá máu của chính họ và gia đình. Nhưng những “đồng tiền máu” nầy đã được dùng trong những dịch vụ sinh lợi cá nhân (và tập thể cá nhân) theo như diễn tiến, và những hậu quả điển hình như sau:

Tòa nhà số 8 Ðường Nguyễn Huệ được xây cất với dự định sẽ là Trụ Sở Kỹ Thương Ngân Hàng và văn phòng của bốn công ty mới lập vừa kể ra trên. Quyết định xây dựng tòa nhà không do Hội Ðồng Quản Trị/QTKQÐ mà từ Bộ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Văn Vỹ ấn ký - Bộ Trưởng Vỹ chỉ là Chủ Tịch Danh Dự không có thẩm quyền đối với Hội Ðồng Quản Trị. Sự khởi đầu vi phạm nầy không phải do “vô ý trong điều hành” và sẽ nẩy sinh những hệ quả..

Bộ Quốc Phòng sử dụng tài lực, nhân vật lực quân đội (Nha Công Binh/Bộ Quốc Phòng) để xây dựng cơ sở cho một Hiệp Hội (tư).

Một năm sau, Hội Ðồng Quản Trị/QTKQÐ mới chuẩn y công trình và hợp thức hóa quyết định của Bộâ Trưởng Bộ Quốc Phòng - Giới chức nầy ký Quyết Ðịnh Số 1815-QP/TCTT/DD (ngày 14 tháng 8/ 1969) thành lập ba ủy ban: Ủy Ban Hành Sự; Ủy Ban Mãi Dịch; Ủy Ban Kiểm Soát. Ba ủy ban nầy cho phép (Bộ Quốc Phòng/Là chính cá nhân bộ trưởng) được toàn quyền điều hành, quyết định qua tất cả những lãnh vực: Cung cấp vật liệu; Cứu xét, chuẩn y cho những dịch vụ mua sắm thiết bị, phụ tùng xây cất; Phê chuẩn báo cáo tài chánh mua sắm vật liệu, phụ tùng, trang bị; Cứu xét và ký nhận các ngân phiếu chi, thu đối với các nhà thầu.. v.. v

Do những quyền hạn được quy định từ ba ủy ban trên, cá nhân bộ trưởng (dẫu ý hướng trung trực tốt lành bao nhiêu) đã vi phạm nguyên tắc quản trị hành chánh, tài chánh mà điều lệ của Hội Ðồng Quản Trị/QTKQÐ đã định rõ: Ngân phiếu phải có chữ ký của Phát Ngân Viên, Tổng Thư Ký, và Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị. Bộ Trưởng Quốc Phòng (Chủ Tịch Danh Dự) không thể là một trong ba giới chức nầy. Sự vi phạm nguyên tắc hành chánh tài chánh nầy được thể hiện tiếp trong công tác như sau..

Một nữ thương gia trúng thầu hiến giá thành công vụ mua bốn (4) thang máy thiết trí cho tòa nhà với giá tổng cộng là 79.000.000 Ðồng (56 triệu tiền mua 4 thang máy; 23 triệu phí tổn thiết kế). Y thị được Bộ Quốc Phòng (Ai là Bộ quốc Phòng?) can thiệp cho nhập cảng thang máy Hitachi với hối suất song hành 275 Ðồng/Ðô-la Mỹ trong khi Bộ Kinh Tế khuyến cáo nên nhập thang máy Otis (Mỹ) với giá 118Ðồng/Ðô-la. Không mất một đồng xu, không bỏ ra một đồng tiền vốn, y thị chỉ là một người trung gian (giữa chủ nhân tòa nhà với hãng nhập cảng thang máy) đã lấy trọn số tiền lời 17 triệu đồng (không kể số tiền huê hồng trả cho hãng nhập cảng thang máy). Tiếp vụ mười ba máy lạnh (trang bị cho tòa nhà) với một nữ thương gia (lại một nữ thương gia) mất tiêu khoảng 19 triệu đồng cho một chị đàn bà khéo ăn nói, luồn lách!!

Nhưng không chỉ vụ việc liên quan đến tòa nhà Kỹ Thương Ngân Hàng ở Ðường Nguyễn Huệ, từ sai phạm nguyên tắc tổ chức, điều hành, phân quyền như đã nói ở những phần trên, Hội Ðồng Quản Trị Quỹ Tiết Kiệm Quân Ðội và chính cá nhân Chủ Tịch Danh Dự Bộ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Văn Vỹ liên tục vấp phạm những điều cụ thể:

Mua sắm một kiện hàng (2,069 cánh cửa nhôm) không có chứng thư hành chánh hợp lệ từ Trịnh Phương Bình (qua dịch vụ thương mãi của VICCO) với giá 17 triệu đồng; cộng thêm tiền lời cho hai quân nhân môi giới là 8 triệu 250 ngàn; Bình nhận 2 triệu 290 ngàn tiền lời. Cuối cùng lố cửa sắt bị vất đống vì không sử dụng được. Tất cả có nguyên nhân: Bình là chồng của Nguyễn Thị Chuyên, em gái Bộ Trưởng Vỹ.

Công Ty ViCCO do Tướng Lê Văn Kim (bạn chí cốt của Bộ Trưởng Vỹ) mua 650 tấn sắt của Công Ty Hưng Nam với giá 9 triệu Ðồng rồi để không sử dụng; chứ không mua thép của Công Ty Lucia để được bớt đi ba triệu tiền huê hồng trả cho Hưng Nam - Bởi, Giám đốc Hưng Nam là Lê Thị Thương, em gái Tướng Kim.

Chúng ta vẫn có thể bỏ qua những vụ việc coi như nhỏ nhặt trên (dẫu với thất thoát hàng chục, hàng trăm triệu) vì quan niệm rằng, đấy chỉ là những dịch vụ đấu thầu thương mãi thông thường (cho dù có dự mưu nâng đỡ đối với những người có liên hệ với những nhân sự thuộc HÐQT), nhưng không thể bỏ quan những sai phạm nguyên tắc về quản lý mà những người trong Hội Ðồng Quản Trị đã đưa mức độ lạm dụng lên thành một chính sách, một đường lối, một chủ trương hoạt động như sau:

Biệt phái đặc biệt nhân sự: Một tổng số quân nhân (385 người) được biệt phái về làm việc tại Kỹ Thương Ngân Hàng và sáu công ty do quân đội quản lý (như trên đã kể). Sự việc nầy xét ra khả thể chấp nhận nếu như không vi phạm những trường hợp sau: a/ Bộ Quân Luật không hề cho phép quân nhân biệt phái đặc biệt về nhiệm sở tư (cho dù quân nhân Ðịa Phương Quân) b/ Một số quân nhân biệt phái lãnh lương từ các công ty nhưng không bao giờ có mặt tại nhiệm sở. c/Quân nhân biệt phái vẫn lãnh lương quân đội do Bộ Quốc Phòng đài thọ. Tóm lại: Kỹ Thương Ngân Hàng và sáu công ty là: Nơi trốn quân dịch hợp pháp và được trả lương lớn nhất.

Nhưng vi phạm, lạm dụng lớn nhất nằm ở phạm vi điều hành, quản lý. Chỉ một năm 1971, Kỹ Thương Ngân Hàng có những chi tiêu như sau: a/Chi phí nhân viên: 38Tr 119 ngàn Ðồng. b/Chi phí giao dịch đối ngoại: 19Tr. 431 ngàn Ðồng. c/Mua sắm chi phí chung: 25Tr. 744 ngàn Ðồng. Tổng cộng: 83, 285,000 đồng. Bên cạnh tổng số nầy, còn có số liệu trả cho Hội Ðồng Quản Trị: 16, 149, 398.00 Ðồng. Chưa hết, riêng với Mã Hí, Giám Ðốc Phân Bộ Huê Hồng, người có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh cho người đến vay tiền để cá nhân ông ta có huê hồng tính từ 15% lãi suất (số tiền) ông ta vừa đứng bảo lãnh cho kẻ kia vay (vì không tài sản bảo chứng) - Chỉ một năm Giám đốc Mã Hí nhận được từ 15 đến 30 triệu đồng huê hồng chính thức (chưa kể tiền lương và các phụ phí khác).

Trong khi đó Quỹ Tiết Kiệm Quân Ðội ký thác MỘT TỔNG SỐ 249.300.000 Ðồng vào Kỹ Thương Ngân Hàng tức là 99.72% vốn của ngân hàng mà chỉ nhận được một số tiền lời rất nhỏ nhoi. TÓM LẠI MỘT TRIỆU NGƯỜI LÍNH GÓP TỪNG ÐỒNG TIỀN XƯƠNG MÁU MÌNH ÐỂ CHỈ SINH LỢI RIÊNG CHO MỘT THIỂU SỐ GỌI LÀ HỘI ÐỒNG QUẢN TRỊ VÀ HỆ THỐNG NHÂN SỰ DO HỘI ÐỒNG ẤY ÐỊNH ÐẶT.

(Tất cả số liệu của phần trình bày trên trích dẫn từ “NVT sđd trg 276-294”-Bản dịch Việt Ngữ từ văn bản Tiếng Anh của Tòa Ðại Sứ Mỹ, Sài Gòn, 1972)

Tham nhũng quả là một dịch họa, ngày 19 tháng 7, 1972, Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn gởi thông tri về Bộ Ngoại Giao ở Washington, DC với nội dung: Phó Tổng Thống Trần Văn Hương trong buổi viếng thăm Phó Ðại Sứ Mỹ Whitehouse đã có những lời xác định: “Tham nhũng là mối hiểm họa lớn lao tại Nam Việt Nam. Ông đã điềm chỉ nguyên do Trung Quốc rơi vào tay cộng sản là vì tình trạng tham nhũng của chế độ Tưởng Giới Thạch lan tràn. Ông tin rằng nếu không áp dụng những biện pháp mạnh mẽ và khẩn cấp tại Nam Việt Nam, thì Miền Nam cũng chịu số phận tương tự.” Ðó là lời của vị Chủ Tịch Ủy Ban Bài Trừ Tham Nhũng với viên Phó Ðại Sứ nước Mỹ - Chính quyền có quyết định đối với vận mệnh Việt Nam - Và đề tài tham nhũng ở Việt Nam là một vấn đề của bầu cử tổng thống sắp tới tại Mỹ (NVT sđd trg 297). Nhưng khi trở lại với công việc của Tướng Hiếu, cũng là trở lại chức vụ đứng dưới một người tên gọi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, thì dù với bản lãnh của con người tiết tháo, Kẻ Sĩ Trần Văn Hương đôi khi phải lâm vào tình thế khó xử mà Tướng Hiếu có nhận xét: “Phó Tổng Thống Hương không có được thái độ cứng rắn.. Ông ngại đụng chạm đến Tổng Thống Thiệu và Tướng Quang (Ðặng Văn Quang, phụ tá chính trị của Tổng Thống Thiệu).. Một hôm, ông trình hồ sơ về một dân biểu rõ ràng có hành vi tham nhũng, Phó Tổng Thống ghi nhận là dân biểu nầy là thành viên của Khối Thân Chính Quyền, và ngày hôm trước người nầy đã dùng cơm với tổng thống. Phó Tổng Thống khuyến cáo (Tướng Hiếu) không nên theo đuổi vụ nầy!” Một ví dụ khác, Tướng Hiếu báo cáo về Ðại Tá Phạm Kim Quy, chỉ huy Khối Tư Pháp, Tổng Nha Cảnh Sát, mà theo ông đã có những vụ tham nhũng lớn trong Sở Di Trú, một nhánh của Khối Tư Pháp. Phó Tổng Thống cũng tỏ vẻ ái ngại không muốn theo đuổi vụ nầy vì Ðại Tá Quy là người thân cận của Phụ Tá Quang (NVT sđd trg 272).

Tham nhũng không chỉ xẩy ra trong những giới chức cấp cao, nhưng tràn lan khắp nơi, từ một viên sĩ quan trung cấp giữ đơn vị chiến đấu, nay chuyển qua chức vụ chỉ huy hành chánh - “Tướng Hiếu chú thích với viên chức sứ quán (Mỹ): “Tướng Minh, Tư Lệnh Quân Ðoàn III bổ nhiệm Ðại Tá Mạch Văn Trường vào chức vụ Tỉnh Trưởng Long Khánh là để nắm trong tay một thương vụ lâm sản đem lại nhiều lợi tức..” (NVT sđd 273) Tham nhũng xuống đến xã, ấp, những tỉnh xa xôi với đối tượng (truy xét) là những viên chức thi hành Chương Trình Phượng Hoàng nơi các địa phương. Tình hình tồi tệ đến nỗi - “Tướng Hiếu nói là ông sẽ xuống Rạch Giá và Cần Thơ trong hai ngày 19 và 20 tháng 9, 1972 để điều tra hành vi tống tiền, bắt bớ những người tình nghi Việt Cộng, rối đòi đưa tiền chuộc mới thả họ ra.” (NVT sđd trg306)

Và cuối cùng, tham nhũng tấn công ngay tại một đơn vị cao nhất - Cơ quan hành xử Tính Thật của Công Lý. Ngày 1 tháng 9, 1972, Khối Dân Biểu Quốc Gia ra một thông tri tố cáo: “Huỳnh Khắc Dụng, Chánh Biện Lý tại Tòa Sài Gòn bị cáo buộc có nhiều hành vi tham nhũng, lạm quyền, độc tài và hành sự xấu.. Tha bổng kẻ có tội và bắt giam kẻ vô tội, nhằm đòi hỏi kiếm tiền một cách bất lương.. Phó Biện Lý Lưu Văn Ngô, từng bị tù vì tội hối lộ, toa rập với Dụng để thả Trần Văn Ken, chánh phạm vụ ăn cắp xăng ở Nhà Bè...” (NVT sđd trg 303) Chắc hẳn Ken không lấy vài trăm, hoặc vài ngàn lít xăng để tuông ra bán lẻ; nhưng hãy Tướng Hiếu nói cùng viên chức sứ quán Mỹ (ngày 14 tháng 9, 72): “..Có chỉ dấu là xăng ăn cắp từ Nhà Bè đã được chuyển qua Campuchia bán cho Bắc quân!!” (NVT sđd trg 304). Nếu không có số lượng xăng khổng lồ nầy tuồng ra từ những kho xăng ở Nhà Bè, những chiến xa của cộng sản di chuyển từ Bắc vào chỉ là những khối sắt nằm ụ, vô dụng mà thôi.

Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu có thể làm gì hơn với mối uất hận mỗi ngày mỗi trùng lấp, và nỗi đau ắt sẽ đến càng dần hiện rõ: “Hoặc chúng ta tự sửa lỗi lấy hoặc cộng sản sẽ sửa lỗi cho chúng ta” (NVT sđd trg 304)

Ðến đây hẳn chúng ta đã hiểu ra: Tại sao Ngũ Tử Tư chỉ một đêm âu lo vận nước, sáng mai tóc đà hóa trắng – Hóa ra chỉ Kẻ Sĩ – Người Hào Kiệt luôn là nạn nhân đầu tiên lâm vào những tình huống kiệt cùng bi thảm nhất.

Cái chết của Một Người Lính:

1973, Tướng Nguyễn Văn Hiếu trở về quân đội do yêu cầu của Tướng Phạm Quốc Thuần với Tổng Thống Thiệu: Vùng III Chiến Thuật cần phải có một tướng lãnh xuất sắc mới có thể đương cự với tình hình quân sự càng ngày càng xấu. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu được đề cử giữ chức vụ Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn III, dưới quyền Tướng Thuần. Tình huống khả năng chiến đấu quân đội Miền Nam bị hạn chế toàn diện do Hie p Ðịnh Paris ký ngày 27 tháng 1, 1973 áp đặt, qua việc Quốc Hội Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ, thêm Ðạo Luật về “Quyền Lực (của Hành Pháp đối với) Chiến Tranh - War Powers Act” đã được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn (1974) chặt đứt tất tất cả khả năng của bất kỳ vị tổng thống nào dù có “thiện chí” cứu viện Việt Nam đến bao nhiêu.

Tháng 9, 1974 Tổng Thống Nixon từ nhiệm mang theo tất cả ký kết (cho là thật lòng) với Tổng Thống Thiệu; Tổng thống không do dân cử Gerald Ford kế vị, hứng chịu gánh nặng chiến tranh Việt Nam đang hồi tàn cuộc với cắt giảm viện trợ (cho Miền Nam) theo mức độ “đáng kinh sợ”, 50% mỗi năm kể từ Hie p Ðịnh Paris.. Năm 1973, 2.1 tỷ; 1974 xuống 1.4 tỷ; và tài khóa dự trù cho năm 1975: 700 Triệu! (Henry Kissinger Ending the Vietnam War Simon and Schuster New York, 2003 p493). Trước 1973, quân đội Việt Nam trên chiến trường một pháo đội (sáu khẩu 105 ly) có thể bắn 10 tràng (60 viên đạn) để dọn bãi cho một mục tiêu trước khi đổ quân, nay với số tiền viện trợ quân sự lẫn kinh tế cho một quốc gia đồng minh như thế nầy, chỉ còn đúng “Bốn (4) viên cho Một ngày hành quân đối với Một khẩu pháo”. Và chẳng cần đọc đến báo cáo của Ngoại Trưởng Kissinger trình Tổng Thống Ford về khả năng yểm trợ chiến đấu cho Miền Nam: “Không quân giảm 50% hoạt động của 11 phi đoàn chiến đấu; Hải quân giảm từ 30 đến 82% hoạt động hành quân; Bộ Binh chỉ còn 1/4 đạn dược dự trữ tối thiểu...” (Kissinger idid p 496); Hà Nội cũng đã thấy thấy rõ lần mất máu của Miền Nam qua thống kê: “Pháo binh bị giảm 3/4 số đạn tiêu thụ; Không quân chỉ còn 1/5 hoạt động; số lượng phi cơ sử dụng được giảm 70%; trực thăng giảm 80%... (Tạp Chí Học Tập, Hà Nội, số Tháng Giêng/1975)”

Bởi hai bên (Mỹ và Cộng sản) biết rõ (và biết đúng) nhau như thế, nên đến tháng 10, 1973 Trung Ương Ðảng Hà Nội ban hành Nghị Quyết 21 (biến thành Nghị Quyết 12 của Trung ương Cục Miền Nam) nhất quyết thực hiện: “Quyết chiếm Miền Nam bằng vũ lực, giành thắng lợi từng phần.. Tiến tới thắng lợi cuối cùng”. Nghị quyết không là chữ nghĩa suông - Mặt Trận Phước Long bùng nổ ngày 13 tháng 12, 1974 - Lần đầu tiên sau Hie p Ðịnh Paris, một tỉnh Miền Nam bị cưỡng chiếm. Những biện pháp do Bộ Quốc Phòng Mỹ đưa ra:1/Tăng cường thám sát trên không phận Bắc Việt.2/Chuyển hướng hoạt động của Hàng Không Mẫu Hạm Enterprise thay vì đến Ấn Ðộ Dương, nay hướng về Vịnh Bắc Bộ. 3/Khai triển phi cơ chiến đấu F4

đến Phi và Thái Lan; đưa B52 từ Hoa Kỳ đến đảo Guam. Ngoại trưởng Kissinger có ý kiến về những đề nghị nầy: “Theo kinh nghiệm riêng của tôi, khi chúng ta rụt rè thì sẽ thua cuộc. Còn khi mạnh mẽ xông xáo thì thế nào cũng thành công.” (Kissinger ibid p.505). Nhưng tất cả chỉ là đề nghị và ý kiến, vì quốc hội Mỹ hiện tại đang bị phe McGorven chế ngự - Và viên nghị sĩ nầy thì nhất quyết trả thù vụ mất mặt do lần thất bại bầu cử tổng thống năm 1972 vừa qua; cũng như Ngũ Giác Ðài đồng ngại phải ứng phó với quốc hội, và giới truyền thông nếu vì dính líu vào lại Việt Nam. Tàu Enterprise không bao giờ trở lại vùng biển Ðông Dương, Vịnh Bắc Việt, nên ở Hà Nội, trong buổi họp Bộ Chính Trị cuối năm 1974, Phạm Văn Ðồng nói lời chắc nịch: “Cho tiền đi nữa, Mỹ cũng không dám nhận để quay lại can thiệp (ở Việt Nam)” (Kissinger ibid p507)

Ngày 10 tháng 3, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Miền Bắc, Tướng Văn Tiến Dũng xua năm sư đoàn chính quy tiến chiếm Ban Mê Thuột. Ngày 13 tháng Ba, những giới chức cầm đầu miền Nam gọi là “tổng thống, thủ tướng, cố vấn (chính trị) tổng thống, tổng tham mưu trưởng..” họp nhau tại Cam Ranh để đi đến quyết định: Rút bỏ toàn bộ lực lượng quân sự Quân Ðoàn II từ Pleiku xuống đồng bằng theo Tỉnh Lộ 7 qua Phú Bổn (Cheo Reo).. Con đường, những vị trí quân sự mà quân dân Tây Nguyên phải trả bằng giá máu để gìn giữ từng tất đất mười năm trước khi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu còn là vị Ðại Tá Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn đã huân công giữ nước. Cơn suy sụp dây chuyền kéo theo như điều tất yếu.. 24 Tháng Ba mất Huế, 30 tháng Ba mất Ðà Nẵng, 31 mất Nha Trang. Riêng tại Vùng III, Liên Ðoàn 5 Biệt Ðộng Quân phải rời bỏ An Lộc, co cụm về Chơn Thành, và Chơn Thành, chỉ cách Sài Gòn hơn 50 cây số đường thẳng bắt đầu bị pháo kích, tấn công.. Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn III, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu hứng chịu một lần gánh nặng chiến trận của ba đời tư lệnh để lại: Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, Trung Tướng Dư Quốc Ðống, và Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn. Cũng như vận nước truân chuyên, Tướng Hiếu phải trải qua những biến cố vô hồi dồn dập: Ngày 2 Tháng Tư, 1975 ông bay ra Phan Thiết, nhận bàn giao với Tướng Phạm Văn Phú về những thành phần còn lại của Quân Ðoàn II, của Quân Ðoàn I từ ngoài Trung tán loạn chạy vào... Nhưng Tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã là một người “sợ đến cái bóng của mình” theo mô tả của Tướng Vĩnh Lộc; đêm đêm phải thay đổi chỗ ngủ (theo lời của Nguyễn Cao Kỳ), nên sau khi ra lệnh Tướng Hiếu nhận chức Tư Lệnh Tiền Phương QÐ III, ông ta thấy ngay mối nguy hiểm (bởi đã quá nhiều tưởng tượng đối với với cái chết mười-hai năm trước của Cố Tổng Thống Diệm) khi giao quân vào tay của một người dũng lược, trung chính, nên ông Thiệu sửa lại quyết định: Thiếu Tướng Hiếu khẩn bàn giao chức tư lệnh tiền phương lại cho Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, viên tư lệnh Quân Ðoàn IV vừa bị mất chức bởi tội tham nhũng mấy tháng trước. Chưa yên tâm về Tướng Hiếu, sáng ngày 6 tháng Tư, 1975; Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu triệu Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu về Dinh Ðộc Lập. Sáng 8 tháng Tư, phi công Nguyễn Thành Trung lái chiếc F5E trút bom xuống dinh - Mối lo sợ của Tổng Thống Thiệu đã hiện thực. Cùng ngày 8, Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, cựu Tư Lệnh Sư Ðoàn Sư Ðoàn 23 hơn tháng trước đây ở Ban Mê Thuột, sau một thời gian dưỡng thương (của một vết thương do trầy sướt) nay được chỉ định chức Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn III mang một số lính thân tín (từ Quân Ðoàn II xuống) đến thay thế toán quân cảnh an ninh gác bộ tư lệnh. Có tiếng nổ từ văn phòng của Tướng Hiếu- Hai chứ không phải một - Theo lời một nhân chứng bất ngờ (Trung Tá Vĩnh Hồ từ Quân Ðoàn II xuống, đang ngồi đợi trình diện Tướng Toàn ở phòng bên cạnh văn phòng Tướng Hiếu). Gia đình Thiếu Tướng Hiếu nhận được tin vào buổi chiều (7 giờ), báo tin ông bị nạn do khi lau chùi súng (vào buổi chiều từ 5:30 đến 6 giờ) - Vụ Án thật sự không phải là quá bí ẩn để tìm hiểu - Chúng ta sống lại những giờ phút uất hận oan khiên của Người chết cùng Vận Nước bằng duyệt xét lại nhân sự và vụ việc Ngày 8 Tháng 4, 1975 tại Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III, ở Biên Hòa:

1. Những nhân chứng trung tâm (Theo thứ tự liên quan đến diễn tiến vụ án):

- Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn III, trưởng nhiệm sở, chỉ huy trực tiếp Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư Lệnh Phó. Theo lời kể của Ðại Úy Ðỗ Ðức, Chánh Văn Phòng: “Ngày hôm đó tình hình rất căng thẳng. Lệnh cấm trại 100%. Cả ngày hôm đó Tướng Toàn làm việc trong văn phòng tại Bộ Tư Lệnh. Tôi ngồi trực phòng kế bên, đối diện với văn phòng Tướng Hiếu. Tôi nhớ rõ ngày đó Tướng Toàn không họp với Tướng Lý Tòng Bá (Tư Lệnh SÐ25BB, một nhân chứng sẽ kể sau). Khoảng 5 giờ 30 chiều, Tướng Toàn sai tôi gọi xe về tư dinh cạnh Tòa Hành Chánh Biên Hòa (xe chạy mất khoảng 10, 15 phút). Ðại Úy Ðức đi nhậu với hai viên phi công Lượng, Cửu (lái trực thăng cho Tướng Toàn); khoảng 10, 15 phút sau, ba người được tin “Tướng Toàn đã trở về bộ tư lệnh cùng một viên cận vệ.” Ðại úy Ðức vội trở về bộ tư lệnh, thấy tấp nập quân cảnh qua lại. Tướng Toàn ra lệnh niêm phong văn phòng Tướng Hiếu. (NVT sđd trg 142-143).

Cũng liên quan đến Tướng Toàn (sau 5:30 chiều ngày 8/4 theo như lời kể trên), tại hiện trường: “Ðại Tá Khuyến (Trưởng Sở An Ninh Quân Ðội Vùng III); Ðại Tá Lương (Tham Mưu Phó Hành Quân QÐIII) và Tướng Toàn cùng nhau đi qua văn phòng Tướng Hiếu. Các nhân viên quân cảnh đang vẽ họa đồ hiện trường. Một nhân viên lấy thang leo trên trần nhà để tìm viên đạn súng lục văng lên đó, nhưng không tìm thấy.. Một chập tự nhiên Tướng Toàn reo lên: “Viên đạn đây rồi! Viên đạn đây nè!” (NVT sđ trg 132).

Trong thư đề ngày 10 tháng 3, 1999 gởi Tác Giả Nguyễn Văn Tín, Tướng Toàn viết: “...Nhưng bất ngờ vào ngày (không nhớ) lúc bay hành quân về thì được tin anh Thiếu Tướng Hiếu đã tử nạn ở văn phòng. Tôi liền bay đến văn phòng Thiếu Tướng Hiếu thì tôi thấy anh ấy đã chết bởi một viên đạn súng lục trổ từ mắt lên đầu và chết nơi bàn giấy.” (NVT sđd trg 28)

- Chuẩn Tướng Lê Trung Tường Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn III có lời kể:”.. Tôi nhớ buổi chiều xẩy ra chuyện bất ngờ.. Anh Hiếu sau khi đi công tác về đã vào phòng tôi mời tôi đi ăn cơm chiều. Lúc đó tôi quá bận rộn với công việc giấy tờ, hẹn anh khi tôi xem xong công văn sẽ qua mời anh... Lúc đó anh trở về phòng, chỉ cách phòng tôi độ 30 thước. Sau độ 15 phút, nghe tiếng súng nổ, nhân viên văn phòng anh Hiếu chạy qua phòng tôi cho biết trong phòng anh Hiếu có tiếng súng. Tôi bèn gọi Quân Cảnh Tư Pháp đến mở cửa điều tra. Sau mấy phút, QC/TP mở cửa để điều tra thì thấy anh Hiếu đã nằm cạnh bàn làm việc của Anh ta với một khẩu súng lục. Ðạn xuyên qua đầu, vết thương quá nặng nên Anh đã qua đời... (Thư viết từ Sài Gòn, ngày 26/5/2002 NVT sđd trg 144).

Liên quan đến vụ việc, nhân sự Lê Trung Tường đã có hành động: Trong ngày 8/4/1975 một nhóm lính mặc đồ trận trellis do Chuẩn Tướng Lê Trung Tường cầm đầu tới Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III đuổi lính gác quân cảnh đi hết (NVT sđd trg136). Chi tiết nầy được Trung Tá Quyến, Chỉ Huy Trưởng Quân Cảnh/Quân Ðoàn III xác nhận (với Tác Giả NVT) ngày 23 tháng 1, 1999. (NVT sđd trg 139)

- Ðại Tá Tạ Thanh Long, Trưởng Ðoàn Liên Hợp Quân Sự 4 & 2 Bên (Khu vực Biên Hòa; Bạn cùng Khóa 3 với Thiếu Tướng Hiếu) xác nhận: “...Qua điện đàm sáng ngày 2 tháng 1, 1999, tôi (Ðại Tá Long) xin xác nhận: Tướng Hiếu đã chết sau giờ họp tổng kết hành quân buổi chiều (khoảng sau 6: 30) thay vì tin đồn đến với ông (N.V. Tín) là Tướng Hiếu chết vào ban trưa... Với cương vị Trưởng đoàn quân sự VNCH Ban Liên Hợp Quân Sự 4 & 2, tôi có bổn phận đến quân đoàn họp lúc 5 giờ mỗi buổi chiều... Chiều hôm đó, tôi đến họp thì Tướng Hiếu chủ tọa, tôi được biết Tướng Toàn tư lệnh đang bận tại Bộ Chỉ Huy Tiền Phương đóng tại Gò Dầy Hạ, Tây Ninh. Lúc vào họp, Tướng Hiếu ngồi chính giữa; bên trái có Tướng Ðào Duy Ân TMT (Ðại Tá Long nhớ lầm chức vụ của Tướng Ân: Tư Lệnh Phó Ðặc Trách Lãnh Thổ, chứ không là Tham Mưu Trưởng- PNN), và Ðại Tá Phan Huy Lương, Tham Mưu Phó/Hành Quân. Bên phải có ông Peters Tổng Lãnh Sự Biên Hòa, và tôi (ÐT/Long). Sau giờ họp, Tướng Hiếu, Tướng Ân và tôi ra phòng khách uống trà. Tướng Hiếu khoe với tôi trước mặt Tướng Ân: “Collection pistolet của moa đã lên đến con số 37.. Moa vừa có một cây P.38, đã đưa cho quân cụ xoáy lại rayures (Khương tuyến: Rãnh nòng súng), để moa lấy cho toa xem.” Tướng Hiếu nói đến đây thì Ðại Tá Lương mời tướng Hiếu xuống dùng cơm... Xe tôi chạy đến Hotel de la Piscine Biên Hòa (trụ sở Ủy Ban Quốc Tế), tôi ghé vào 20 phút để nói qua các vi phạm của Việt Cộng.. Về đến văn phòng (chưa kịp xuống xe), Trung Tá Thắng báo cáo: Ðại Tá Lương cần gặp đại tá gấp. Tướng Hiếu đã chết”. Tôi quay lại bộ tư lệnh thì thấy quân cảnh đã vây chặt văn phòng bộ tư lệnh, tôi hỏi Ðại Tá Lương: “Chuyện gì xẩy ra?” Ðại Tá Lương trả lời: “Sau khi dùng cơm, Tướng Hiếu trở lại văn phòng, sau vài phút có tiếng súng nổ, lính gác vào xem, nhìn thấy Tướng Hiếu đang gục trên bàn với máu me... Tôi mời đại tá qua chứng vì đại tá và thiếu tướng là bạn cùng khóa, thân nhất tại quân đoàn. (NVT sđd trg 135)

- Ðại Tá Phan Huy Lương, Tham Mưu Phó Hành Quân/QÐIII (qua cuộc điện đàm với N.V. Tín, tháng 7/1999): “..như thường lệ, khoảng 5, giờ hoặc 5:30 chiều, Tướng Hiếu, Tướng Tường, Ðại Tá Lương ngồi nói chuyện chơi tại văn phòng tham mưu trưởng trong khi chờ tới giờ ăn cơm chiều. (Ngày 8/4-Pnn) Ðại Tá Lương mời Tướng Hiếu đi xơi cơm. Tướng Hiếu về văn phòng tư lệnh phó lấy đồ riêng; một chập sau có tiếng súng nổ, quân cảnh chạy vào xem rối lại chạy trở ra báo cáo bị nạn; một lát sau Ðại Tá Lương thấy Tướng Toàn xuất hiện. Phần ông thì quá buồn bực và bối rối nên không còn để tâm theo dõi tình hình xảy ra... Ông cũng không kêu điện thoại báo cho ai cả, và chỉ biết Bà Tướng Hiếu tới bộ tư lệnh quân đoàn lúc 9, 10 giờ tối.” (NVT đd trg 140)

- Ðại Tá Nguyễn Khuyến Chỉ Huy Trưởng An Ninh Quân Ðội Quân Ðoàn III có lời: “..chuyện xẩy ra có lẻ cũng đến một phần tư thế kỷ, nhưng tôi còn nhớ diễn tiến như sau: Buổi sáng đó có buổi họp với Tướng Hiếu lúc 10 giờ tại văn phòng ông. Buổi họp kéo dài đến 12 giờ.. Tôi trở về văn phòng tôi cách bộ tư lệnh khoảng 10 phút lái xe. Tôi sửa soạn đi ăn trưa với những người bạn ở Sài Gòn lên thì Phòng An Ninh Quân Ðoàn điện thoại báo cho biết Tướng Hiếu đã dùng súng tự vận tại văn phòng. Tôi rất bàng hoàng và kinh ngạc vì đó là chuyện khó tin. Tôi mới chào từ biệt ông cách đấy 15 phút sau buổi họp. Tôi vẫn thấy ông vẫn vui vẻ như thường lệ... Tôi vội vã lên xe jeep phóng qua bộ tư lệnh. Khi tôi đến xe hồng thập tự đã chở xác tướng Hiếu vào bệnh viện. Tôi không biết làm gì hơn là vào gặp Ðại Tá Phan Huy Lương. Theo lời kể của Ðại Tá Lương.. “Thì vào khoảng 12 giờ mọi người ở gần văn phòng Tướng Hiếu có nghe một tiếng súng lục trong phòng của Tướng Hiếu. Ðại Tá Lương chạy qua thì thấy Tướng Hiếu nằm bất động trên ghế bành ở bàn giấy. Một dòng máu tươi chảy chan hòa xuống mặt và ngực. Một viên đạn đã xuyên qua trán đi thắng lên óc. Viên đạn nầy còn có trớn bay lên trần nhà, xoi thủng một lỗ... Viên đạn nầy đã kế liễu đời Tướng Hiếu. Trong tay Tướng Hiếu còn cầm một khẩu súng lục... Việc đầu tiên (của Ðại Tá Lương) là quay điện thoại báo bác sĩ của quân đoàn... và tiếp đó gọi báo cho quân cảnh tư pháp của quân đoàn. Ðại Tá Lương còn cẩn thận không cho ai bước vào văn phòng Tướng Hiếu trước khi nhân viên quân cảnh đến lập biên bản, điều tra..” Khi tôi (ÐT/Khuyến) bước vào phòng Tướng Hiếu thì thấy mấy nhân viên quân cảnh đang vẽ họa đồ trên tường. Không có dấu hiệu gì có sự xô xác. (Thư San José, ngày 18 tháng 7, 1998 của Ðại Tá Khuyến gởi NVT - NVT sđd trg 128)

Ðại Tá Khuyến có thêm ý kiến: “Không có bằng chứng nào về giả thuyết Tướng Hiếu bị ám sát hay tự sát... Theo lời Trung Tá Quyến, Chỉ Huy Trưởng Quân Cảnh Quân Ðoàn thì đây là “một vụ tai nạn súng lục cướp cò súng”... Trước đó ít lâu, ông (Tướng Hiếu) được ai đó biếu một khẩu súng lục.. nhưng phiền nó hay cướp cò, cái khóa an toàn bị hỏng, ông đã giao cho Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận sửa đi sửa lại mấy lần.. Ðấy là tin tức nghe được từ Ðại Tá Khang, chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận kể lại (NVT sđd trg 129)

- Trung Tá Quyến, Chỉ Huy Trưởng Quân Cảnh/QÐIII. Ngày 12/1/1999, Trung Tá Quyến quả quyết với tôi (NVT): “Tướng Hiếu chết vào khoảng sau 6 giờ chiều. Ngày hôm đó (8/4/75), Chuẩn Tướng Lê Trung Tường đem một toán quân mặc đồ trận đến BTL/QÐIII đuổi hết quân cảnh thuộc quyền ông đi nơi khác. Chiều hôm đó, sau khi tắm xong khoảng 6 giờ rưỡi chiều, ông (TT/Quyến) ghé vào bộ tư lệnh thì thấy Tướng Hiếu còn ngồi tại bàn giấy trong văn phòng.” (NVT sđd trg 139). Trung Tá Quyến nói thêm: “Khi phải điều tra vụ án mạng, ông sợ cho tính mạng nhân viên quân cảnh tư pháp của ông, nên phải lập mưu kéo thêm nhóm cảnh sát của Ðại Úy Thịnh Văn Phúc, cùng nhóm chiến tranh chính trị của Ðại Tá Nguyễn Hùng Khanh vào điều tra để giảm bớt trách nhiệm, áp lực từ trên giáng xuống. (NVTsđd trg 139)

- Bác Sĩ Lý Ngọc Dưỡng, Y Sĩ Trung Tá Chánh Văn Phòng Trung Tướng Tư Lệnh Nguyễn Văn Toàn: (Ðiện đàm với NVT ngày 31 tháng 8, 2004): “Tôi còn nhớ rõ sự việc ngày Tướng Hiếu ngộ nạn. Ngày hôm đó rất là bận rộn vì sáng đó Dinh Ðộc Lập bị giội bom, và tôi phải soạn thảo bản thảo thông cáo cho Tướng Toàn sẽ đọc trên đài phát thanh về vụ ném bom để trấn an quần chúng. Trong khi đó văn phòng Tham Mưu Trưởng kế bên văn phòng tôi đang có cuộc họp về Nhân Dân Tự Vệ với sự tham dự của Tướng Hiếu, Tướng Ân, Ðại Tá Khuyến, và một Ðại Tá, BCH Cảnh Sát Quân Ðoàn III (không nêu tên).. Khoảng 6 giờ, Tướng Toàn bước qua văn phòng tôi (Y Sĩ Dưỡng) nói ông đi về tư dinh ở Biên Hòa. Tôi cùng leo lên xe đi theo Tướng Toàn, trên xe có Ðại Úy Ðức.. Khi bước ra văn phòng, tôi nghe Tướng Hiếu rũ Tướng Tường đi ăn cơm, và nghe Tướng Tường trả lời: “Anh đợi tôi đi tắm cái đã”.. Tại tư dinh Tướng Toàn, điện thoại reo, tôi bốc điện thoại, đầu dây bên kia Tướng Tường báo tin: “Tướng Hiếu chết rồi”. Tôi chạy qua thông báo cho Tướng Toàn, lúc đó chưa kịp cởi xong dây giầy. Chúng tôi trở lại bộ tư lệnh, trên xe có Ðại Úy Ðức. Khi bước vào văn phòng Tướng Hiếu, tôi tự nhiên buột miệng dặn Tướng toàn đừng sờ mó gì kẻo để lại dấu tay. Tôi thấy cảnh tượng Tướng Hiếu ngồi trên ghế, đầu gục trên mặt bàn, cánh tay trái đặt trên bàn, cánh trái thõng xuống đất, có khẩu súng lục nằm dưới mặt đất bên cạnh bàn tay. Tôi nhận xét thấy viên đạn xuyên từ cổ... ờ.. ờ.. ờ... (nguyên văn điện đàm) không phải vậy, xin nói lại.. từ hàm bên phải trổ lên màng trang bên trái. Tướng Toàn không lại gần bàn giấy mà chỉ đứng dựa vào thành cửa, và tôi mục kích Tướng Toàn khóc, đây là lần thứ hai.. (NVT sđd trg 147)

2. Những chứng nhân ngoại vi:

- Bác Sĩ Lý Khánh Trí, Y Sĩ Quân Ðoàn III. Bác Sĩ Trí do bị stroke, nên khi Tác Giả Nguyễn Văn Tín hỏi về vết thương của Tướng Hiếu thì người nầy không nhớ được gì. Nên chỉ ghi lại lời của Bác Sĩ Trí nói cùn một thân nhân của gia đình khi đến viếng xác ba- mươi năm trước (1975): “Viên đạn đi vào cằm, gặp xương hàm quá cứng không đi thẳng lên đỉnh đầu được, đã phải rẻ xuống đâm ra sau ót, khiến Tướng Hiếu chết tốt, không biết đau đớn.” (NVT sđd trg182). Về định vị vết thương, và đường đạn đi, Tác Giả Nguyễn Văn Tín có xác định: “Riêng cá nhân tôi khi viếng xác anh mình, nhìn tận mắt thấy viên đạn xuyên vào cằm bên trái rồi chui ra đằng sau đỉnh đầu về phía phải.” (NVT sđd 148); hoặc: “Tôi (NVT) chỉ thấy viên đạn để lại một dấu chấm đen nhỏ xíu ở cằm bên trái, cách góc mép môi bên trái 1cm, khoảng 45 độ hướng về phía dưới. Viên đạn cũng để lại một vết đen nhỏ xíu trên đỉnh đầu bên phải (chứ không phải đằng sau ót như viên bác sĩ (Bác Sĩ Trí) trình lại với thân nhân (NVT sđd trg 130).

Cũng liên quan đến vấn đề (định vị vết thương, và đường đạn đi) trên, Ðại Tá Tôn Thất Soạn, Nguyên Lữ Ðoàn Trưởng TQLC, Tỉnh Trưởng Hậu Nghĩa có xem một xấp mười tấm hình (về cảnh chết Tướng Hiếu) do Trung Tá Cảnh Sát Phạm Khắc Ðạt, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Hậu Nghĩa giao lại; Trung Tá Ðạt có thắc mắc: Tướng Hiếu thuận tay mặt; sao vết thương lại do một người thuận tay trái gây nên” (Gặp gỡ ngày 2 tháng 10, 2004 tại New Jersey. NVT Sđd trg 149)

- Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 BB: Mới đây, trong dịp điện đàm với Tướng Bá, tôi (NVT) hỏi: Có phải Tướng Toàn bắn anh tôi không? Ông (Tướng Bá) trả lời: “Chắc không phải Tướng Toàn bắn đâu, vì lúc đó tôi đang họp với ông ta. Sau buổi họp trên đường đi thì nghe quân lính lao xao nói Tướng Hiếu vừa chết trong văn phòng. Vì phải gấp rút lên máy bay ra mặt trận, nên tôi không có thì giờ nghe ngóng thêm tin tức” (NVT sđd trg 122)

- Ðại Tá Nguyễn Văn Y, Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo: Khi gặp tôi ở Nữu Ước (1986) khẳng định: “Tướng Toàn chứ không ai vào đó cả” (NVT sđd trg 122); Và: “Tội nghiệp tướng Hiếu chết chưa kịp ăn cơm trưa” (NVT sđ trg 138)

- Ðại Úy Ðỗ Ðức, Sĩ Quan Tùy Viên Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn: “..Tướng Toàn đã ra lệnh niêm phong văn phòng Tướng Hiếu, nên tôi không thấy cảnh Tướng Hiếu chết làm sao. Ðiều mà tôi chắc chắn là Tướng Toàn không thể nào bắn Tướng Hiếu vì tôi ở sát ông cả ngày hôm đó đến khi ông về nhà sau 5 giờ rưỡi chiều... Nếu Tướng Toàn nói ông hay tin Tướng Hiếu bị nạn khi đang bay trực thăng là ông nhớ sai vì sức khỏe sa sút... Hai thiếu tá phi công Lượng và Cửu đều (đang) ngồi ăn nhậu với tôi thì làm sao ông bay trên trời lúc đó được.” Ðại Úy Ðức nêu thêm ý kiến: “Nếu Tướng Hiếu bị ám sát thì tên sát nhân phải là người rất quen thuộc với ngõ ngách quanh co trong bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn. Chính tôi, sau khi về đó 2, 3 tháng vẫn còn hay lạc khi phải đi từ văn phòng nầy qua văn phòng khác.” (NVT sđd trg 143)

- Chuẩn Tướng Trần Ðình Thọ (Trưởng Phòng Ba Bộ Tổng Tham Mưu). Cuối tháng 8, 1998 nhân có mặt tại Virginia, tôi (NVT) ghé thăm Chuẩn Tướng Thọ thì được ông xác nhận: “Tướng Hiếu chết vào buổi trưa. Vì ông nhớ rõ, trưa ngày hôm đó ông bận việc sắp sửa đi ăn cơm trưa (trễ) thì nhận được điện thoại của Ðại tá Lương” (NVT sđd trg 138)

- Ðại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn II: Trung Tướng Toàn nói với ông (ÐT/Lý): “Tướng Hiếu chết vào buổi trưa” (NVT sđd trg 138)

- Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Xung Kích/QÐIII: Qua cuộc điện đàm vào tháng 6/1999, ông (CT/Khôi) xác nhận là: “Tướng Hiếu chết vào buổi trưa, vì ông nhớ là ngày hôm đó, Tướng Hiếu họp với ông lúc 8:30 sáng tại Gò Dầu Hạ, khoảng 9:30 Tướng Hiếu bay về Biên Hòa; vài giờ sau ông hay tin Tướng Hiếu chết.” (NVT sđd trg 138)

- Ðại Tá Nguyễn Trọng Ðàm, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Vùng II: Là nhân sự độc nhất thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II có mặt tại Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III trong buổi sáng ngày 8/4/75. Ðại Tá Ðàm tiếp xúc với tác giả (NVT) qua điệm đàm kéo dài 45 phút (không ghi rõ thời gian, địa điểm-pnn): Ông (NTÐ) nói sáng ngày Tướng Hiếu chết ông có mặt tại BTL/QÐIII và trở về Sài Gòn sáng hôm đó. Ðến chiều thì Y Sĩ Trung Tá Dưỡng điện thoại báo tin Tướng Hiếu chết. Khi tôi (NVT) nói: “Ðại Tá Khuyến xác nhận là Tướng Hiếu chết vào buổi trưa”, thì Ðại Tá Ðàm quả quyết ngay là: “Ðại Tá Khuyến nói sai vì 2 giờ trưa ông còn có mặt tại Quân Ðoàn III” (NVT sđd trg 146)

Kết từ:

Ðến đây, chúng ta có thể ngưng lại câu chuyện về Con Người Trung Liệt Nguyễn Văn Hiếu đễ có thể đi đến một kết luận chung nhất về cái chết của Người: Báo hiệu cơn lâm tử uất hờn của cả Miền Nam - Của mỗi Người Lính Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa. Chúng ta hẳn cũng không cần thiết phải tìm câu trả lời (thật ra rất dễ dàng đối với cơ quan, chuyên viên tội phạm học, kể cả những người có vài kiến thức căn bản về ngành, nghề điều tra án mạng cho dù các nhân chứng ném tung một khối trả lời hỗn loạn, đối nghịch nhau) về những chi tiết: Ai đã ra lệnh giết Người? Ai là kẻ sát nhân đã bắn vào Người Trung Chính? Người đã chết lúc ban trưa, hay chiều tối, bởi loại vũ khí nào? Tất cả đã là vô ích vì Người Lính Ðã Chết. Những luận cứ tầm phào, thô thiển để che lấp về âm mưu sát nhân như: Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu đã tự sát; hoặc sau đó: Thiếu Tướng Hiếu bị cướp cò khi chùi súng?!! Quả tình không thể đánh lừa được ai vì đấy là Người Tín Ðồ Công Giáo thuần thành với Ðức Tin bền đỗ. Là một xạ thủ súng colt thượng thặng. Và toàn Quân-Dân đang ở trong TÌNH CẢNH NHỮNG NGÀY QUYẾT ÐỊNH CỦA CHIẾN CUỘC VIỆT NAM VỚI VẬN NƯỚC ÐANG BỊ ÐE DỌA TỪNG PHÚT GIỜ NGẮN NGỦI. Thêm buổi sáng Dinh Ðộc Lập bị giội bom. Chúng ta nắm vững sự kiện nầy với những hệ quả được nêu ra như sau: Khi Dinh Ðộc Lập bị giội bom, Tổng Thống Thiệu hoảng hốt lo sợ một cuộc đảo chánh khởi phát. Ông ra lệnh xác định vị trí các tướng tá khắp bốn quân khu thì được cơ quan tình báo của Tướng Quang (Ðặng Văn Quang, Cố vấn chính trị) cho biết ai nấy đều ở vị trí bình thường, duy chỉ có Tướng Hiếu đang ở Gò Dầu Hạ họp bàn gì với Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư Lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III (NVT sđd trg 180). Tổng Thống Thiệu nghi ngay có dự mưu đảo chính giữa hai người, cũng do việc Tướng Minh (Cựu Tư Lệnh Quân Ðoàn III) đã báo cáo về âm mưu đảo chánh từ trước (tháng 6/1971) nhân khi hai người phối hợp trong trận triệt thoái Snoul. Tình hình của tháng Tư, 1975 còn nguy kịch hơn với kế hoạch (chứ không còn là dự tính suông) sẵn có của Nguyễn Cao Kỳ, dùng lực lượng không quân, nhảy dù, thủy quân lục chiến, thiết giáp để: “Chỉ cần chiếm giữ dinh tổng thống, trụ sở và nhân sự bộ tổng tham mưu, đài phát thanh và truyền hình là nắm trọn cả Miền Nam...” Kỳ không giấu giếm kế hoạch nầy, bàn thảo với những tướng, tá thân cận như Lê Nguyên Khang, Nguyễn Ngọc Loan, Phan Phụng Tiên v.v... (và sau nầy đề nghị trực tiếp với cả Tổng Thống Hương) đến nỗi Chỉ huy trưởng CIA Mỹ ở Sài Gòn (Eric Von Marbord) phải ngỏ lời từ chối (yểm trợ) (Olivier Todd; Cruel Avril Robert Lafont, Paris, 1978 pp 326-349). Tổng Thống Thiệu hẳn biết thế nên “đã xé lẻ Sư Ðoàn Nhảy Dù” không thương tiếc (Lê Quang Lưỡng (Lê Bá Chư hiệu đính): Thiệu Ðã Xé Lẻ Sư Ðoàn Nhảy Dù Như Thế Nào? Tạp Chí Hồn Việt, CA, 1982). Hơn thế nữa, tháng Tư lại là thời điểm ám ảnh thực sự bởi cái chết (sau khi mồ người thân sinh ở Làng Ninh Chữ, Phan Rang bị quân, dân phẫn uất phá sập) - Người tên gọi Nguyễn Văn Thiệu không thể để sinh mạng bị kết thúc như cách thê thảm của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bào đệ Ngô Ðình Nhu bởi những tay tướng lãnh mà ông đã quá thâm hiểu lòng dạ của họ trong âm mưu (cùng ông) đoạt quyền, giành lợi từ 1963 đến nay. Ðể duy trì mạng sống của mình - Nguyễn Văn Thiệu phải ra tay – Và Người Trung Chính Nguyễn Văn Hiếu phải bị bức tử.

Ðể kiên định cho luận cứ kể trên, chúng tôi có thể nại đến những yếu tố khách quan, cụ thể đã được chứng thực trong những ngày đen tối của Miền Nam vào tháng Tư ba-mươi năm trước. Yếu tố đấy là: Nếu như Thiếu Tướng Nguyễn văn Hiếu không bị bức tử thì chắc rằng sau khi ông Nguyễn Văn Thiệu từ chức tổn g thống - Tổng Thống Trần Văn Hương ắt hẳn sẽ chọn Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu để giao nhiệm vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - Ðiều nầy không phải là một giả thiết vì mặt trận chính trị lúc ấy đã lộ ra một giải pháp với Pháp và Trung Cộng (Những nhân tố chính của Hiệp Ðịnh Genève 1954) với những thành phần thân Pháp như Cựu Thủ Tướng Trần Văn Hữu; thân Trung Cộng như các thành viên của Chủ Tịch Ðoàn Mặt Trận Giải Phóng với Nguyễn Hữu Thọ được nhà nước Trung Cộng giới thiệu như là Quốc Trưởng Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam trước nhân dân, chính phủ của các nước Á Phi suốt trong giai đoạn trước sau khi Hie p Ðịnh Paris được ký kết (27/1/1973). Giải pháp chính trị nầy hoàn toàn không phải là chiều hướng của Hà Nội và lẽ tất nhiên cũng không phải của chính phủ Mỹ vì.. Chiều hướng “chính trị” duy nhất mà chúng ta có thể nghĩ tới (để giải quyết tình hình Việt Nam tại thời điểm 4/1975 -pnn) là tiếp cận với Mạc tư Khoa (Kissinger ibid p 542). Và nếu như Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu là Tổng Tham Mưu Trưởng thì chắc rằng tình hình quân sự sẽ tiến triển theo một chiều hướng khác, dẫn đến một hệ quả chính trị khác - Nhưng chí ít những nhân sự tên gọi Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm không thể bình an ra khỏi nước cho dù Tòa Ðại Sứ Mỹ có bảo trợ an ninh đến tối đa. Vì lý do nầy: Người Trung Chính Nguyễn Văn Hiếu không thể tồn tại được.

Ðể kết thúc, chúng tôi có thể nhắc lại những yếu tố: Người vốn sinh trưởng ở Tiên Sinh, Thượng Hải, sống trong một tô giới Pháp, khi về Việt Nam (năm 1949) nói tiếng Việt có âm Pháp Ngữ; cựu sinh viên Ðại Học Aurore; sau khi tốt nghiệp Trường Ðà Lạt, Trung Úy Nguyễn Văn Hiếu làm việc nơi Văn Phòng Tham Mưu Trưởng Trần Văn Ðôn (một người xuất thân trường quân sự Pháp). Và thân sinh, Cụ Nguyễn văn Hướng là Giám Ðốc Công An Bắc Việt thời trước 1954 - Những yếu tố nầy chắc chắn không phải là những điều chính phủ, tòa Ðại Sứ Pháp ở Sài Gòn không quan tâm với sự biệt đãi, đánh giá cao. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu khi phỏng vấn các Hoa Kiều liên quan đến Quỹ Tiết Kiệm Quân Ðội đã dùng trực tiếp tiếng Hoa.

Chúng tôi, những người thuộc thế hệ đi sau những nhân sự vừa kể ra trong câu chuyên bi thiết trên. Chúng tôi lại càng không hề có quan niệm chủ quan, thiên vị do đã có những tranh đoạt quyền lợi với bất kỳ ai trong câu chuyện kể. Nay với số tuổi 60, sau một trận biển dâu ba-mươi năm ắt phải hiểu nghĩa Lẽ Thường của sự sống, cái chết. Thế nên, viết ký sự nhân vật nầy không phải để cáo buộc, phê phán bất cứ cá nhân nào - Quyền hạn sau cùng ấy thuộc về Dân Tộc-Lịch Sử - Trước sau, chúng tôi chỉ có tấm lòng đối với Người Lính Trung Liệt Ðã Chết Cùng Mệnh Nước Ðiêu Linh nên phải nói thành lời trong nghĩa “Bất Bình Tắc Minh”.

Ngày vỡ Trận Long Khánh,
Ba mươi năm trước.
(24 tháng 4, 1975- 2005)
Phan Nhật Nam