Phải nói lên Lời Thật!
Nguoi Viet - Phan Nhật Nam - Sunday, February 06, 2005

“...Những điều bất cận nhân tình, vô nghĩa lý kia không bao giờ có thể nói ra, nếu như còn có Thượng Ðế”

Rabindranath Tagore- SÃDHANÃ- The Realization of Life

LTS: Nhà văn Phan Nhật Nam vừa trải qua một cơn bạo bệnh, và đã được giải phẫu tại một bệnh viện ở Colorado. Trong thời gian ông nằm dưỡng bệnh có hai sự kiện không vui xảy đến cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Thứ nhất là bà Tôn Nữ Thị Ninh, phó trưởng ban Ðối Ngoại của Quốc Hội Cộng Sản đi giải độc ở một vài nơi có đông đảo người Việt tị nạn, và những lời lẽ của Tôn Nữ Thị Ninh đã khiến cho cộng đồng Việt Nam nổi giận. Tuy nhiên ngôn ngữ “giải độc” của Tôn Nữ Thị Ninh chưa tai hại bằng “ngôn ngữ” môi giới thương mại của ông Nguyễn Cao Kỳ, khi trả lời cuộc phỏng vấn của tờ báo Thanh Niên trong nước. Những lời nói của ông Kỳ không chỉ khiến cho chúng ta nổi giận, mà khiến cho chúng ta xấu hổ tới bẽ bàng khi đã có một thời chúng ta phải cúi đầu răm rắp tuân lệnh Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ, hay thiếu tướng Tư Lệnh Không Quân QLVNCH. Giờ đây ông Nguyễn Cao Kỳ đã hiện nguyên hình trở thành một tay mại bản không hơn kém, khi sử dụng ngôn ngữ lấy lòng các viên chức của nhà nước Cộng Sản, và dĩ nhiên để lấy được lòng những con người vô cảm này, Nguyễn Cao Kỳ đã quay lưng lại với những đồng đội của mình, cao giọng miệt thị các tướng lãnh đồng trang lứa. Bên cạnh hai sự kiện không vui này, còn có thêm một sự kiện khác là phái đoàn hùng hậu của Thiền Sư Nhất Hạnh về nước với hơn một trăm thành viên.

Ba sự kiện này diễn ra trong lúc Phan Nhật Nam đang nằm dưỡng bệnh sau cơn giải phẫu. Khi được xuất viện trở về Nam Cali, Phan Nhật Nam mới được tận mắt đọc những sự kiện này trên báo, và vì vậy anh đã không có được sự nghỉ ngơi cần thiết cho thời gian dưỡng bệnh. Anh đã gượng đau ngồi dậy viết, suy nghĩ, tìm tòi tài liệu, ngủ để lấy sức tỉnh dậy lại viết, suy nghĩ, tìm tòi tài liệu...

Bài viết do đó có thừa phẫn nộ, và có thể chính sự phẫn nộ bừng bừng này đã khiến cho bài viết có thể có những chi tiết không đúng với thực tế xảy ra như những đoạn nói về Thiền Sư Nhất Hạnh. Tuy nhiên để giữ cho được văn phong như viết hịch của Phan Nhật Nam, chúng tôi để nguyên chỉ lược bỏ những chi tiết đã được kiểm chứng. Vì bài viết quá dài, chúng tôi xin đăng tải làm hai kỳ liên tiếp.

Kỳ 2 (tiếp theo và hết)

Hai.

Nhất Hạnh: Giả Hành không hề là Hành Giả

Chúng tôi cần minh xác ngay, bài viết chỉ đề cập đến “cá nhân tên gọi Nhất Hạnh” qua ngôn ngữ, chữ viết của một kẻ dụng tiếng lời, văn bản thực hiện một công tác chính trị nhằm triệt hạ một chế độ, bảo vệ một chế độ đối nghịch và bạo ngược khác không là một tăng sĩ hành đạo theo ý nghĩa, mục tiêu tôn quý của Phật Giáo - Ðạo giải thoát nhằm mục đích giúp con người cởi bỏ oán nghiệp thế gian, cũng là sức mạnh tiềm ẩn bền bỉ của Việt tộc chứng nghiệm theo suốt hai nghìn năm lịch sử. Hơn thế nữa, về lý thuyết và thực hành Thiền Ðạo, cá nhân nầy cũng đã biểu hiện những hành vi, ngôn ngữ hoàn toàn sai lạc với giáo lý, cách ứng xử của hành Thiền – Phần thứ hai của đoạn viết nầy sẽ dẫn chứng rõ. Chúng ta bắt đầu câu chuyện qua trích dẫn bài viết xác đáng của Tôn Nữ Như Không thể hiện tính Vô Kỵ, Vô Úy, Vô Ngại của Phật Pháp: “...Nói tới Thiền Sư Thích Nhất Hạnh có lẽ phần đông người Việt Nam đều nghe danh, và đối với phần đông người Việt Nam và người ngoại quốc, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã xuất hiện như một người đạo cao, đức trọng. Chính vì cái hình ảnh đạo cao, đức trọng này, cộng với tài tổ chức, tài thuyết pháp và tiền rừng, bạc biển, mà Thiền Sư Thích Nhất Hạnh có khả năng góp phần gây ảnh hưởng tốt hay xấu trên dư luận thế giới về một vấn đề nào đó... Và tại sao hôm nay chúng tôi lại buồn lòng phải thưa chuyện với Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, với Phật tử và với mọi người Việt Nam một cách thẳng thắn? Xin thưa: Vì Thiền Sư Thích Nhất Hạnh lại vừa làm thêm một chuyện động trời. Tôn Nữ Chơn Không, Tâm Dao Găm”. Bài viết đi vào chi tiết hành động, ngôn ngữ của người (được tưởng rằng) gieo rắc tình thương, bác ái, nhưng thật sự đang bày ra một bãi phục kích với súng đạn, máu chảy, xương rơi ngụy tạo: “Sau khi nước Mỹ bị bọn khủng bố tấn công tàn bạo, và trong khi nước Mỹ gạt nước mắt để cương quyết đứng lên cùng cả thế giới ngăn chặn những đợt khủng bố kế tiếp, đồng thời truy lùng bọn khủng bố có tổ chức quy mô và có khả năng tiêu diệt nền văn minh nhân loại bằng những thứ vũ khí độc hại nhất, thì Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã cấp tốc thuyết pháp tại một nhà thờ ở New York, và những người Mỹ tổ chức buổi diễn thuyết này đã chi một số tiền kếch xù để đăng quảng cáo buổi thuyết pháp này trên một tờ báo có ảnh hưởng rất lớn ở nước Mỹ là tờ The New York Times... Bài thuyết pháp được mở đầu bằng tám câu thơ, xin tạm dịch,

“Tôi bụm mặt trong hai bàn tay

Không, tôi không khóc

Tôi bụm mặt trong hai bàn tay

Ðể sưởi ấm nỗi cô đơn

Trong bàn tay bảo vệ.

Trong bàn tay nuôi nấng

Trong bàn tay ngăn cản

Hồn tôi đừng bỏ tôi một mình trong cơn giận dữ.”

Bài thơ thật tuyệt vời, nhưng là sự tuyệt vời khởi đầu cho một âm mưu gian dối! Bởi vì ngay sau đó, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã nói với cử tọa Mỹ rằng bài thơ đã được làm trong cuộc chiến tranh Việt Nam, khi thiền sư nghe tin thị xã Bến Tre với 300,000 ngàn dân đã bị máy bay Mỹ bỏ bom phá hủy, chỉ vì có bảy quân du kích đã bắn vài loạt đạn súng phòng không lên trời rồi bỏ chạy. Vụ phá hủy thị xã Bến Tre ấy đã làm thiền sư đau đớn vô cùng!

Muốn phân tích truyện bịa trắng trợn mở đầu cho bài thuyết pháp hôm 25 tháng 9 vừa qua (2001, 2002), thiết tưởng nên chép lại đây nguyên văn lời Thiền Sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp bằng tiếng Mỹ: “I wrote this poem during the Vietnam war after I heard about the bombing of Ben Tre city. The city of 300,000 was destroyed because seven guerrillas shot several rounds of unsuccessful anti-aircraft gunfire and then left. My pain was profound.” Tôn Nữ Như Không, ibid.”

Chúng tôi cần lưu ý, nói rõ về câu nói cố ý lấp lửng: “All the city of 300,000 was destroyed..” thị xã Bến Tre (hay Trúc Giang), thuộc quận Châu Thành, tỉnh Bến Tre, nằm cạnh sông Tiền Giang; tỉnh được thành hình do phân chia hành chánh của thời Ðệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) lấy từ phần đất của Mỹ Tho, Long An, Gò Công, mà thật ra chỉ do một Quân Bình Ðại cơ hữu được mở rộng. Thế nên, bên cạnh Mỹ Tho, Tân An, Thị Xã Trúc Giang của Bến Tre chỉ là một phố chợ mới khai triển. Cũng cần nêu một so sánh, trước khi chiến tranh mở rộng do lần đổ quân của quân lực Mỹ, bởi Hà Nội quyết định dứt điểm miền Nam trong mùa khô năm 1965, dân số Ðà Nẵng khoảng hơn 100,000 người, và Sài Gòn đứng ở con số 1 triệu 500,000 người với quận Phú Nhuận, quận lớn nhất Sài Gòn cũng chỉ có dân số 200,000 người - Vậy lấy đâu thị xã Trúc Giang (Bến Tre) có được dân số 300,000 người cho một lần tàn sát? Giờ tính đến những thống kê quân sự của trận chiến thế giới: Trái bom nguyên tử thả xuống Hiroshima ngày 6 tháng 8, 1945 tàn sát 80,000 người; trái thả xuống Nagasaky bốn ngày sau giết hại 40,000 (Our Times, Turner Publishing, Inc. Atlanta, Georgia, USA 1995; p336). Vậy với hai quả bom ghê gớm kia của lịch sử chiến tranh thế giới, tổng số người thiệt hại chưa với tới một nửa của trận oanh tạc do một người không hề có chút nhỏ kiến thức về vũ khí, quân trang bị gọi là “Thiền Sư” Nhất Hạnh ngụy tạo. Lời tố cáo sẽ gặp bế tắc bởi những câu hỏi cụ thể: “Trận oanh tạc kia xảy ra vào thời điểm nào? Của trận đánh nào?” Bởi, chỉ là một người hành nghề thuyết giảng nên ông ta hoàn toàn không biết rằng: “Lệnh oanh tạc, xạ kích từ máy bay chỉ được thực hiện sau khi máy bay quan sát đã chỉ điểm mục tiêu, do yêu cầu của bộ binh có mặt trên trận địa”. Làm gì có sự kiện một trận oanh tạc được thực hiện tùy tiện nhằm để trả đũa sau khi bị bảy du kích bắn lên dẫu không gây thiệt hại (làm sao biết rõ chỉ với con số bảy người chứ không nhiều, hoặc ít hơn; và những ai đã sống sót sau trận oanh tạc tàn khốc kia để nay giúp Nhất Hạnh dựng nên điều tố cáo)?! Chỉ một vụ Mỹ Lai thôi với 22 nạn nhân được xác định là “nạn nhân vô tội không có vũ khí” cũng đủ làm lung lay tinh thần chiến đấu, uy tín của quân đội, chính phủ Mỹ. Ðằng nầy ba-trăm ngàn người chết im lặng, biến đi không dấu tích, nay mấy mươi năm sau mới được tái hiện trên miệng lưỡi Nhất Hạnh, và không một tờ báo nào, những The Washington Post, The New York Times để xuống cho một chữ, một lời ý kiến - Ngoài bài thuyết pháp (bao gồm nội dung tố cáo với 300,000 ngàn xác chết) được trả tiền đăng tải - Cũng với The New York Times chứ không ai khác. Nhất Hạnh, ông là một người nghiên cứu quân sự hạng tồi và cũng chẳng khá hơn trong nghiệp vụ hành giả - Chúng tôi trả ông về với phạm vị thủ đắc với chiếc kính chiếu yêu soi rõ chân dung.

Ðạo Phật là Ðạo giải thoát - Giải thoát khỏi Nghiệp Khổ - Không chỉ những khổ đau thiệt hại thông thường về thể chất, tinh thần nhưng toàn bộ ràng buộc, liên hệ, hậu quả do, từ, của tiến trình: Hình thành-Tăng trưởng-Suy hoại-Hủy diệt-Tái sinh. Và Thiền Lực là phương tiện (hữu hiệu nhất) bức thoát khỏi tiến trình kiềm hãm nầy qua khai triển năng lực vô hạn của Tính Không - Sunyata: Phật Tánh hay Pháp Tánh của Phật. Chúng ta hãy xét xem người gọi là “Thiền Sư” Nhất Hạnh đã thực hành “thiền” như thế nào: “Ông có đủ (rất đủ), có nhiều (rất nhiều) do tài tổ chức, tài thuyết pháp với tiền rừng, bạc biển (TNNK- ibid)... Ông đi bước “thiền hành” có hàng trăm, ngàn đệ tử theo chân; ông đưa tay ra chỉ dấu (do đang “thiền định”) có người phối hiệp Chân Không theo hầu thực hiện..

Cuối cùng, để kết thúc phần Nhất Hạnh, chúng tôi cậy đến quan điểm của Ðại Sư A.C. Bhaktivedanta Swami Prahupãda, chủ tịch sáng lập Viện Nghiên Cứu Thế Giới về Ý Thức Ðại Giác (trụ sở ở Los Angeles - USA, Úc, và Nam Phi) soi rọi ánh sáng minh triết về hiện tượng Sống-Chết, Tu Chứng; Hành Thiền: “Người minh tuệ không cần phải than khóc ngay cả khi đối mặt với cái chết, bởi vì hiểu rằng linh hồn trong thể xác (đang ở trạng thái gọi là chết ấy) không hề chết. A.C. Bhaktivedanta Swami, Bhagavad-Gita As It Is, Victoria, Australia, 1997. p 33”. Và đại sư cũng định nghĩa rõ thế nào là một hành giả chân chính: “Khi một người (làm ra vẻ) giới hạn ý nghĩa của hành động mình, nhưng tâm trí lại bị mắc kẹt vào ý thức vật thể, thì chắc chắn rằng, kẻ ấy tự đánh lừa mình, và (chúng ta) phải gọi đấy là một “kẻ giả hành - pretender” A.C. Bhaktivedanta Swami ibid, p 93”. Ðại sư tiếp giải thích quan điểm trên qua phân biệt cao kiến: “Có nhiều kẻ giả hành phủ nhận hành (Nghiệp) qua Ý Thức Giác Ngộ (Krsna Conciousness), nhưng làm ra cách điệu thiền định, thật sự lại cột chặt tâm trí mình vào ý thức dục lạc. Những kẻ giả hành kia có thể thuyết giảng về một thứ, loại triết lý khô rốc nào đó nhắm mục đích lừa bịp chúng đệ tử màu mè huê dạng – Nhưng căn cứ theo những lời thuyết giảng ấy, những kẻ (gọi là giả hành) nầy rõ ràng là những tay bợm bãi siêu đẳng. Ðúng ra mà nói, đối với ý thức dục lạc, người đời có thể thực hiện với bất cứ khả năng (riêng tư) thích nghi nào miễn là phù hợp với trật tự xã hội - Và khi con người hành sử trật tự, luật tắc (xã hội) như thế tức là họ đã tiệm tiến thanh hóa cuộc sống (trần thế) của mình vậy. Nhưng (trái lại) khi con người cố tâm biểu diễn nên thành một hành giả mà thực tâm chỉ gắng công tìm kiếm nguồn vật chất, cốt để thỏa mãn ý thức dục lạc của mình - Bây giờ, kẻ ấy phải gọi nên đích danh là một tên lừa bịp lớn nhất - cho dù đôi khi y ta cũng huênh hoang rao giảng về điều gọi là triết học. Sự hiểu biết của đương sự quả thật vô dụng, bởi những hệ quả dậy từ tri thức ma quỷ của hắn sẽ bị xóa bỏ bởi năng lực soi rạng của Thượng Ðế. Tâm trí của kẻ giả hành kia luôn bị hôn ám, thế nên, những màu mè biểu diễn về định thiền, tu tập của y ta hoàn toàn không một chút nhỏ giá trị nào. A.C. Bhaktivedanta Swami ibid, Chapter III; 6th Paragraphe; p 93”. Ðịnh nghĩa, phân giải của vị đại sư hẳn quá đầy đủ, áp dụng chính xác đối với người, việc của một cá nhân hành nghề thuyết giảng có tên hiệu Nhất Hạnh.

Ba.

Nguyễn Cao Kỳ: Tiếp tục những điều kỳ cục, quái gở ở mức độ cao nhất.

Ðến nhân sự thứ ba nầy quả thật bản thân rơi vào tình cảnh não nề muốn vất bỏ công việc đang dự trù thực hiện. Cũng bởi thân xác quá yếu mệt sau lần giải phẫu lớn, nhưng cụ thể hơn là mối phiền bực vô hạn khi phải chứng kiến một điều tệ hại quá đỗi xấu xa. Con người phải có lương tri, lương năng. Con người phải có liêm sỉ. Con người phải biết dừng lại tại những giới hạn – Giới hạn phân biệt giữa một Nhân Vị siêu việt và một Sinh Vật thuần bản năng. Vị tướng lãnh quân đội, người lãnh đạo chính trị lại cần thể hiện những phẩm chất bản lãnh cao thượng riêng biệt để xứng đáng với vị thế danh xưng mình đã từng thủ đắc, cho dẫu cuối cùng phải gánh phận thất bại. Nhưng hôm nay, nhân sự tên gọi Nguyễn Cao Kỳ thêm một lần (của rất nhiều lần) vượt khỏi giới hạn cuối cùng nầy ở hạn tuổi quá bảy mươi. Có thể đêm nay, có thể ngày mai, một tương lai rất gần, cá nhân nầy sẽ phải tan biến, nhưng những tiếng lời xấu xa vô nghì của, về ông ta sẽ mãi lưu lại... Tại sao lại có thể như thế với một người đã 75 tuổi tên gọi Nguyễn Cao Kỳ? Chúng tôi tự hỏi như thế nhiều lần với kinh ngạc vô vàn trước sự kiện trâng tráo cực độ nhẫn tâm. Bài viết sau đây có ý nghĩa như một cố gắng cuối để giải thích về một điều không thể xẩy ra, nhưng... đã xảy ra như một lẽ thường của Tính Bất Thiện.

Ðể giới hạn mục tiêu bài viết, chúng tôi chỉ căn cứ trên những trả lời của ông Kỳ với phóng viên báo Thanh Niên, Xuân Ất Dậu 2005 (theo bản tin NET ngày 25 tháng 1, 2005 chuyển tiếp; kèm hình ảnh buổi ký hợp đồng xây dựng sân golf Tuần Châu (12/2004); NCK chứng kiến, đứng giữa những giới chức đương sự); chúng tôi cũng trích dẫn những điều ông ta cải chính với báo nầy qua lá thư gởi tổng biên tập báo Thanh Niên, đề ngày 24 tháng Giêng, năm 2005; bản sao đồng gởi tới Vũ Mão, Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, trưởng ban Ðối Ngoại (Tôn Nữ thị Ninh giữ chức phó ban); Phạm Thế Duyệt, chủ tịch UBTU Mặt Trận Tổ Quốc; các tổ chức trong nước; hội đoàn, báo chí hải ngoại.

Ðể có một đúc kết chính xác về những vụ việc quanh nhân sự NCK, chúng tôi tóm lược những hoạt động, tuyên bố của ông ta có liên quan đến người, việc ở hải ngoại, với đối tượng cụ thể là Người Lính VNCH. Sự kiện thứ nhất, lời tuyên bố trong cuộc gặp gỡ với David DeVoss, đặc phái viên báo thương mại, Asian Inc's America (bản tin NET ngày 28 tháng 10, 2002): “Cuộc chiến Việt Nam là một chiến tranh bẩn thỉu”. Nhưng sau khi nhận thấy cộng đồng quân-dân miền Nam nơi hải ngoại phản ứng đồng loạt chống đối, nên cá nhân kia thực hiện tiếp một cuộc phỏng vấn với ký giả Bảo Vũ (đài phát thanh Úc Châu) để đính chính rằng: Y ta không sử dụng cụm từ bất nghĩa, “A little dirty war...” đối với chiến tranh, người, việc của miền Nam trong giai đoạn 1955-1975, qua lời thanh minh: “Chỉ lập lại ý kiến của giới truyền thông, sách báo của giới phản chiến Mỹ.” Từ sự kiện nầy, chúng tôi đã phải lên tiếng lần thứ nhất với bài viết “Khi người lính già tự tay xé chứng chỉ tại ngũ”, Cali, 11/2002

Tiếp đến lần thứ hai, cá nhân ấy về Sài Gòn (dịp Tết Giáp Thân, 2003-2004) tung ra những nhận định, tuyên bố (qua họp báo, thâu hình ở Sài Gòn - Bản thân và nhiều bằng hữu, chiến hữu có dịp theo dõi, ghi nhận từ một băng vidéo gốc tại tư gia của một vị tướng lãnh niên trưởng khả kính) có mục đích xưng tụng người và chế độ đã gây đại họa cho toàn dân tộc Việt (cũng bao gồm cá nhân, gia đình của chính đương sự) trong suốt thời gian dài kể từ ngày Ðảng Cộng Sản thiết lập, 3 tháng 2, 1930 - Năm y ta ra đời. Rồi tiếp theo cũng có lời thanh minh với những ký giả Cao Sơn, Võ Phong (San José); Lý Kiến Trúc (Văn Hóa, Nam Cali). Chúng tôi buộc phải cầm bút lần thứ hai để khẳng định: “Gã lính già kia thực sự chỉ là một phó lái buôn - Tên lái buôn biển lận đi rao bán máu và thây xác của chính đồng bào, đồng đội mình” - Qua bài viết, “Ky est Ky” Cali, tháng 2/2004.

Cụm từ “Người lính già” vốn có xuất xứ từ lời tuyên xưng cao thượng của Danh Tướng McArthur, “Người lính già không bao giờ chết... Họ chỉ nhạt nhòa đi”. Nguyễn Cao Kỳ trong thập niên 60-70 luôn nại ra để đề cao “trị giá quân nhân tướng lãnh” của bản thân - Nhưng sự thật hôm nay đã hai lần phản bác, bày ra một con người đã bốc lầy lên mùi thây ma khi đang còn sống. Bây giờ lại là lần thứ ba, và chúng tôi sẽ không đề cập đến những ý kiến của ông ta giải thích về lý do, hậu quả của việc giao dịch, buôn bán, cộng tác với chính quyền Hà Nội mà hiện tại đương sự đang đóng một vai trò trung gian, dắt mối giới thiệu. Chúng tôi hạn chế bài viết trong chủ đề: “Nguyễn Cao Kỳ chê bai tướng lãnh và quân đội VNCH” với người, việc thuộc lãnh vực quân sự theo như lời mở đầu, căn cứ trên bài viết của Văn Phan, và hai văn bản liên hệ (một của báo Thanh Niên, một của y đương sự).

Buổi Nguyễn Cao Kỳ “nói thẳng” được mở đầu với khẳng định: “Tôi (NCK) đã nói từ năm 1973 về việc miền Bắc sẽ chiến thắng!” Nguyễn Cao Kỳ tiên tri tương lai miền Nam: “Ngay sau Hiệp Ðịnh Paris, tờ Newsweek đã phỏng vấn tôi cả một trang cuối... Họ (Newsweek) hỏi: “Sau khi người Mỹ rút đi mọi chuyện sẽ như thế nào?” Tôi trả lời: “Cộng sản sẽ tấn công” Hỏi: “Bao lâu nữa?” Tôi đáp: “Sau hai năm”. Khi đó mọi chuyện sẽ như thế nào?” Tôi trả lời: “Miền Nam sẽ tan rã”. Từ tiền đề “nói đúng, nói chính xác” tương lai miền Nam với những câu xác định vừa kể, NCK và phóng viên báo Thanh Niên qua điểm gút của câu chuyện (về những tướng lãnh, người lính miền Nam). Qua đoạn hỏi, đáp nầy, chúng ta nhận ra là đã có một Nguyễn Cao Kỳ rất “giỏi gian”- khôn ngoan sắc xảo hơn cả Bunker, hơn hẳn Nguyễn Văn Thiệu - Bởi ông Thiệu nói rằng, vì tôi ghen ghét nên tôi nói bậy. Nhưng cuối cùng thực tế đã diễn ra đúng như thế. (NCK, Thanh Niên ibid) Ðể tăng cường độ chính xác đối với ý kiến của NCK, chúng tôi bổ túc những yếu tố sau mà chắc rằng viên thiếu tướng chuyên nghiệp lái máy bay vận tải không biết (vì nếu như đã tường tận, thì “tiên tri- miền Nam sẽ sụp đổ” cũng chẳng cần tài giỏi gì mới nói lên được): Trong trận chiến 1972 trước khi Hiệp Ðịnh Paris ký kết (từ hội nghị do NCK giữ chức trưởng phái đoàn đầu tiên (1968) với nhiệm vụ (quan trọng hơn trách nhiệm chính trị của một trưởng phái đoàn quốc gia) đưa vợ qua Paris mua sắm, du hý) một pháo đội đại bác (với 6 khẩu 105 ly) có thể tác xạ 10 tràng (60 viên đạn) để dọn bãi, giữ an toàn mục tiêu (nếu đụng trận số đạn sử dụng sẽ không hạn chế). Cấp số đạn (được quyền sử dụng kia) sau hiệp định chết người gọi là “Tái Lập Hòa Bình tại VN” chỉ còn “4 (bốn) viên cho một ngày hành quân”. Và ngay tình hình nhân sự, trang bị, khí tài trong không quân, hẳn NCK cũng không biết nốt, tương tự như vào những giờ phút nguy biến của quốc gia, ông ta đã có thái độ vô trách nhiệm qua hoạt cảnh (trong biến cố gọi là “Phản Ðảo Chính 19 tháng 2, 1965”): “Tôi (Ðại Tá Phạm Văn Liễu, tổng giám đốc Cảnh Sát - pnn) phóng xe lên thẳng phi trường Biên Hòa để tìm cách đối phó với tình thế... Ông Kỳ đang ngồi đánh mạt-chược... Vẫn không rời bàn mạt-chược, Tướng Kỳ đáp: “Ông làm cách nào đánh lại tụi đảo chính đi. Tôi sẽ cho thằng Phạm Phú Quốc lên vùng, đặt dưới quyền điều khiển của ông.” (Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi, Văn Hóa, Houston, TX 2004; Tập 2, trg 228). Ðiều (có thể) không biết của NCK về Không Quân là, sau Hiệp Ðịnh Paris 1973, ngay Sư Ðoàn 5 Không Quân của Phan Phụng Tiên (bạn thiết của Kỳ) chỉ còn đúng 3 (ba) chiếc C130 sử dụng được - Không chỉ thế, những phi cơ hoạt động nầy phải dùng cơ phận của những chiếc bị đình động. Trong những ngày di tản kể từ 15 tháng 3, 1975 (lần di tản Pleiku), Bộ Tư Lệnh Không Quân phải dùng đến C123 đã bị đình chỉ hoạt động từ lâu. Tình trạng của các phi cơ chiến đấu cũng không khả quan hơn, Skyraider từ đời đệ nhị thế chiến (1945) sau 1973, 1974 lại phải đem ra bay tăng cường cho F5, A37 (bởi đã quá giờ bay hành quân). Và chắc chắn Nguyễn Cao Kỳ cũng không hiểu biết bao nhiêu về chính trị như: Ðiều I của Phần Dẫn Nhập Hiệp Ðịnh Paris (lập lại từ Hiệp Ðịnh Genève 1954) xác định một nguyên tắc nhất quán, căn bản:

VIỆT NAM LÀ MỘT NƯỚC BẤT KHẢ PHÂN – Có nghĩa: HÀ NỘI KHÔNG HỀ XÂM LƯỢC MIỀN NAM. Có nghĩa: KHÔNG CÓ QUÂN ÐỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA XÂM LĂNG NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HÒA, MỘT QUỐC GIA DƯỚI VĨ TUYẾN 17 - VÀ VĨ TUYẾN NẦY CHỈ LÀ ÐƯỜNG RANH QUÂN SỰ TẠM THỜI. VÀ CUỘC CHIẾN MIỀN NAM SẼ DO ‘HAI BÊN MIỀN NAM VIỆT NAM’ GIẢI QUYẾT TRONG TINH THẦN HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC”.

Chúng tôi không võ đoán về tính chất ngây thơ tầm phào (trong lãnh vực chính trị) của Kỳ, bởi chính đương sự đã thủ diễn những màn hài hước (chính trị) và được (chính xác là “bị”) đánh giá như sau:

“Sau khi được đề cử nắm giữ chức vụ hành chánh cao nhất của miền Nam vào năm 35 tuổi: “Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương”, Nguyễn Cao Kỳ được người Mỹ phê điểm: “Tên nhãi ranh gọi là Tướng Kỳ kia, hôm nay (19 tháng 6, 1965) đã lớn tiếng yêu cầu chúng ta “xâm lăng miền Bắc và giải phóng Bắc Việt Nam” - Thằng nhỏ điên khùng trời đánh nầy không hề lái xe ra khỏi Sài Gòn được một dặm nếu như không có đoàn công-voa súng đạn tận răng hộ tống, nay lại đòi giải phóng miền Bắc! (Neil Sheehan A Bright Shinning Lie Random House - New York, 1988, p512)

Chúng ta có thể lấy thêm nhận xét của một giới chức đã từng giữ chức vụ quan trọng trong quá trình đẩy mạnh, thực hiện chiến tranh, tăng cường viện trợ cho miền Nam (những người mà Kỳ đánh giá “không tài giỏi, khôn ngoan” bằng ta). Ðiển hình như Phó Ðại Sứ Alex Johnson đã có lời: “Hắn ta (Kỳ) như một hỏa tiễn không hướng dẫn. Chỉ là một bợm rượu, chuyên bài bạc, và vây vo tán tỉnh quanh quẩn mấy con mụ đàn bà... Khi được báo chí hỏi ai là người mà hắn tán tụng nhất; y đã tuông lời huênh hoang: “Tôi chịu Hitler hết ý... Ở Việt Nam nầy phải cần có đến bốn hay năm Hitler mới được (Robert McNamara In Retrospect Random House - New York, 1995, p186)

Chúng ta trở lại thời điểm tháng 4, 1975. Sài Gòn như một bãi lửa sau khi Quân Ðoàn II rút bỏ Tây Nguyên (15 tháng 3); Quân Ðoàn I lui binh khỏi Huế (24 tháng 3); Ðà Nẵng 29/3; Nha Trang 30/3 - Thời điểm mà Kỳ đã tiên tri “chính xác” sẽ phải tới sau hai năm ký kết Hiệp Ðịnh Paris - Nhưng Kỳ đã không hành sử theo “tiên tri” của mình mà lại tìm tới người Mỹ (người Mỹ dưới quyền của Ðại Sứ Bunker, kẻ bị Kỳ chê [không thức thời] với báo Thanh Niên ba mươi năm sau). Người Mỹ nầy có vẻ thông cảm (vẫn là người Mỹ chứ không ai khác) trong bữa rượu có tính cách vĩnh biệt chiều 27 tháng 4, Eric von Marbord (giới chức CIA cao cấp) cùng Kỳ lắng nghe tiếng pháo (cộng sản) dội xuống quanh thành phố và còi báo động thổi dồn. Kỳ ngỏ lời: “Chúng tôi có thể (tiếp tục) chiến đấu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, và có thể cầm cự trong vài tháng. Chính phủ Hoa Kỳ thuận hỗ trợ cho chúng tôi không? Không phải với nhân mạng, nhưng bằng vũ khí?

- Ðau thương thêm mà thôi. Không được đâu. Marbord xác định: “I'm sorry, the answer is NO. (Nguyên bản tiếng Mỹ) Olivier Todd; Cruel Avril Robert Lafont, Paris, 1978 p349).

Bị người Mỹ bỏ rơi (điều nầy Kỳ hẳn không “tiên tri” thấu), giờ đến lượt những tướng lãnh miền Nam, những người được Kỳ (tháng 4, 1975) tin tưởng, tiết lộ cho biết kế hoạch: Chỉ cần chiếm giữ dinh tổng thống, trụ sở và nhân sự bộ tổng tham mưu; đài phát thanh và truyền hình là nắm trọn miền Nam. Tất cả những viên tướng chỉ huy các đơn vị đều hoàn toàn đồng ý; nhưng do kinh nghiệm của bản thân họ (đối với Kỳ), nên những ông tướng đồng có lời thoái thác. Ví dụ như Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng thì có ý kiến: “Ông cứ làm tới đi. Chỉ cho biết ngày giờ, tôi sẽ mở sẵn cửa bộ tổng tham mưu.” Viên tư lệnh không quân thì tâm sự: “Xin ông hãy ra tay. Nếu như muốn bắt tôi, tôi sẽ không một phản ứng chống cự nào. Ông dư biết Thiệu cũng đang chuẩn bị chạy. Sau lần cuối cùng gặp mặt, phía Mỹ đã phái một tay đưa tin đến bảo tôi đừng động đậy gì cả..” Gần gũi với Kỳ hơn hết là viên (cựu) tư lệnh thủy quân lục chiến (Tướng Lê Nguyên Khang - pnn), cũng có ý kiến (tương tự): “Tôi không thể cho anh quân, nhưng nếu anh hành động thì lính tôi sẽ không phản ứng chống đối.” Như thế là thế nào? Trong giờ phút sôi lửa sống chết của cả miền Nam, Kỳ còn đặt hy vọng (hy vọng gì?) vào tay những tướng lãnh mà (sau ba mươi năm) Kỳ đã đánh giá: “Vì tôi biết rất rõ ràng về cái gọi là những người chỉ huy, những ông tướng lãnh miền Nam ấy. Từ ông Thiệu cho đến những ông khác dưới trướng, xin lỗi toàn những vị ăn chơi phè phỡn... Vann Phan, Người Việt ibid & NCK, Thanh Niên ibid”

Không khuyến dụ được các ông tướng, đợi đến ngày 23 tháng 4, Kỳ sốt ruột vì hai ông Thiệu và Khiêm đang chuẩn bị ra đi với những tấn hành lý chứa đồ quý giá mà không ai mời đến trao quyền, làm lễ nhậm chức. Kỳ đáp trực thăng xuống mái Dinh Ðộc Lập, vào gặp Tổng Thống Trần Văn Hương. Kỳ nói liền:

- Cộng sản có thể vào Sài Gòn trong vòng vài ngày, hoặc vài giờ.

- Phải điều đình thôi, Mérillon (đại sứ Pháp) và nhiều người thúc giục tôi trao quyền cho Minh (Dương). Quân đội không thể chống cự lại; có phải họ hết đạn rồi phải không? Tổng Thống Trần Văn Hương mệt mỏi.

Kỳ vẫn hăm hở: Với súng, đạn hiện có chúng ta có thể cầm cự được một hay hai năm. Hãy đặt tôi làm tham mưu trưởng liên quân. Kỳ nghỉ rằng quân đội cần một người chỉ huy nghị lực (là chính ta). Nhưng Tổng Thống Hương từ chối khéo: “Một người như ông đã là thủ tướng, và là phó tổng thống, không thể nào chỉ giữ chức tham mưu trưởng thấp xoàng như vậy. Ðợi vài bữa nữa, tôi bổ nhiệm ông vào địa vị cố vấn quân sự đặc biệt cho chính phủ (Olivier Todd ibid p326).

Tổng Thống Hương không trao quyền chức thì “người” tìm về phía nhân dân. Kỳ cùng Linh Mục Thanh tập họp 10,000 (mười ngàn) người ở Xóm Mới, khu Công Giáo bắc Sài Gòn bùng lên những tuyên bố hỗn loạn, náo động: “Thành lập một chính quyền mới, sửa soạn cuộc kháng chiến; hoặc phải thực hiện ngưng bắn ‘nghiêm chỉnh’ (!)để điều đình.” Trong cơn say máu, Kỳ tung lên lời nguyền để đời: “Qua Mỹ không có mắm tôm, cà pháo. Hãy ở lại chiến đấu. Biến Sài Gòn thành một Stalingrade!” Ðám đông hoan hô như sấm rền (Todd ibid p335-337).

Chúng ta trở lại trọng tâm của đoạn viết, vậy “Những Tướng Lãnh, Người Lính Miền Nam” nào là đối tượng chịu nhận sự lăng nhục (của Kỳ) hôm nay? Bởi, qua một khoảng thời gian dài từ 1965 đến 1975 như trên vừa nhắc lại, hơn ai hết Kỳ đã luôn cần tới họ - Những Tướng Lãnh và Những Người Lính thuộc QLVNCH - Cột trụ chính xây dựng nên “công danh, sự nghiệp” cho đương sự, vốn xuất thân là thành phần thanh thiếu niên ma mãnh phá phách nơi những khu phố nhỏ Hà Nội trong những năm đầu thập niên 50. Nguyễn Cao Kỳ luôn cầu và phải cần tới họ – Những Quân Nhân Cao Thượng Trung Chính trong giờ phút tử sinh, sống còn của chính bản thân Kỳ. Nguyễn Cao Kỳ không thể đến Trường Chỉ Huy Tham Mưu Long Bình (Biên Hòa) ngày cuối tháng 4, 1975 nếu không được Trung Tướng Phan Trọng Chinh bảo đảm hành vi. Nguyễn Cao Kỳ không thể rời Bộ Tổng Tham Mưu để bay ra mẫu hạm USS Midway trong buổi sáng 29 tháng 4, 1975 nếu không có bảo vệ cuối cùng bởi Trung Tướng Ngô Quang Trưởng - Vị tướng quân bậc thầy của những tướng lãnh mà ngay cả đối phương cộng sản cũng không hề có lời xúc phạm.

Và cuối cùng, trực thăng của Kỳ, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, nguyên tư lệnh Không Quân QLVNCH, chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, phó tổng thống VNCH sẽ không bao giờ rời khỏi bãi đáp tại tư gia trong Tân Sơn Nhất được nếu không có Người Lính kiên cường - Viên phi công Hỏa Long AC119 của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa đơn độc đương cự - Trung Úy Nguyễn Văn Thành - Thiếu Sinh Quân “Thành mọi”. Anh bay lên, vào vùng, bắn phá những vị trí pháo cộng sản đang bố trí quanh Sài Gòn. Thành đáp xuống (tự tay) tiếp đạn, và tiếp bay lên. Một hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 chém đứt thân máy bay. Con tàu bốc cháy, rơi xuống với chiếc dù của Thành kẹt nơi cánh. Ðúng 6 giờ 46 phút sáng 29 tháng 4, năm 1975. Tôi chứng kiến. Tôi thấy người phi công chết cháy trong vũng lửa trên bầu trời Tân Sơn Nhất - Giờ Nguyễn Cao Kỳ bay ra hạm đội Mỹ.

Câu chuyện thăm thẳm dài bi thiết của dân và lính miền Nam (cũng của cả Việt Nam hôm nay, ba mươi năm sau ngày 30 tháng 4, 1975) chấm dứt nơi đây, bởi cơn bi phẫn do bị xúc phạm phải kìm giữ lại quá đỗi nặng nề. Người viết lập lại kết luận đã một lần trình bày tại hội thảo về Chiến Tranh Việt Nam tại Ðại Học Tokyo, ngày 14 tháng 1, 2002: “Thượng Ðế ban cho con người sự sống, và kế hoạch hóa tình cảnh, thời điểm từ giã cuộc đời trần thế - Nhưng con người trong chuỗi sinh tồn kia đã hiện thực điều bi thiết vĩ đại của mình - Người quyết định lần chết cho chính bản thân. Người trao gởi lại sau cái chết xác thân một trị giá vinh hiển. Người Việt Nam đã hiện thực điều cao cả kia một cách tự nhiên trong suốt đêm đen bất hạnh dài theo thế kỷ, giữa vũng lửa chiến tranh mà toàn dân tộc đang gánh chịu một cách khắc kỷ - Xem như một sự cùng đành. Không chỉ là những người lính nơi trận địa, mà là hằng loạt tướng lãnh giữ chức tư lệnh đại đơn vị, hoặc sĩ quan cấp tá cao cấp: Các tướng lãnh, Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ; Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Hữu Thông; Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long... Người không chỉ chết một mình, mà với toàn gia đình cùng một lần quyết tử: Chị Nguyễn Thị Thàng, vợ một nghĩa quân chết với chồng và đàn con nơi chiếc đồn cô quạnh ở Giồng Trôm, Vùng IV; Thiếu Tá Ðặng Sĩ Vĩnh, bào huynh của gia đình niên trưởng Hà Thượng Nhân (Trung Tá Phạm Xuân Ninh, chủ nhiệm báo Tiền Tuyến) chết cùng với cả nhà gồm ba thế hệ: Ông, cha, cháu; Những người lính Thủy Quân Lục Chiến Lữ Ðoàn 147 của Nguyễn Xuân Phúc, Ðỗ Hữu Tùng đồng tự sát nơi Bãi Mỹ Khê, Ðà Nẵng cuối tháng 3, 1975; Trung Ðội Nhảy Dù với Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái cùng nỗ một lần lựu đạn sáng 30 tháng Tư, 1975.

Ánh chớp thanh quang của anh linh bao người trung liệt kia hẳn đã rung mờ nhật, nguyệt, hiện thực lần núi sông cùng khóc với con người. Và người cùng một lần sống mãi với quê hương với lịch sử”.

Mỹ Quốc,

Ngày ra tù 15 năm trước,

(29/1/1989-2004)

Phan Nhật Nam