Những Ngày Ðầu Di Tản (1975-1976)
A/H TRẦN SĨ HUÂN
Lời Ban Phụ Trách:
Nhân dịp ngày 30-4-2003 sắp đến, để đánh dấu 28 năm xa cách quê hương, chúng tôi xin ghi những dòng ký sự dưới đây của AH TRẦN SĨ HUÂN để hồi tưởng lại một biến cố quan trọng trên bước đường lưu vong.
*****
Suốt tháng Tư năm 1975, ở Sài Gòn tình hình rất căng thẳng, người thì tính chuyện ra đi, kẻ thì nhất quyết ở lại, may mắn hay rủi ro, đúng hay sai, tất cả đều tuỳ thuộc ở cái nhìn của mỗi người về cọng sản, về thời cuộc lúc đó (1975), cũng như tùy hoàn cảnh và phương tiện của mỗi người.
Trường hợp tôi, sau mấy năm tháng yên lành ở Nha Trang, rạng ngày 2-4-1975, tôi đã vượt biển vô Sài Gòn sống trong hồi hộp lo âu vì tự nghĩ rằng dù sao cũng đã dính líu với chế độ cũ khá nhiều (trên 20 năm), nếu chiến tranh xảy ra thì chắc phải là khốc liệt, và trong hoàn cảnh tranh sáng tranh tối ấy, tránh sao khỏi tên bay đạn lạc hoặc ân oán giang hồ.... Và trong thời gian ở Sài Gòn tôi đã theo chỉ thị của Tổng Cuộc Kiều Lộ làm giấy tờ ghi rõ địa chỉ để khi cần di tản thì USAID sẽ thông báo hỏa tốc.... Tôi chờ mãi không thấy tin tức gì, trong lúc bên cơ quan quân sự Mỹ người ta ra đi dễ dàng. Ðến cuối tháng 4 tình hình ngày càng đen tối, biến cố chính trị dồn dập xảy ra, trong lúc ngoài chiến trường, quân đội rút lui, hết mất tỉnh này đến tỉnh nọ thì ở Sài Gòn đa số dân chúng rất là xôn xao giữa muôn lời đồn đãi. Ai cũng muốn sự việc xảy ra theo ý mình; người muốn ở lại thì dựa vào Hiệp Ðịnh Paris, người muốn đi thì viện cớ này cớ khác để ra đi... ai cũng có lý do cả. Do đó khi nghe đài BBC nói rằng Việt Cọng sẽ chiếm Sài Gòn vào thứ hai 28-4-1975, tôi lấy làm lo buồn, lái xe chạy lang thang đây đó, tình cờ gặp ông cố vấn Mỹ ở đường Lê Văn Duyệt, thuật lại bản tin đài BBC thì ông trả lời một cách tự tin rằng Việt Cọng mà vô Sài Gòn thì Mỹ sẽ thả bom nguyên tử ở Hà Nội ngay. Sáng Chủ Nhật 27-4-1975, tôi đến USAID nghe ngóng tình hình thì được biết ông ấy đi Bangkok hồi hôm rồi. Tôi bàng hoàng nghĩ rằng cố vấn như ông ấy mà cũng....
Sáng thứ hai 28-4-75, tôi vào Tổng Cuộc Kiều Lộ chào cờ như thường lệ nhưng tâm trí bất định, chả còn tha thiết gì với công việc nên tôi lái xe chạy lòng vòng chợt thấy trụ sở DMJM ở đường Công Lý. Tôi dừng xe lại và khi bước vô văn phòng, tôi may mắn gặp ngay ông Van Zyl trước đây làm Trưởng Xưởng đúc đà Tiền Áp ở chân đèo Rù Rì, Nha Trang. Sau khi trò chuyện thăm hỏi xã giao, tôi tỏ ý muốn di tản và được ông ấy nhận lời giúp đỡ làm giấy tờ cho tôi và gia đình di tản bằng máy bay như các nhân viên của hãng. Ðến 11 giờ trưa, điện thoại cho hay chiều ấy sẽ có phi cơ dành cho hãng DMJM di tản nhân viên. Tin này loan ra các nhân viên đều chần chừ, một hồi sau chỉ có 3 nhân viên chịu đi còn lại thì xin đi vào các chuyến sau vì chưa sẵn sàng, nhờ vậy mà gia đình tôi mới được đi.... Ðến 4 giờ chiều ông Van Zyl cho chúng tôi lên 2 xe van đưa vào Tân Sơn Nhất, may không gặp gì khó khăn. Tuy nhiên khi vào sân DAO (cơ quan quân sự Mỹ), tôi vẫn ngồi trên xe vì ngại lính xét giấy bất thần làm khó dễ, vặn radio nghe tin ông Trần Văn Hương đang bàn giao chức vụ Tổng Thống cho Ðại Tướng Dương Văn Minh, rồi thình lình nghe tiếng máy bay bắn hàng loạt đạn phía Dinh Ðộc Lập, lúc đó vào khoảng 6 giờ chiều, thiên hạ chạy tán loạn xuống mấy đường mương nằm núp. Trời bổng kéo mây đen u ám, báo hiệu một triệu chứng bất tường... chỉ lát sau thì có một Ðại Tá đến cho hay cổng Tân Sơn Nhất bỏ ngõ, ai muốn về thì về, trong lúc lính Mỹ bọc cả sân bay DAO trong tư thế chiến đấu. Tôi quyết định ở lại chờ máy bay, mãi đến 2 giờ sáng ngày 29-4-75 mới được gọi lên xe bus đưa ra phi đạo trong cảnh tối tăm ghê rợn vì điện đường, xe cộ đều tắt đèn hết. Lên trên tàu, người ta ngồi chen chúc giữa sàn phi cơ C123, đuôi há miệng, để lính bắn đạn tầm nhiệt chống hỏa tiển. (Sau này đọc báo mới biết đêm ấy có 3 chiếc C123 cất cánh thì một chiếc bị trúng đạn rơi xuống đất. Thật là hú hồn!).
Khi tàu bay hạ xuống phi trường Clark, đoàn người di tản được mời vào phi cảng và được hội Hồng Thập Tự Phi Luật Tân săn sóc chu đáo; đến 4 giờ chiều mới đổi qua máy bay C141 đi đảo Wake, một hoang đảo đã bỏ không từ 3 năm nay, vì bị ô nhiễm do hậu quả của các vụ thử bom nguyên tử. Tối đó ở đảo Wake, sở Quan Thuế khám xét khá kỹ càng vì đây là trạm đầu tiên bước vào đất Mỹ. Tuy nhiên sau đó thì họ cấp phát đầy đủ vật dụng để ăn ngủ....
Trong ngày đầu ở đảo, tôi đến gợi chuyện với đám Công Binh Mỹ đang sửa đường và được biết họ mới qua đây độ một tuần lễ, sửa tạm mấy con đường bị hư, mấy cái nhà bị dột và chở nước uống tiếp tế cho dân tị nạn vì đảo này không có dân cư. Nước uống, nước tắm rửa đều bi nhiễm độc. Tôi theo xe họ đến văn phòng ở cuối đảo, chợt thấy ở phía góc tường ngoài có một máy điện thoại, tôi tò mò đến nhắc máy lên gọi operator hỏi kêu Cali có được không? Operator trả lời OK; thế là tôi lấy sổ tay ra đọc liền số điện thoại của con trai tôi ở Sacramento. May mắn thay, ở đầu dây bên kia, con tôi trả lời nghe rõ từng tiếng một. Cha con tôi mừng rở khôn xiết.... Mừng chưa được bao lâu thì chiều lại, khi ra phòng ăn sắp hàng ăn cơm, đọc bản tin tức thấy tin ông Dương Văn Minh đã đầu hàng ngày 30-4-75, tôi lấy làm chưng hửng, hết hy vọng trở về, trong trí hiện ra một tương lai đen tối.... Tôi thơ thửng đi bộ ra bãi biển gần đó, ngồi bệt xuống cát nhìn ra xa hồi tưởng lại những ngày đã qua.... Giờ này những người ở lại chắc cho tôi đã dại dột đi tìm cái chết trong cái sống làm chi. Tâm sự tôi lúc đó như tơ vò, tự đáy lòng dâng lên một nổi u hoài chan hòa một nổi lo âu cho tương lai vô định.
Ðến tối ngày thứ ba, gia đình tôi được gọi lên phi trường, chờ máy bay qua Mỹ. Ðường bay từ Wake qua Mỹ nghe nói chỉ có 4 tiếng đồng hồ, thế mà ngồi trên tàu bay đến 7 tiếng chưa thấy đến nên mới sốt ruột làm sao. Khi máy bay hạ cánh, nhìn ra ngoài thấy toàn là rừng núi, tôi hơi chột dạ. Mấy đứa nhỏ tôi hỏi: “có phái Mỹ đây không ba? sao không thấy nhà cao chọc trời như trong xi nê gì cả?”. Hỏi ra mới biết đây là căn cứ Fort Chaffee của tiểu bang Arkansas, miền Nam Trung Mỹ. Trại lính này thường dùng để huấn luyện địa phương quân, nay tạm xữ dụng cho dân Việt Nam di tản. Tương đối trại này có đầy đủ nhà cửa, nhà ăn công cọng, câu lạc bộ, trạm bưu điện, phòng điện thoại, tiệm bán hàng PX, sân quần vợt, sân dã cầu.... Một ban điều hành gồm phần đông cựu nhân viên USAID ở Việt Nam về, phụ trách việc làm giấy tờ căn cước, khám sức khỏe, an ninh trật tự. Ngoài ra còn có các cơ quan thiện nguyện kiếm tìm người đỡ đầu (sponsor) nhận đem dân di tản ra khắp các tiểu bang; ngân hàng Citicorp đem xe lưu động đến đổi bạc Việt Nam ra đô la và đổi vàng ra đô la theo giá $130/ounce. Có người chỉ ở trong trại vài ngày rồi ra ngoài ở với sponsor, có người ở lại lâu hơn vì phải chờ làm thủ tục bạch hóa an ninh (security clearance). Trong thời gian một tháng ở trong trại này, tôi thường liên lạc điện thoại với con trai tôi ở Sacramento và được biết qua sự giới thiệu của con tôi, giáo sư tiến sĩ Wayne Burton đã nói với ông William J. Schimandle, Chủ Tịch Hội Kỹ Sư Chuyên Nghiệp Sacramento Valley Chapter về tình trạng của các kỹ sư Việt Nam di tản, và ông William đã viết cho tôi một lá thư kèm theo biên bản buổi họp của Hội California Society of Professional Engineers ngỏ lời chào mừng các đồng nghiệp kỹ sư Việt Nam trong đó có đoạn:
Thông Cáo ngày 20-5-1975
“Hội Kỹ Sư chuyên Nghiệp California (CSPE) hôm nay thông báo rằng Hội sẽ hành động tích cực để giúp các kỹ sư Việt Nam tỵ nạn tại tiểu bang Cali. Việc yểm trợ này đã được chấp thuận trong buổi họp thường niên của Hội vào cuối tuần qua tại Las Vegas, Nevada.
Ông William J. Schimandle, Chi Hội Trưởng xác nhận rằng tổ chức này đã chấp thuận một nghị quyết giúp đỡ kỹ sư tỵ nạn hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ càng mau càng tốt. Ông nói Hội đã liên lạc với các chức quyền Liên Bang và Tiểu Bang để ước định số kỹ sư Việt Nam tỵ nạn cũng như để biết phải làm gì trong vấn đề yểm trợ.
Ông Schimandle còn nói rằng Hội Kỹ Sư Chuyên Nghiệp sẽ liên lạc với Hội Quốc Gia Kỹ Sư Chuyên Nghiệp để biết xem Trung Ương cũng như các Hội ở tiểu bang khác có giúp được gì trong việc định cư kỹ sư tỵ nạn không.
Ông Robert J. Kuntz, Hội Trưởng Ðiều Hành của Kỹ Sư Chuyên Nghiệp Cali nói rằng Hội hy vọng sẽ mở đường cho các Hội Kỹ Thuật khác giúp đỡ người tỵ nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ. Ông nói Hội nhận thấy rằng tình trạng công ăn việc làm của kỹ sư hiện nay không tốt đẹp lắm, nhưng vì quyền lợi chung của đất nước hiện nay, chúng ta phải xác nhận sự khó khăn của người tỵ nạn và đưa tay giúp đỡ những kỹ sư đã bỏ nhà cửa ở miền Nam Việt Nam qua đây tỵ nạn chính trị. Ông Kuntz còn nói rằng kỹ sư tỵ nạn sẽ đóng góp tích cực vào sự tiến bộ cúa quốc gia.” .
Tôi bắt đầu thấy chút ánh sáng ở cuối đường hầm…. Tôi sao chuyển tài liệu trên cho các ái hữu công chánh ở trại lúc đó là các anh Phạm Văn Ba, Lê Mộng Hùng, Nguyễn Văn Qúy và Ngô Trọng Các, nhưng sau này chỉ có tôi và anh Hùng đi Cali mà thôi.
Trong khi ở trại Fort Chaffee, Ðại học Oklahoma có vào trại tổ chức thi Anh văn tuyển sinh viên vào đại học năm thứ nhất. Dương, con trai thứ hai của tôi đã thi đậu và được nhận vào đại học. Gia đình tôi vừa mừng vừa lo, nhưng nghĩ lại nếu còn ở Việt Nam thì Dương cũng đi du học như anh nó hai năm trước đây, nên đành để cho nó tách ra đi Oklahoma, còn gia đình chúng tôi thì qua California.
Tôi còn nhớ ngày xuất trại, khi ra đến phi cảng gặp hai người Việt Nam đang chờ máy bay, hỏi ra mới biết là anh chị Ðoàn Trinh Giác, thầu khoán ở Sài Gòn. Khi biết tôi làm ở Công Chánh Nha Trang, anh ấy mới cho tôi địa chỉ của anh Nguyễn Văn Bảnh lúc đó ở Alabama. Nhờ dịp tình cờ này, mà sau khi định cư ở Cali, tôi mới bắt liên lạc với các anh em Công Chánh ở miền Ðông Hoa Kỳ.
Ðến Sacramento, tôi gặp anh Lưu Hữu Dũng và anh Bữu Hiệp đã đến đây từ trước. Việc thứ nhất là tôi và anh Hiệp đến gặp Hội Kỹ Sư Chuyên Nghiệp Cali theo lời mời trong thư, nhưng qua buổi họp mặt ăn trưa tại Hotel Sutter sang trọng, tôi cảm thấy không xong vì Hội cho biết ông Thống Ðốc Jerry Brown không mấy thiện cảm với phong trào di tản, hơn nữa ông ấy đang có dự tính sa thải 3000 nhân viên Kiều Lộ.
Việc thứ hai là tôi viết thư cho anh Bảnh, được anh hồi âm mau lẹ kèm theo địa chỉ của anh Lê Thành Trang mà tôi đã quen biết từ lúc anh ấy ở Ðà Lạt. Nghe anh Trang nói anh Lê Khắc Thí ở Ohio muốn lập một bản danh sách các anh em Công Chánh cũ để tiện việc liên lạc với nhau, tôi liền gởi cho anh Thí một bản danh sách các anh em mà tôi biết được ở Cali lúc đó như các anh Huyến, Hoàn, Trương Ðình Huân, Súy, Cơ, Hùng, Diệp, Tất… để đăng vào Lá Thư Công Chánh số 1. Qua mười mấy năm Lá Thư đã được luân chuyển đến các ban phụ trách khắp nơi và tồn tại cho đến ngày nay là nhờ ở mục đích hướng về quá khứ làm sợi dây liên lạc để anh em tìm nhau cho dễ, không bị ràng buộc bởi một điều kiện gì cả.
Sau một tháng ở Sacramento, tôi chuyển về định cư ở Oakland, theo con trai đầu của tôi vừa được nhận vào học năm thứ ba Ðại Học Berkeley, tại một căn nhà 3 phòng, thuê ở bên hồ Merritt, góc đường Bellevue và đường Grand.
Tiếp đến là vấn đề tìm việc. Trong số đồng bào di tản ở vùng San Francisco - Bay Area năm 1975 thì những người đã từng làm với Bank of America ở Sài Gòn trước kia là được tiếp tục thâu nhận vào làm ngay, hoặc những kỹ sư đã từng làm với Nha Căn Cứ Hàng Không Tân Sơn Nhứt thì được hãng Bechtel tuyển vô làm vì gặp đúng lúc hãng này mới trúng thầu lập dự án xây cất phi trường Riyath ở Á Rập; còn ngoài ra, phần đông đều thất nghiệp vì vấn đề tìm việc tùy thuộc không những vào khả năng, ý chí của mỗi cá nhân mà còn tùy thuộc vào tình trạng công ăn việc làm của mỗi địa phương.
Các yếu tố trong vấn đề tìm việc đại khái gồm có:
• Khả năng chuyên môn
• Khả năng Anh ngữ
• Việc làm (job opening)
• Giới thiệu
• May rủi
Hai mục đầu tiên lẽ dĩ nhiên phải tự mình lo liệu, có thể nói là học hoài, vì dù có việc làm rồi cũng phải trau dồi thăng tiến.
Ðối với các bạn đã tốt nghiệp hoặc đã tu nghiệp ở Hoa Kỳ trước đây, vấn đề tìm
việc tương đối dễ dàng vì dù sao cũng vượt qua hai trở ngại về Anh ngữ và chuyên môn. Duy chỉ các bạn chưa dính chút gì về kinh nghiệm ở Hoa Kỳ thì thật là nan giải, nhất là năm 1975 mới đến gặp lúc Hoa Kỳ bi khủng hoảng kinh tế (riêng Cơ Quan Kiều Lộ
Cali sa thải khoảng 3000 nhân viên trong đó gồm 600 kỹ sư các ngành) nên dân di tản thật khó mà tìm được như ý. Người nào kiếm được việc đúng với nghề cũ là cả một sự may mắn. Do đó, ngoài quý vị cao niên, thủ phận ở nhà vui thú… với quá khứ vang bóng
một thời, hoặc một vài bạn đã đổi qua nghề thương mãi, còn lại đa số các bạn xồn xồn, lỡ ông lỡ thằng, đã gặp khá nhiều trôi nổi. Tất cả đều bở ngỡ trước mọi vấn đề từ việc bảo trợ, làm résumé, đến interview, thi
cử….
Một số anh em cho rằng còn nước còn tát nghĩa là trong lùc được trợ cấp thì cứ học lại bằng mọi cách, người thì ghi danh học lấy Master Degree, Ph.D., kẻ thì tự học thi EIT hoặc PE nhất là học thêm Anh ngữ đối thoại ở các College. Sau khi dính chút sở học ở
Hoa Kỳ rồi, anh em thường tìm việc qua nhiều ngã, hoặc do sponsor và các cố vấn cũ giới thiệu hoặc qua các cơ quan báo chí, thông cáo, và các cơ quan tìm việc địa phương công và tư.
Ban đầu tôi cũng như các bạn di tản khác, cứ tưởng làm tờ résumé ghi lại trung thực sở học và kinh nghiệm ở Việt Nam rồi in ra hàng chục bản gặp đâu gởi đó, nhưng sau một thời gian không được trả lời hoặc bị từ chối khéo bằng mỹ từ over qualify, khi đó mới thấy bị hố vì các hãng tư cũng như cơ quan chính quyền chỉ tuyển người theo nhu cầu của họ mà thôi, thành thử tôi phải viết lại résumé méo mó theo từng trường hợp cho thích nghi.
Thật ra trong vấn đề tìm việc tôi không được may mắn như một số anh em khác, tuy nhiên tôi không lấy đó làm thất vọng vì trước ngày di tản 29-4-75, tôi có gặp anh Nguyễn Xuân Phương, một phụ tá của tôi ở Khu Công Chánh Nha Trang, thảo luận việc có nên di tản hay không. Anh Phương nói rằng qua Mỹ dễ gì tìm được việc làm để nuôi sống gia đình, mặc dù anh ấy đã có bằng MSCE tại Ohio năm 1960. Anh ấy đã từng sống ở Mỹ mà nói như vậy thì tôi cũng phải e ngại nhưng nghĩ rằng nếu Mỹ cho mình qua bên đó không lẽ họ bỏ rơi mình, nhất là Mỹ lại là đất nước của cơ hội (land of opportunities), chứ ở lại Việt Nam trong lúc tranh tối tranh sáng biết đâu tai vạ sẽ đến, tôi có thể bị tù đày, vợ con vô vọng, do đó tôi đã quyết định tìm cách ra đi với bất cứ giá nào để cho con cái may ra có cơ hội học hành đến nơi đến chốn.
Sau khi họp với ông William Shimandle không có kết quả, tôi liền đi gặp các cố vấn cũ như cựu Ðại Tá Ray S. Samuelson, lúc đó đã về hưu và đang làm Principal Engineer cho hãng IECO ở San Francisco. Tại đây tôi được giới thiệu với cựu Thiếu Tướng Talbox, cựu Cố Vấn Bộ Công Chánh VNCH, lúc đó làm Giám Ðốc Hành Chánh và ông Christensen, Phó Tổng Giám Ðốc Công Ty IECO. Qúy vị này đã phỏng vấn tôi rất lịch sự qua một bữa cơm trưa và sau cùng đề nghị cho tôi một việc làm ở Iran trong công tác làm đường chung với một công ty Pháp (Joint venture). Tôi do dự chưa dám nhận lời vì gánh nặng gia đình ràng buộc, mới di tản qua Mỹ chưa đầy ba tháng không lẽ di tản nữa nên tôi từ chối. Ông Samuelson mới giới thiệu tôi qua hãng Bechtel. Sau khi hạch hỏi đủ điều, ông Project Manager cho tôi hay hãng chỉ cần những người có kinh nghiệm về việc lập đồ án Phi trường mà thôi. Tôi gởi đơn đi cùng khắp vùng nhưng đến đâu họ cũng bảo ngành Công-Chánh/Kiều-lộ vì thiếu ngân khoản nên không có tuyển dụng thêm kỹ sư. Tôi mới xoay qua đi học thêm môn Concrete Structures ở UC Berkeley Extension. Sau khi học xong, tôi nạp đơn trở lại Bechtel. Kỳ này Bechtel nhận tôi vô làm với tư cách Civil Structural Engineer tại Bechtel Power Corporation ở San Francisco. Tôi vừa làm vừa học, vừa học vừa làm, được hai năm thì hãng bớt việc, đổi tôi qua Ann Harbor, Michigan. Tôi từ chối vì muốn ở lại vùng San Francisco/Bay Area cho con cái tiếp tục đại học ở đây, hưởng khí hậu điều hòa, gần bạn bè quen biết. Sau đó tôi thi đậu mấy chỗ, được trả lời hảy chờ trong một năm nhưng chả có chỗ nào kêu tới.
Thế nhưng tôi vẫn không nản chí, nghĩ rằng còn nước còn tát, bao giờ không kiếm được việc tương xứng sẽ kiếm việc thấp hơn, thế nào cũng phải có. Quyết tâm như vậy, cho nên dù tóc đã hoa râm, tôi bắt đầu đi học lại các môn cơ-bản và học thêm các môn mới như Ðộng đất (Seismic), Kinh tế (Engineering Economic ) để chuẩn bị lấy chứng chỉ hành nghề. Bất ngờ ngày 21-12-78, tôi được điện thoại từ Tổng Nha Vận-Tải (CALTRANS) ở Sacramento gọi đến hỏi có còn muốn được phỏng vấn vào làm việc với Caltrans không. Tôi đồng ý ngay, cũng may ngày hôm đó thứ bảy mà tôi lại ở nhà chứ đi chơi thì hỏng mất một dịp may! Thế là vài ngày sau tôi nhận giấy đi thi viết (Written Test), rồi thi vấn đáp (Oral test), rồi phỏng vấn (Interview), cuối cùng tôi được nhận vô làm công chức cho Tiểu Bang Cali, Caltrans, District 4 ở San Francisco, bắt đầu cuộc đời công chức mới với đồng lương cố định nhưng tinh thần thoải mái, có thì giờ lo cho con cái học hành, gia đình an cư lạc nghiệp và xây dựng cộng-đồng….
( Trích Bút Ký “BÓNG NGÀY QUA”
của A/H TRẦN SĨ HUÂN
do Nhà Sách Mõ Làng xuất bản năm 1992 )