|
|
|
Vụ
Án Ðốn Sơn - Anh
Hùng Ẩm Hận Trich
tu Dan Chu - Chánh
Phương *
Dẫn Nhập: Ba
trăm bảy mươi (370) người bị xử chém,
cùng một ngày, tại núi Ðốn Sơn. Lớn thì có
Thái Bảo, Hành Khiển, Thượng Thư, tước
Hầu, tước Bá, nhỏ thì tới cả lính hầu,
trà đồng. Vậy mà còn chưa hết, thân nhân, gia
tộc của những người bị hành quyết cũng
không thoát khỏi liên lụy, trai thì bị giết sau
đó, gái thì bị đày vào các nhà quyền quý làm
nô tì. Ðây
là một vụ án lớn nhất vào cuối triều
đại nhà Trần, mà có lẽ cũng là một vụ
án lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Một
quyền thần khuynh loát triều trung. Một nguy cơ
sắp bị hủy diệt của một triều đại.
Các nghĩa sĩ thấy chuyện bất bình không thể
làm ngơ. Một âm mưu quét sạch miếu đường,
nâng phò xã tắc. Một cơ hội thanh toán phe đối
nghịch. Máu
loang mặt đất, hận để nghìn đời.
Ðại sự bất thành, anh hùng ẩm hận. Thời
cơ đắc chí, cường thần kiêu lộng. Cái
câu ‘đầu thử kỵ khí’ có phải là một
bài học chua cay của cổ kim thiên hạ. * Sử
Chép: Mùa
Xuân năm Kỷ mão (1439), triều đình nhà Trần
chuẩn bị làm lễ Hội Thệ, theo thông lệ
hàng năm. Lệ
này có từ triều đại nhà Lý, dưới đời
Lý Thái Tông (1028-1054). Nguyên, khi Thái Tổ Lý Công Uẩn băng
hà, tử thi còn quàn trong triều, tang lễ chưa cử
hành xong, các hoàng tử Võ Ðức Vương, Dực Thánh
Vương, Ðông Chinh Vương kéo quân vây hoàng thành
để tranh ngôi vua của anh là Thái Tử Lý Phật
Mã. Cuộc nổi loạn này đã bị đại thần
Lý Nhân Nghĩa và Võ Vệ Tướng Quân Lê Phụng
Hiểu dẹp tan. Võ Ðức Vương bị chém chết
tại trận tiền. Dực Thánh Vương và Ðông
Chinh Vương bỏ trốn. Lý Phật Mã lên ngôi, tức
là Thái Tông, truyền tha tội và phục lại chức
cũ cho hai em. Nhưng, từ cuộc nổi loạn này,
Thái Tông đặt ra lệ Hội Thệ: hàng năm, vào
mùa Xuân, các quan phải đến đền Ðồng Cổ
(Yên Thái, Thăng Long, thờ trống đồng Việt
tộc) làm lễ đọc lời thề làm con phải
hiếu, làm tôi phải trung, ai bất hiếu bất
trung, xin qủy thần làm tội. Lệ
này được giữ suốt triều đại nhà
Lý và nhà Trần. Năm
ấy, lễ Hội Thệ được tổ chức
tại Ðốn Sơn, làng Cao Mật, Thanh Hóa. Sở
dĩ lễ Hội Thệ được tổ chức
tại đây là vì vào năm Bính Tý (1396), dưới
đời Trần Thuận Tông (1388-1398), Phụ Chính
đại thần Lê Quý Ly ép buộc triều đình phải
dời đô từ Thăng Long vào tây Ðô (Thanh Hóa). Lễ
Hội Thệ được giao cho Thượng Tướng
Vũ Tiết hầu Trần Khát Chân trông coi, tổ chức
(đăng cai). * Trần
Khát Chân, sinh năm 1370, người xã Hà lãng (Thanh Hóa),
là một danh tướng lừng lẫy dưới
đời nhà Trần. Ông xuất thân từ một dòng
họ liệt liệt oanh oanh trong dòng sử Việt. Trần
Khát Chân vốn thuộc dòng dõi của Bảo Nghĩa
Vương Trần Bình Trọng, một danh tướng
triều Trần, dưới thời kháng Nguyên-Mông. Bảo
Nghĩa Vương đã để lại cho hậu thế
một câu nói khảng khái bất hủ: Ta thà làm qủy
nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc,
khi ông bị thất trận, bị quân Nguyên bắt sống
ở bãi Ðà Mạc và bị tướng soái của
Nguyên là Thái Tử Thoát Hoan dụ hàng. Bảo
Nghĩa Vương lại thuộc dòng dõi của Ðại
Hành Hoàng Ðế Lê Hoàn (980-1005), vị vua đầu tiên
của nhà Tiền Lê, đã lập công trận phá Tống
bình Chiêm hiển hách. Trần
Khát Chân đậu đạt và xuất chính rất sớm.
Lúc mới 18 tuổi, ông đậu Thái Học Sinh (ngang
với Tiến Sĩ sau này) dưới đời Ðế
Hiển (sau bị truất ngôi, gọi là Phế Ðế,
1377-1378). Ðến năm 19 tuổi, ông ra làm quan (1389) với
chức Long Tiệp Tướng Quân.. Em
của Trần Khát Chân là Trần Nguyên Hạng, sinh năm
1372, cũng đậu Thái Học Sinh cùng khoa với anh,
lúc 16 tuổi, và được bổ nhậm quan chức
sau anh một năm. * Hai
anh em Khát Chân và Nguyên Hạng xuất chính nhằm vào
lúc mọi quyền bính của triều đình đều
nằm trong tay của Lê Qúy Ly. Quý
Ly, nguyên họ Hồ, gốc gác là người Trung Hoa
ờ Chiết Giang. Ông tổ của Quý Ly là Hồ Hưng
Dật chạy loạn sang Việt Nam vào thời Ngũ
Quý (còn gọi là Ngũ Ðại hay Ngũ Quỷ, 907-959),
định cư ở Nghệ An. Ðến đời ông
tổ tứ đại của Quý Ly là Hồ Liêm mới
dời ra Thanh Hóa. Quý Ly làm con nuôi của Lê Huấn nên
mới mang họ Lê. Lê
Quý Ly có hai người cô đều lấy vua Trần
Minh Tông (1314-1329). Một người được phong
là Minh Tư Hoàng Hậu (mẹ của Trần Nghệ
Tông), một người được phong làm Ðơn Từ
Hoàng Hậu (mẹ của Trần Duệ Tông). Nhờ
vào cái thế ngoại thích mà khi Nghệ Tông lên ngôi
(1370), Quý Ly được phong chức Chỉ Hậu Chánh
Trưởng, một chức quan nhỏ, hầu ở
trong cung. ´t
lâu sau, Quý Ly cưới em gái của Nghệ Tông là Huy
Ninh Công Chúa (vợ góa của hoàng thân Trần Nhân Vinh)
và được thăng chức làm Khu Mật Ðại Sứ,
tước Trung Tuyên Hầu, bắt đầu tham dự
việc triều đình. Vai
trò của Quý Ly trở nên đặc biệt, vừa là
cháu của Thái Hậu vừa là rể của hoàng gia,
nên được Trần Nghệ Tông hết sức tin
dùng. Ở
ngôi được ba năm, 1372, Nghệ Tông truyền
ngôi lại cho em là Duệ Tông và lên làm Thái Thượng
Hoàng. Duệ Tông lại cưới em họ của Quý
Ly, phong làm Gia Từ Hoàng Hậu. Duệ
Tông làm vua, nhưng mọi quyết định quan trọng
vẫn do Thượng Hoàng Nghệ Tông chủ trương
và Thượng Hoàng càng ngày càng đặt hết tin
tưởng vào Quý Ly. Lê
Quý Ly trở thành nhân vật trọng yếu của triều
đình, có toàn quyền đặt để các chức
vụ văn võ, có quyền chỉ huy cả các tôn thất.
Quý Ly bắt đầu kéo vây cánh, đưa tay chân vào
nắm lấy những chức vụ quan trọng trong triều. Một
trong các bà vợ của Duệ Tông là Nguyễn Thị
Bích Châu đã thấy được sự thao túng của
Quý Ly. Bà đã viết một bản điều trần,
gọi là Kê Minh Thập Sách (Mười kế sách
được viết ra trong lúc nghe gà gáy sáng), dâng lên
cho Duệ Tông, trong đó có khéo léo, kín đáo cảnh
giác tình trạng này: Ðiều
3: Trị kẻ loạn quyền để trừ mọt
nước. Ðiều
4: Ðuổi bọn nhũng lạm để bớt vơ
vét dân. Ðọc
bản điều tần, Duệ Tông khen ngợi và ban
thưởng cho bà Bích Châu, nhưng quyền hành không nằm
trong tay vị vua này, mà ở Thượng Hoàng Nghệ
Tông. Triều
Trần ngày càng suy vi, trong khi nước Chiêm Thành ở
phương Nam ngày càng trở nên hùng mạnh dưới
sự lãnh đạo của vị vua trẻ tuổi Chế
Bồng Nga. Quân đội Chiêm Thành thường sang
đánh phá vùng đất phía Nam của Việt Nam, tuy
triều đình Chiêm Thành vẫn giữ lệ tiến cống
hàng năm. Với
sự đồng ý của Thượng Hoàng Nghệ
Tông, Duệ Tông toan tính Nam chinh. Năm 1376, Duệ Tông rước
Thượng Hoàng lên duyệt binh ở Bạch Hạc
và chuyển năm vạn thạch lương vào Hóa
Châu dự trữ. Cũng
cùng năm ấy, vua Chiêm Chế Bồng Nga sai sứ giả
đem 15 mâm vàng sang tiến cống, nhờ Trấn Thủ
Hóa Châu Ðỗ Tử Bình chuyển về kinh. Ðỗ Tử
Bình lấy hết số vàng, rồi dâng sớ về
triều nói rằng Chế Bồng Nga ngạo mạn, vô
lễ, xin đem binh tiểu trừ. Duệ
Tông quyết định thân chinh. Tiên Phong là Ðỗ Lễ.
Hậu quân là Ðỗ Tử Bình. Lê Quý Ly đặc trách
vận lương. Hoàng
Hậu Bích châu và các đại thần Trương Ðỗ,
Lê Tích dâng sớ can ngăn, nhưng Duệ Tông vẫn
không đổi ý. Tiền
quân của nhà Trần vào cửa Thị Nại (Quy Nhơn),
đánh thẳng lên kinh đô Chà Bàn của Chiêm Thành
và bị mắc kế không thành của Chế Bồng
Nga. Trần Duệ Tông tử trận, đại binh bị
giết tan nát. Ðỗ Tử Bình và Lê Quý Ly không đem
quân lên cứu, bỏ chạy về (1377). Theo
quân luật nhà Trần, lẽ ra, Ðỗ Tử Bình và
Lê Quý Ly phải bị xử chém. Nhưng, Lê Quý Ly không
bị trừng phạt gì cả. Ðỗ Tử Bình bị
giáng xuống làm lính, nhưng được phục chức
một thời gian ngắn sau đó. Các
đại thần đều ngạc nhiên trước sự
sủng ái của Thượng Hoàng Nghệ Tông đối
với Lê Quý Ly. * Con
của Duệ Tông được lập lên ngôi, tức
là Ðế Hiển. Ðế Hiển còn thơ ấu, mọi
việc triều chính đều ở trong thay Thượng
Hoàng và Lê Quý Ly. Thượng
Hoàng Nghệ Tông bất lực, để cho Lê Quý Ly
khuynh loát triều trung. Cáng ngày, Quý Ly càng đưa
người thân tín vào nắm giữ những chức tước
quan trọng trong triều. Các quan đại thần muốn
tiến thân hoặc yên thân đều phải dựa dẫm
vào phe cánh của Quý Ly. Tình
hình đất nước trở nên bi thảm. Dân chúng
đói khổ, bị sưu cao, thuế nặng. (Ðỗ
Tử Bình đưa ý kiến bắt mỗi dân đinh
phải nạp ba quan tiền một năm; thuế thân
có từ đó). Binh lực trở nên yếu kém. Chỉ
trong vòng có mấy năm mà quan Chiêm Thành, do Chế Bồng
Nga lãnh đạo, đánh vào Thăng Long ba lần, tàn
phá kinh đô nhà Trần, khiến cho vua tôi nhà Trần
phải chạy trốn, vất vả long đong (1377,
1378, 1383). Mỗi lần quân Chiêm tàn phá kinh đô xong,
rút về, vua tôi nhà Trần vẫn không lo củng cố
binh lực, sửa sang thành quách gì cả. Tình
hình như vậy mà Thượng Hoàng Nghệ Tông vẫn
tin dùng Lê Quý Ly, ban cho Quý Ly một thanh gươm và một
cây cờ có thêu tám chữ Văn võ toàn tài, Quân thần
đồng đức, trao trọn quyền cho Quý Ly
điều khiển triều đình. * Thấy
tình trạng kỷ cương đổ nát, dân tình khốn
khổ vì sự lộng quyền của Lê Quý Ly, Ðế
Hiển cùng một số đại thần và tôn thất
âm mưu diệt trừ Quý Ly. Ðế
Hiển cùng với Hoàng Thúc Thái Uý Trần Thúc Ngạc
(con của Nghệ Tông), họp với các quan Ngự Sử
Ðại Phu Lê A¨ Phụ, Thái Bảo Trần Tông, các tướng
Nguyễn Khoái, Nguyễn Văn Nghê, Nguyễn Khá, Lê Lạc
v.v... định ngày tiến quân bắt Quý Ly và phe cánh. Quý
Ly biết được, lúc đầu định chạy
trốn, nhưng sau đó, nghe kế của Phạm Cự
Luận, âm mưu giết chết Trang Ðịnh Vương
Trần Thúc Ngạc, rồi vào gặp Thượng Hoàng
Nghệ Tông, kêu với Thượng Hoàng rằng: - Xưa
nay, chưa ai bán con nuôi cháu, chỉ có bán cháu nuôi con. Ðể
xin Thượng Hoàng phế bỏ Ðế Hiển, lập
Chiêu Ðịnh Vương Ngang (con của Nghệ Tông) lên
làm vua. Thượng
Hoàng Nghệ Tông nghe theo, giả như sắp đi tuần
du Hải Dương, gọi Ðế Hiển vào hầu
và cho bắt giam vào chùa Tư Phúc. Các
tướng như Nguyễn Khoái, Lê Lạc, Nguyễn
Khá định đem quân vào chùa cướp vua, liên lạc
được với Ðế Hiển nhưng nhà vua viết
hai chữ giải giáp đưa ra, ngăn các tướng
không được làm trái mệnh Thượng Hoàng. Chỉ
một lúc sau, Ðế Hiển bị đưa xuống phủ
Thái Ðường, bị thắt cổ chết. Lê
Quý Ly tung một mẻ lưới, bắt tất cả
những người có dự mưu cùng Ðế Hiển,
nhất là các tôn thất, lớp thì xử chém, lớp
thì đưa đi đày. Một số thân vương
nhà Trần như Hoàng đệ Trần Nguyên Diệu
(em ruột Ðế Hiển), Hoàng bá Trần Nguyên Ðỉnh
(con của Cung Tĩnh Vương Trần Nguyên Trác, anh ruột
Nghệ Tông), Thiếu Bảo Trần Tông... chạy sang
Chiêm Thành lánh nạn, rồi trở về mộ quân,
đánh lại; nhưng, tất cả đều bị bắt,
bị giết hoặc tự tử chết. Thượng
Hoàng Nghệ Tông ra lệnh lập người con út của
mình là Chiêu Ðịnh Vương Ngang lên ngôi, tức là
Trần Thuận Tông. Lê Quý Ly giữ chức Ðồng
Bình Chương Sự (Tể Tướng). Quý Ly gả
con gái cho Thuận Tông, trở thành cha vợ của vua. Các
tôn thất nhà Trần đều bị giết hại hết,
chỉ còn một mình gia đình của quan Tư Ðồ
Trần Nguyên Ðán. Vị Tư Ðồ Công này, thuộc
dòng dõi Thượng Tướng Trần Quang Khải,
đã cho con làm con nuôi của Lê Quý Ly, nên mới còn sống
sót lại. Lê
Quý Ly kén những người có sức khoẻ và võ nghệ
làm tay chân, bộ hạ và đưa những người
này vào nắm giữ tất cả các chức vụ quan
trọng trong quân đội. Giặc
giã nổi lên khắp nơi trong nước, dân tình cực
kỳ khốn khổ. * Năm
1389, Chiêm vương Chế Bồng Nga lại mang quân
sang xâm lấn, tấn công Thanh Hóa. Lê Quý Ly cầm quân
chống cự, nhưng bị mắc kế phục binh của
Chế Bồng Nga, bị hao quân tổn tướng rất
nhiều, phải trốn chạy về Thăng Long. Chế
Bồng Nga thả quân cướp hết lương thực
trong vùng, rồi rút về. Cuối
năm, Chế Bồng Nga lại đem quân sang đánh, tấn
công vào cửa Hoàng Giang (Hà Nam). Triều
đình nhà Trần run sợ trước tin này. Các đại
tướng không ai dám cầm quân để ngăn chặn
bước tiến của quân Chiêm. Về
sau, Thượng Hoàng Nghệ Tông phải cử Trần
Khát Chân, mới 19 tuổi và mới ra làm quan, đang giữ
chức Long Tiệp Tướng Quân, được
thăng lên chức Ðô Tướng cầm quân chống
giặc. Trần Khát Chân khóc, lạy từ giã Thượng
Hoàng, khiến Nghệ Tông cũng khóc theo. Vừa
đến Hoàng Giang, Trần Khát Chân thấy tất cả
địa thế hiểm trở có thể đóng quân
được, đều bị quân Chiếm chiếm giữ
hết. Viên tướng trẻ tuổi văn võ toàn tài
này lui binh về đóng ở sông Hải Triều (nằm
giữa Thái Bình và Hưng Yên). Tháng
Năm năm 1390, Chế Bồng Nga đem 1000 chiến
thuyền đến đóng gần ở chiến tuyến
của quân Trần. Một
cơ may đến với Trần Khát Chân. Một đầy
tớ của Chế Bồng Nga tên là Ba Lậu Kê, vì
dâng thức ăn không chín cho chủ, bị Chế Bồng
Nga đánh đòn, chạy sang đầu hàng quân Trần.
Ba Lậu Kê chỉ điểm cho Trần Khát Chân biết
chiếc thuyền mà Chế Bồng Nga đang ở. Chế
Bồng Nga là người mưu mẹo, không ở trong vương
thuyền, mà lại ở trong một chiếc ghe nhỏ,
đậu núp trong đám lau sậy. Trần
Khát Chân cho chong đại bác, nhắm vào chiếc ghe có
Chế Bồng Nga ẩn mà bắn. Vị vua anh hùng lừng
lẫy của Chiêm Thành bị trúng đạn chết, vì
sự phản bội của một tên đầy tớ! Trần
Khát Chân tung quân ra đánh. Quân Chiêm lâm vào cảnh rắn
mất đầu, bị đại bại tan tành. Trần
Khát Chân lấy được đầu của vua Chiêm,
đem về Thăng Long báo Tiệp. Danh
tiếng của Trần Khát Chân trở nên lừng lẫy.
Ông được thăng lên chức Thượng Tướng,
và được phong Vũ Tiết Hầu. Cũng
trong năm đó, em của ông ra làm quan, được
cử giữ chức Thái Bảo, tước Thượng
Vị Hầu (tước của Trần Bình Trọng trước
kia, khi chưa được phong vương). Lê
Quý Ly muốn kéo hai anh em trẻ tuổi tài cao này vào
vây cánh nên mới nâng nhắc Nguyên Hạng như vậy. * Chế
Bồng Nga đã chết, coi như Chiêm Thành đã dẹp
yên, Lê Quý Ly càng thêm kiêu căng, mãi lộng. Triều thần
và sĩ phu trong nước, có nhiều người dâng
sớ lên Thượng Hoàng Nghệ Tông, kể tội
và xin trừ bỏ Quý Ly. Mỗi lần nhận
được sớ, Thượng Hoàng lại
đưa cho Quý Ly coi. Bao nhiêu người vì đó mà chết.
Không còn ai dám nói động tới Quý Ly nữa. Thượng
Hoàng Nghệ Tông mê muội tới như vậy, có lẽ,
trong một lúc hồi quang phản chiếu, nhận
ra được thực trạng của tình hình, nhưng
đã qua trễ, không làm sao diệt trừ Lê Quý Ly
được nữa hết. Thượng
Hoàng dùng kế tiêu lòn, bắt chước Chiêu Liệt
Hoàng Ðế Lưu Bị thời Tam Quốc bắt chẹt
Gia Cát Khổng Minh. Thượng
Hoàng cho vẽ tứ phụ đồ: Ông Châu Công
Ðán phụ chính cho Thành Vương nhà Châu; ông Hán Quang
phụ chính cho Chiêu Ðế nhà Hán; ông Gia Cát Lượng
phụ chính cho hậu chúa Lưu Thiện nhà Thục
Hán; ông Tô Hiến Thành phụ chính cho Cao Tông nhà Lý. Thượng
Hoàng đem tranh này tặng cho Quý Ly và bảo: -
Ngươi giúp con trẫm thì cũng nên như thế. Thương
Hoàng lại nói với Quý Ly: -
Nhà ngươi là thân tộc, cho nên bao nhiêu việc nước,
trẫm đều uỷ thác cho cả. Nay, quốc thế
suy nhược, trẫm thì già rồi, ngày sau con trẫm
có nên giúp thì giúp, không thì người tự làm lấy. Quý
Ly cởi mũ, quỳ lạy, khóc lóc, thề rằng: - Nếu
hạ thần không hết lòng, hết sức giúp nhà
vua, thì trời chu đất diệt. Thượng
Hoàng nói y như Lưu Bị, nhưng tiếc rằng Lê
Quý Ly không phải là Gia Cát Khổng Minh. Thượng
Hoàng mất năm 1394. Lê Quý Ly lên làm Thái Sư, Phụ
Chính, bắt các quan phải gọi mình là Phụ Chính
Cai Giáo Hoàng Ðế. Thuận Tông vẫn còn là vua, nhưng
không còn một quyền hạn gì nữa. Lê
Quý Ly mưu việc cướp ngôi, ép vua Thuận Tông
phải dời đo vào Thanh Hóa (1396). Năm
1397, nhân Thuận Tông chán nản và sợ hãi ngồi
ở ngôi vua, Lê Quý Ly cho người thuyết phục
Thuận Tông đi tu. Thuận
Tông xuống chiếu truyền ngôi cho con là Thái Tử
A¨n (cháu ngoại của Quý Ly), mới có ba tuổi, rồi
về tu tiên tại Ngọc Thanh Quan, Ðông Triều (Hải
Dương) (1398). Nhưng
chỉ được vài tháng, Quý Ly sai học sinh Nguyễn
Cẩn ra giết Thuận Tông bằng cách đầu
độc. Nguyễn Cẩn không nỡ làm, Quý Ly
đưa thư bảo Nguyên quân không chết, mày sẽ
chết thay. Nguyễn Cẩn đánh thuốc độc,
nhưng Thuận Tông khônbg chết. Quý Ly sai Xa Kỵ Tướng
Quân Phạm Khả Vĩnh đến thắt cổ Thuận
Tông đến chết. Thái
Tử A¨n lên ngôi, tức là Thiếu Ðế. Lê Quý Ly trở
thành Quốc Tổ, tự xưng là Khâm Ðức Hưng
Liệt Ðại Vương. * Việc
Lê Quý Ly giết chết Thuận Tông đã gây một
xúc động mạnh trong lòng các vị trung thần,
nghĩa sĩ. Các
đại thần thành lập một hội kín để
âm mưu diệt trừ Lê Quý Ly, mong cứu vãn cơ
nghiệp nhà Trần. Khởi xướng hội kín do Thượng
Tướng Vũ Tiết Hầu Trần Khát Chân, Thái Bảo
Thượng Vị Hầu Trần Nguyên Hạng, Thượng
Trụ Quốc Trần Nhật Ðôn, Thượng Thư Hà
Ðức Lân, Bảng Nhãn Lê Hiến Phủ, Hành Khiển
Lương Nguyên Bưu. Một số lớn các quan trong
triều đã tham dự vào hội, kể cả Thánh Dực
Tướng Quân Phạm Khả Vĩnh, người đã
thắt cổ Trần Thuận Tông, theo lệnh Lê Quý Ly. Hội
quyết định âm mưu giết chết Lê Quý Ly
nhân lễ Hội Thệ ở Ðốn Sơn. Việc ám
sát được giao cho ba tay nghĩa sĩ can đảm
là Phạm Ngưu Tất, Phạm Tổ Thu và Phạm
Ông Thiên. Trước
Hội Thệ một ngày, Lê Quý Ly đưa Thiếu Ðế
đến nhà Trần Khát Chân để xem các đồ
tế khí sửa soạn đã xong chưa. Ðây là cơ
hội cho các nghĩa sĩ ra tay. Quý
Ly lên lầu, dùng nghi vệ thiên tử, giáp vĩ theo bảo
vệ kín mít. Phạm Ngưu Tất và Phạm Tổ
Thu, mang đoản kiếm trong mình, lên theo. Quý Ly ngồi
ở giữa phòng, sai khiến các quan. Phạm Ngưu Tất
định ra tay, nhưng Trần Khát Chân đưa mắt
ngăn lại vì thấy bọn giáp sĩ của Quý Ly
vây kín hết trong ngoài. Khát Chân sợ đầu thử
kỵ khí (ném chuột sợ vỡ lọ quý), Thiếu
Ðế đang ở bên cạnh Quý Ly. Thấy
Trần Khát Chân ra hiệu ngăn cản, Ngưu Tất
đâm bối rối. Hành trạng giữa Khát Chân và Ngưu
Tất không thoát khỏi cặp mắt của Quý Ly. Quý
Ly vội thét giáp sĩ hộ vệ xuống lầu. Ngưu
Tất quăng kiếm, kêu trời: -
Việc hỏng mất rồi, cả lũ đến chết
uổng mạng. Lê
Quý Ly truyền bắt Trần Khát Chân, Phạm Ngưu Tất
và tất cả những người có mặt tại
nhà Khát Chân hôm đó, tổng cộng là 370 người,
truyền đem ra chân núi Ðốn Sơn, nơi Thệ
đàn, chém hết, bêu thây. Tương
truyền, xác của Thượng Tướng Trần Khát
Chân phơi nắng suốt ba ngày mà da thịt vẫn tươi
tốt như còn sống.... * Phê
bình hành động của anh em Trần Khát Chân, Trần
Nguyên Hạng, Dực Tôn Anh Hoàng Ðế Tự Ðức
(1848-1883), triều nhà Nguyễn, đã viết trong Ngự
Chế Việt Sử Tổng Vịnh: Khảng
khái bình Hồ nại Thái Sư Trần
triều đại hạ ký sanh trì Vị
văn thị thượng toàn gia khốc Nhẫn
sử lâu đầu nhất kiếm trì. Dịch: Sắp
mưu diệt hết quân Hồ Phù
Trần quyết giữ cơ đồ ngày xưa Toàn
gia lâm nạn thảm chưa Trách
sao vỏ lỡ thời cơ trước lầu. (Lam
Giang Nguyễn Quang Trứ). * Ở
Hoàng Mai và Ðốn Sơn, dân chúng đều có lập
đền thờ anh em Trần Khát Chân. Các triều
đại sau, Lê, Nguyễn đều sắc phong cho hai
anh em ông làm Thượng Ðẳng Phúc Thần. Nhiều nơi
khác ở Thanh Hóa cũng có đền thờ Trần Khát
Chân. Hàng
năm, cứ đến ngày chết của Trần Khát
Chân, dân chúng khắp nơi đổ về các đền
thờ anh em ông, cúng tế, ngưỡng mộ. * Nhiều
nhà phê bình lịch sử, thời gian gần đây,
đã cho rằng âm mưu diệt trừ Hồ Quý Ly của
anh em Trần Khát Chân, Trần Nguyên Hạng, các đại
thần và các nghĩa sĩ, chẳng qua, chỉ là một
cố gắng quật khởi sau cùng của giới quý
tộc Trần triều, đối với cuộc cách mạng
do Hồ Quý Ly đề xướng. Cuộc cách mạng
này đã giới hạn quyền lợi của giới
quý tộc, như hạn chế diện tích ruộng
đất, giới hạn số nông nô, tước
đoạt Thái Ấp. Các
nhà phê bình sử nói trên, chỉ quan niệm trên nền
tảng thuần vật chất, quyền và lợi, không
để ý tới dân tâm, không để ý tới sự
tàn độc vô tiền khoáng hậu của Hồ Quý
Ly. Quý
Ly tham dự việc triều từ thời Nghệ Tông
làm vua (1370), cho tới khi cướp ngôi, đổi thành
họ Hồ (1400), trải ba chục năm trời, làm mưa
làm gió, giết đến hai vua, Ðế Hiển, Thuận
Tông, giết gần hết các thân vương. Nhưng,
phải hỏi là Quý Ly làm được gì cho nhân dân? Nói
rằng Quý Ly muốn làm một cuộc cách mạng, thì
cuộc cách mạng nào cũng vậy, thay cũ đổi
mới, cái mới phải tốt hơn, phải đẹp
hơn, phải hoàn hảo hơn cái cũ. Làm được
như vậy, mới thực sự gọi là làm cách mạng. Ba
mươi năm Quý Ly thao túng triều đình,
được gọi là làm cách mạng, người chết
tơi bời, giặc ngoài vào kinh đô như chỗ không
người, nhân dân đói khổ cùng cực, giặc
trong nổi lên khắp nơi (Linh Ðức Ðại Vương
Nguyễn Thành ở Lương Giang, Thanh Hóa; Lỗ Vương
Nguyễn Kị ở Nông Cống, Ninh Bình; Phạm Sư
Ôn ở Quốc Oai, Sơn Tây, xưng Hoàng đế Phạm
Kinh Sư, làm chủ Quốc đô ba ngày). Không phải
Quý Ly không có thời gian. Rõ ràng đây không phải là
một cuộc cách mạng đúng nghĩa. Chỉ
quan niệm trên nền tảng vật chất, quyền
và lợi, không thôi thì không đủ dữ kiện
để kết luận vụ án Ðốn Sơn. Vả
chăng, nếu chỉ thuần vì quyền lợi mà
hành động, hai anh em Vũ Tiết Hầu và Thượng
Vị Hầu hẳn đã không được Dực Tôn
Anh Hoàng Ðế ca tụng như vậy và không được
nhân dân thờ phượng tôn sùng, các triều đại
sau tôn phong làm Thượng Ðẳng Phúc Thần như vậy. * Cái
câu đầu thử kỵ khí vẫn là mối than
thầm của cổ kim thiên hạ. Quan
vân Trường, trong cuộc đi săn ở Hứa
Ðiền, đã vung đao, nhưng không giết được
Tào Tháo, cũng chỉ vì cái liếc mắt đầu
thử kỵ khí của Lưu Huyền Ðức. Khiến
cho Vân Trường cứ hối tiếc mãi và khiến
cho cục diện tam quốc kéo dài suốt mấy chục
năm với bao nhiêu hậu quả tai hại cho nhân
gian. Ôi, cái liếc mắt đầu thử kỵ khí của Khát Chân đã di họa đến 370 mạng người, đã khiến bao nhiêu anh hùng nuốt hận, nghĩa sĩ ngậm hờn....
|