Kissinger và Hiệp Uớc Hòa Bình Giả Mạo

Hoi Thanh Tin Linh vn o Houston - Mường Giang

              

               

 

 A Shau Valley

Cái khôi hài cười ra nước mắt của người Mỹ là ngay trong lúc một mặt đổ quân ào ạt vào Nam VN năm 1965 thì họ cũng đồng thời bí mật đi đêm với Bắc Việt gọi là mưu tìm một giải pháp hòa bình.  Chính phủ Pháp và Vatican La mã khởi động đầu tiên dàn xếp để hai phía ngồi vào bàn hội nghị bàn chuyện ngưng bắn theo kế hoạch Mayflower nhưng bất thành.  Ngày 17-6-1965, Anh và Liên sô nhập cuộc, mở hội nghị 4 nước Anh-Ghana-Nigeria-Tobago với sự ủng hộ công khai của hai nghị sĩ dân chủ là Mike Mansfield và Fullbright, họ muốn Mỹ ngưng oanh tạc Hà Nội và ngược lại Bắc Việt ngừng chuyển bộ đội vào nam, nhưng họ đã bị cộng sản bác bỏ vì lập trường đối nghịch của hai đàn anh Nga-Tàu.  Tháng 7/1965 Tổng thư ký LHQ là U Thant muốn mở lại hội nghị Geneve 1954.  Tháng 10/1965 ngoại trưởng Ý là Amintore Fanfani và Giáo Hoàng Paul VI cũng nhập cuộc bằng cách liên lạc thẳng với Hà Nội, Mặt Trận GPMN và Tổng Thống Johnson, nhưng lại bất thành vì Hồ đòi công nhận Mặt Trận là một chánh phủ giống như VNCH.  Tóm lại những kế hoạch kể trên đều khởi động nhịp nhàng theo các phong trào phản chiến tại nội địa Mỹ do Martin Luther King, Hoffman, Larson xách động, biến các trường đại học Mỹ thành căn cứ du kích Bắc Việt ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ.  Chiến tranh dữ dội khắp VNCH nhịp nhàng với các biến động chính trị tại Huế-Sài Gòn.  Hoa Kỳ tiếp tục oanh tạc miền Bắc, nhưng Hồ vẫn không nhượng bộ vì đang leo dây giữa Nga-Tàu, nên chỉ biết ậm ờ trước các đề nghị hòa bình.  Tại Mỹ, ngày 20-2-1966, Robert F.Kennedy công khai đòi cho MT/GPMN tham gia chính phủ, nhưng ông ta bị chống đối kịch liệt.  U Thant và De Gaulle là hai nhân vật hung hăng nhất trong việc kêu gào phải hòa bình tức khắc tại VN bằng cách ngưng oanh tạc miền bắc, Mỹ rút quân và để MT/GPMN tham chính.  Sở dĩ cả hai làm như vậy, vì U Thant tuy ông ta là Tổng thư ký LHQ ,nhưng lại thân cộng ra mặt, còn De Gaulle với dụng tâm đạo đức giả, thù Mỹ đã phỏng tay trên ở Đông Dương, nên nhỏ mọn trả thù vặt.  Rốt cục cả thế giới lẫn Vatican đều trúng kế Hồ Chí Minh, càng lúc càng chia rẽ và phân hóa trầm trọng.  Năm 1967 phong trào phản chiến lên cao tại Hoa Kỳ làm phân hóa đảng Dân Chủ vì là mùa bầu cử, nên Tổng thống Johnson tuyên bố trong cuộc hội nghị với TT Nguyễn Văn Thiệu tại Guam là sẽ thương thuyết thẳng với Bắc Việt.  Tất cả chỉ là màn hỏa mù ngoại giao, vì Mỹ và Hà Nội đã đi đêm từ cuối năm 1966, do sự dàn xếp của Thụy Điển, nhưng phải đợi đến ngày 31/3/1968 khi Johnson tuyên bố không tái tranh cử và bộ đội của Bắc Việt cũng như VC bị tan nát tại miền Nam trong trận Tết Mậu Thân, cộng sản mới chính thức ngồi lại với Mỹ.  Rồi Nixon thắng cử tổng thống, Kissinger được giao trách nhiệm đi đêm với Lê Đức Thọ, tự quyết định số phận của VNCH, mà không cần đếm xỉa gì tới chủ quyền của miền Nam lúc đó.

 

 

 

Theo Giáo sư Tiến sĩ Stephen Young, người từng phục vụ nhiều năm trong bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thì Kissinger, trưởng phái đoàn thương thuyết Mỹ đã bán đứng VNCH cho Bắc Việt khi chấp thuận cho Hà Nội được lưu giữ đạo quân xâm lăng ở miền nam VN.  Hậu quả tạo ưu thế quân sự cho địch cưỡng chiếm VNCH khi Hoa Kỳ rút toàn bộ quân lực về nước và cắt giảm quân viện năm 1973 rồi cắt đứt năm 1975.  Tổng thống Nixon ngay khi làm TT năm 1969 đã tuyên bố sẽ chấm dứt chiến tranh, đem hết quân Mỹ về bằng một kế hoạch bí mật.  Vấn đề chính là Nam VN chẳng hề biết tới kế hoạch đó là gì và nói là VN hóa chiến tranh, nhưng QLVNCH tới đầu năm 1972 mới được cải tiến trang bị, trong lúc bộ đội miền Bắc đã sử dụng những vũ khí cá nhân và cộng đồng tối tân của khối cộng từ khi Mỹ còn hiện diện.  

 Da Nang lookout

 

Năm 1972 Nixon đã đạt được những thỏa ước lịch sử với Nga lẫn Trung Cộng.  Chính điểm này để Nixon thắng Mc.Govern làm tổng thống nhiệm kỳ hai.  Tuy nhiên, việc oanh kích Hà Nội trong 12 ngày liên tiếp và thả mìn phong tỏa Hải Phòng đã suýt làm Bắc Việt đầu hàng vô điều kiện, nếu không bị đảng Dân Chủ và phe phản chiến chống đối dữ dội.  Giữa lúc TT Nixon trong tình thế khó xử thì Kissinger đưa sáng kiến phản bội VNCH để đổi lấy sự ủng hộ của quốc hội Mỹ, trong việc làm thăng bằng cán cân chiến tranh lạnh, nói thẳng là giúp Do Thái đương đầu với khối Ả Rập.  Do nhận thức sai lầm trên, đã khiến Kissinger thành kẻ chủ bại, hèn nhát, bất nhân đẩy VN vào định mệnh oan nghiệt.  Thực tế còn gian ác hơn ta nghĩ, vì Kissinger chẳng những muốn Hoa Kỳ rút khỏi VN mà còn làm cho dân chúng Mỹ không còn nhớ tới cuộc chiến đó trong tiềm thức.  Hậu quả cay nghiệt này khiến cho các quân nhân Hoa Kỳ tham chiến tại VN trở về bị đối xử tàn tệ, tẻ nhạt cho tới mấy năm sau này mới được hồi phục lại danh dự.  Trong thâm tâm của Kissinger, đưa quân đội Mỹ về chưa đủ, mà phải làm sao thọc quốc hội cắt đứt mọi nguồn viện trợ cần thiết, thì mới chấm dứt được chế độ miền Nam.  Vì vậy ông ta tự đẻ ra sáng kiến riêng, chủ đích làm hỏng chương trình VN hóa của Nixon.  Theo tài liệu của Ðại sứ Bunker thì bí mật lớn nhất của Kissiger là sự xuống thang chiến tranh.  Đây là sáng kiến tàn nhẫn nhất để đổi một thắng lợi ngoại giao cho Mỹ và VNCH, Kissinger lại cho Bắc Việt một chiến thắng quân sự, tức là y đã tiết lộ bí mật quốc phòng cho địch.  Nhưng sự kiện này không bao giờ Kissinger dám nhận và chính trong hồi ký của TT. Nixon đã viết là chẳng bao giờ ông cho phép làm chuyện đó khi thương thuyết với Hà Nội.  

 

Tóm lại để kết thúc chiến tranh VN theo ý mình, Kissinger không bao giờ trình bày sự thật khi thương thuyết với Hà Nội, cho TT.Nixon biết.  Từ ngày 13-4-1971, Kissinger đã manh nha trò phản bội và lộng quyền, khi hắn ta tự sử dụng đường dây nóng đặc biệt không qua Bộ Ngoại Giao và Tổng Thống Mỹ, để ra lệnh cho Đại sứ Bunker và Bắc Việt.  Theo các tài liệu lịch sử đã giải mật, những lộ trình đồ (the road map) đề nghị hòa bình VN của các giới chức Mỹ từ Tổng thống Nixon tới Đại sứ Baunker hoàn toàn trái ngược với ý riêng của Kissinger.  Theo bản dự thảo chiến lược chính thống thì sự ký kết hòa bình chỉ xảy ra sau khi QLVNCH đạt được chiến thắng tại Hạ Lào qua cuộc hành quân Lam Sơn 719, phá vỡ toàn bộ các căn cứ hậu cần của Bắc Việt tại đây nhằm cắt đứt đường tiếp vận cho bộ đội miền Bắc qua đường mòn Hồ Chí Minh.  Về chuyện rút quân thì bắt đầu năm 1971-1972, lực lượng Bộ binh (Army) về Hoa Kỳ trước khi đã chứng thật rằng QLVNCH được VN hóa chiến tranh, đủ mạnh để thay thế quân lực Hoa Kỳ đương đầu với Bắc Việt.  Riêng Không quân và Hải quân vẫn duy trì cho tới khi thấy Hà nội thật sự tôn trọng hòa bình của Nam VN.  Một điều quan trọng nhất mà đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn là Bunker, mong muốn Hoa Thịnh Đốn phải chứng tỏ vai trò hợp hiến của chính phủ VNCH tại bàn hội nghị và cái sự Hoa Kỳ ngồi nói chuyện với Hà Nội đã là một nhượng bộ, vì rõ ràng lúc đó Bắc Việt đang thảm bại quân sự trên khắp các chiến trường, chiến dịch ở miền Nam.

 

Một sự kiện khác cũng không kém phần quan trọng tại Hoa Kỳ là mặc dù bị đảng Dân Chủ đánh phá kịch liệt, đòi rút quân về tức khắc để đổi tù binh, nhưng TT Nixon lúc đó, vẫn cương quyết không tiết lộ lộ trình triệt thoái và giữ nguyên ý định không giải kết với VNCH vì quyền lợi Mỹ.  Theo các sử gia, nếu Kissinger thật sự là một nhà thương thuyết giỏi và có lương tâm, ông ta đã vượt qua được những sóng gió trùng trùng lúc đó, mang lại vinh dự cho nước Mỹ và công lý cho VNCH.  Lịch sử đã chúng nhận điều này chỉ mới đây trong việc TT George W. Bush trước khi tiến quân đánh Iraq.  Vì Kissinger chỉ là một học giả chứ không phải là một nhà ngoại giao, hắn ta là một người Do Thái thuần túy nên không hề biết tới quyền lợi và danh dự của Hoa Kỳ.  Trước tiên, về việc cho phép bộ đội Bắc Việt ở lại miền nam, Kampuchia, Lào.  Đây là điều kiện tiên quyết để quân Mỹ rút quân, thế nhưng Kissinger nơi trang 1488 đã tự sửa lại là “người VN và các dân tộc khác ở Đông Dương sẽ tự thảo luận để tất cả quân đội ngoại nhập rút ra khỏi Đông Dương.”   Như vậy muốn Hoa Kỳ ngưng oanh kích rút quân, mà không có một đòi hỏi gì cho đối phương, thậm chí còn cho chúng ở lại để tiếp tục làm giặc, thì thương thuyết để làm gì, cho nên sau này Hà nội và thế giới khinh khi, cười chê Hoa Kỳ là vậy.  Ngoài ra chẳng bao giờ Kissinger coi VNCH là một quốc gia độc lập có chủ quyền, nên hắn ta đã có cái nhìn là chỉ có Hà Nội mới đại diện để thương thuyết với Mỹ.  Đây là một sự phản bội trắng trợn của lời cam kết từ các chính quyền Hoa Kỳ như TT. Kennedy, Johnson, Nixon luôn tuyên bố tôn trọng nền độc lập của quốc gia đồng minh.  Tóm lại với luận điệu lừng khừng, chủ bại, đầu óc lắt léo tên Kissinger đi phó hội trong một tư thế hèn yếu, rẻ mạt, nên chỉ còn bán đứng VNCH mới mong lấy lại tù binh về.  Ngày 25-5-1971, để tránh bị thưa gởi vào phút chót, Kissinger đã điện thoại gạt Bunker là chương trình nghị sự sẽ theo đúng bản dự thảo của TT.Nixon và tòa đại sứ Mỹ-Sài Gòn.

 

Cũng do lòng tin tưởng trên, nên ngày 3-6-1971, Đại sứ Bunker đã tường trình với TT. Nguyễn Văn Thiệu có Kissinger hiện diện, kết quả thương thuyết theo bản dự thảo của TT.Nixon và Tòa đại sứ. Trong khi trình bày, Bunker xác quyết là bộ đội Bắc Việt cùng rút về Bắc khi quân Hoa Kỳ triệt thoái.  Việc tréo cẳng ngổng này cho thấy, TT Thiệu và chính phủ VNCH hoàn toàn không được Hoa Kỳ cũng như Kissinger hỏi han hay cho biết một chút gì về vận mệnh tương lai của xứ sở mình. Trước sự kiện trên, Kissinger chẳng những không đính chính mà còn lợi dụng sự không biết gì để ép TT Thiệu không được tiếp tục đòi hỏi ông ta, khi việc bộ đội miền Bắc đã được giải quyết.  Tháng 10/1972 giai đoạn cuối cùng trong bàn hội nghị, Kissinger thay vì cố gắng đạt được những ưu thế cho Hoa Kỳ và đồng minh Nam VN, Kissinger lại tấn công tới tấp TT Nguyễn Văn Thiệu và gọi đó là lý do chính trở ngại cho cuộc hòa đàm.  Ngày nay dựa vào những tài liệu mật và ngay chính hồi ký của Kissinger, chúng ta mới thấu hiểu sự dối trá và bất lương của ông ta đối với VNCH.  Đó là sự hiểu biết quá kém cỏi về lịch sử VN dù ông ta luôn tự hào về cái trường đại học luật khoa danh tiếng Havard nay chỉ còn là cái mốt thời thượng.  Hèn nhát trước phong trào phản chiến do cộng sản quốc tế dàn dựng, Kissinger đã đánh mất sự thông minh của một nhà ngoại giao, qua mặt dân chúng và chính quyền Hoa Kỳ, phản bội đồng minh đang chiến đấu dũng liệt trước làn sóng đỏ.  Ngày 1-8-1972, trong cuộc họp mật, Hà Nội bảo với Kissinger là ngoài việc bộ đội ở lại, TT Thiệu phải từ chức để thay thế bằng chính phủ liên hiệp. Từ tháng 8-1972, sự chống đối từ chính phủ VNCh đã lên tới cao điểm như không cần đếm xỉa tới thời hạn mà Kissinger ấn định, TT Thiệu không tiếp chuyện với TT Nixon gọi từ Honolulu cũng như tuyên bố là sẽ không bao giờ từ chức, chính phủ liên hiệp không bao giờ có. TT Thiệu sau chuyến thanh sát tại Quảng Trị điêu tàn đổ nát ngày 20-9-1972, vừa được QLVNCH chiếm lại, ông ta bay về Sài Gòn tuyên bố “vận mệnh của dân tộc VN phải do đồng bào VN quyết định” và ông đã tố cáo Kissinger chỉ biết tự mình quyết định tất cả mà không coi VNCH ra gì.  Ngày 19-10-1972, Kissinger, Bunker họp với TT Thiệu, PTT Hương và HĐ/ANQG.  Theo các tài liệu ghi nhận, cuộc họp đầy căng thẳng và thái độ của TT Thiệu khinh bỉ Kissinger ai cũng thấy rõ khi tuyên bố ông ta chỉ là một người trung gian không hơn không kém, quyết định hòa hay chiến là của Sài Gòn-Hà Nội, chứ không phải Hoa Kỳ. Phiên họp chấm dứt, nhưng phút chót TT Thiệu không biết vì một lý do nào đó, lại tin lời Kissinger là bộ đội miền Bắc phải rút,  nên ông ký nhận hiệp định.  Một bí mật khác vô cùng quan trọng cũng vừa được ra ánh sáng, là khi biết được TT Thiệu thà mất quyền chứ không để cho Hoa Kỳ qua Kissinger thao túng, uy tín chính phủ VNCH lại lên cao.  Dân chúng miền Nam hài lòng, Hạ Viện ủng hộ, các vị lãnh đạo Phật Giáo trong phong trào tranh đấu tuyên bố chấm dứt đem chính trị vào chùa chiền, nhưng quan trọng nhất là tuyệt đại Phật tử tuyên bố dù không đồng ý cá nhân TT Thiệu, họ vẫn hợp tác với chính phủ để đạt được nền hòa bình thật sự cho miền nam độc lập, tự do. Tại Thượng Viện, ngoài 4 phiếu chống, số nghị sĩ còn lại ủng hộ kế hoạch hòa bình của chính phủ VNCH. Từ đó khắp nơi, kể cả Đà Nẵng biểu tình ủng hộ, chống lại sự thống trị của cộng sản. Nhưng ngày 26-11-1972, Bunker chuyển một lá thơ của Nixon, cho biết nếu VNCH cưỡng lại Hoa Kỳ thì viện trợ sẽ bị cúp ngay và tánh mạng Tổng thống Thiệu nếu muốn giữ, phải ký kết.  Để tấn tuồng kết thúc trọn vẹn, bất ngờ ngày 18-12-1972, Nixon ra lệnh oanh tạc thật Hà Nội-Hải Phòng và các căn cứ quân sự tại Bắc Việt một cách sấm sét dã man, bất chấp Dân Chủ và phản chiến kêu gào la ó.  Đến lúc này, thì TT Thiệu không tin cũng phải tin là Hoa Kỳ qua lời hứa của Nixon trong mấy chục bức thơ riêng, sẽ dội B52 và can thiệp ngay bằng quân sự nếu Hà Nội phản thùng, tấn công VNCH.  

 

Ngày 30-4-1975, miền Nam bị bức tử vì Kissinger, một tên trí thức xuẩn động ngây thơ, có đầu óc thực dân kiêu căng thời Trung cổ.  Ông ta vì muốn thỏa mãn nhu cầu cho bọn siêu quyền lực mà phần lớn gốc Do Thái đang thao túng nước Mỹ và thế giới, cho lũ phản chiến đa số bị bệnh tâm thần vì đồng tình luyến ái, hút xách, ảo vọng, nên đã hại không biết bao nhiêu người đã chết, tan nhà, mất nước trong suốt hăm tám năm qua.

 

                                                                  (còn tiếp)