Sử Việt về Hai Bà Trưng

Trich tu Dan Chu

Mỗi lần đọc sử Việt về Hai Bà Trưng, chúng ta không khỏi tự hào về những công trạng hiển hách của Hai Bà đã đem lại cho đất nước mà còn tự hào về nền văn hóa tinh hoa của dân tộc đã hun đúc nên những trang anh thư hiếm có trong lịch sử nhân loại.

Thưa quý vị và các bạn,

Hiềm một nỗi, tài liệu xưa về cổ sử nước ta rất hiếm hoi vì hậu quả ngàn năm đô hộ Tàu đã bị phá hủy đến nỗi chữ viết cũng không còn\. Cho nên, các sử gia ghi chép đời sau đều dựa vào tài liệu, thư tịch Trung Hoa mà những tài liệu nầy phần nhiều thiếu chính xác và không phản ảnh trung thực\. Ngày nay, các nhà nghiên cứu cổ sử ta, nhờ vào sự tận lực tham khảo qua thần tích các làng, qua ca dao tục ngữ, nhất là qua các đồ vật đào xới được dưới đất đã cho chúng ta vài tư liệu\. Song mỗi nhà ghi chép theo một cách và chưa có sự thống nhất\. Mong rằng đời sau con cháu chúng ta với khoa học tân

tiến và các phương pháp khảo cổ hiện đại ra công tìm tòi, nghiên cứu viết lại phần cổ sử nước nhà thật phong phú và chính xác hơn\.

Dầu vậy, chúng tôi cố gắng gom nhặt các tài liệu rải rác qua sử, qua các bài viết của các nhà nghiên cứu để cống hiến một đôi điều cho các bạn thanh niên qua bài chủ đề nầy\. Bài viết có điều gì thiếu

sót, sai lầm, chúng tôi kính mong quý học giả nghiên cứu văn hóa và lịch sử chỉ điểm cho\.

Cũng như các chủ đề trước, đầu tiên chúng tôi xin ghi lại phần công trạng hiển hách của Hai Bà, sau đó chúng tôi sẽ trình bày thân thế, xã hội dưới thời Hai Bà và những yếu tố đưa đến chiến công oanh

liệt của Hai Bà cùng với vài nhận định của chúng tôi\.

1\. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà:

Theo các sử gia ghi chép lại rằng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà bắt đầu vào tháng 2 năm Canh Tý (ngày hội đầu xuân của dân tộc, tức năm 40 sau tây lịch). Hận Thái thú Tô Ðịnh giết chồng là Thi Sách, quan huyện lệnh Chu Diên và chính sách khắc nghiệt của Tàu, bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị tụ họp tướng sĩ và nghĩa quân dưới trướng phát động cuộc khởi nghĩa chống lại bạo quyền đô hộ giành lại độc lập tự do cho dân tộc\.

Trong hội đàn thề, người phụ nữ tuổi mới ngoài hai mươi dõng dạc tuyên bố trong bầu không khí trang nghiêm vùng sông nước Hát giang

Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin nối lại nghiệp xưa Vua Hùng

Ba kẻo oan ức lòng chồng

Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh nầy (1)

Sau hội đàn thề sông Hát, những anh hùng hào kiệt, những người yêu nước khắp nơi, hầu hết nông dân thuộc làng Việt cổ (Kẻ), những thợ thủ công, những tướng lĩnh cùng những gia nhân của họ biến thành những lực lượng chủ yếu của cuộc kháng chiến\. Những nữ tướng danh tiếng như Nàng Tía, Lê Chân, Thánh Thiên, Ðào Kỳ Phương Dung,

Trinh Thục, Bát Nàn, Lương Lê... (2) đều là những tướng dưới trướng của Hai Bà\. Các châu quận khắp nơi Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành Lĩnh ngoại đều nức tiếng đồng loạt đứng lên hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà\.

Sau lễ xuất quân ở Hát Môn (tỉnh Hà Tây) nghĩa quân theo hai đường thủy bộ tiến về thủ phủ Giao Chỉ nơi Tô Ðịnh đóng bản doanh\. (3) Với khí thế tấn công bão táp của quân ta, chỉ trong thời gian ngắn, quân dân đã chiếm được các quận Cửu Chân, Giao Chỉ cho đến 65 thành trì Lĩnh ngoại\.

Thái thú Tô Ðịnh phải cắt tóc, cắt râu, cởi bỏ ấn tín, cải trang trong đám loạn quân ở Luy Lâu để lẩn trốn về Tàu\.

Nền độc lập dân tộc được phục hồi\. Trong lễ chiến thắng, theo nguyện vọng củadân Việt, một tướng tài ba trong trận chiến là Tống Phố Công, đại diện các tướng lãnh và quân dân suy tôn bà Trưng Trắc lên làm vua (4), đóng đô ở Mê Linh (5). Sau đó các tướng lãnh, những người có công đều được suy cử những chức vụ trong triều đình. Việc tổ chức triều đình hồi đó còn đơn giản vì chủ yếu bảo vệ độc lập dân tộc và ổn định, phát triển công việc làm ăn của dân chúng. Trong hai năm liền, dân chúng sống trong hòa bình, an lạc và được miễn đóng thuế\.

Ðể bảo vệ những nơi hiểm yếu, Trưng Vương chỉ định tướng Thánh Thiên đóng quân ở Hợp Phố để phòng ở mặt Bắc, tướng Ðô Dương đóng quân ở Cửu Chân để đề phòng ở mặt Nam, tướng Lê Chân được giao trọng trách đóng bản doanh ở Giao Chỉ\.

Sử Lê Văn Hưu có nói Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thể đất Việt ta đủ dựng nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao\? Ôi! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy.

Năm Tân Sửu, mùa xuân năm 41 sau Tây lịch (Kiến Vũ thứ 17) vua nhà Hán thấy họ Trưng xưng vương mới hạ lệnh sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương và sai Mã Viện một danh tướng làm Phục Ba tướng quân cùng Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó cử quân sang phục thù\.

Mùa xuân năm 42 sau Tây lịch, Mã Viện huy động quân các quận Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thường Ngô hơn vạn người vận chuyển lương thực ồ ạt tiến quân sang đánh Hai Bà\. Trước thế quân đông đảo và hung bạo của Tàu, Hai Bà rút quân về Lãng Bạc (6). Nơi đây đã xảy ra một trận huyết chiến khốc liệt với sự tham gia của nhiều tướng lãnh triều đình như Nàng Tía, Thánh Thiên, Lê Chân... và nhiều đạo quân của nữ tướng Quý Lan, Trương Phương Dung,

ba chị em Nàng Chiêu\... Cuộc chiến dằng co, có lúc quân Hán bị đánh lui và chết rất nhiều; Chính Mã Viện đích thân chỉ huy

trận đánh, sau này hồi tưởng vẫn bị phân vân chưa biết thắng bại như thế nào\.

Nhưng cuối cùng nghĩa quân không ngăn nổi giặc, vào tháng 4 năm 43 sau Tây lịch, Hai Bà phải rút về cố thủ ở Cẩm Khê, một căn cứ chiến lược quan trọng và hiểm yếu hầu có thể duy trì cuộc chiến lâu dài\.

Tháng 9 năm 43 sau Tây lịch, Mã Viện nóng lòng muốn chấm dứt sớm cuộc chiến, dâng thư lên vua Hán xin tăng viện thêm quân và thuyền bè\. Ðầu năm 44 sau Tây lịch, Cẩm Khê thất thủ, Hai Bà trầm mình xuống Hát Giang tuẫn tiết để khỏi rơi vào tay giặc.

Thắng trận Lãng Bạc và Cẩm Khê, Mã Viện xua quân tiến đánh quân của tướng Ðô Dương, Chu Bá ở Cửu Chân. Nghĩa quân hoàn toàn tan rã\. Quân Hán đến đâu cũng tàn sát lương dân không xiết kể\. Sau khi thắng trận, Mã Viện tiến hành hàng loạt biện pháp để thống trị dân ta\. Chúng vơ vét tài sản, bắt và giết các nhà chính trị mà chúng gọi là cừ soái, thâu gồm trống đồng để đúc ngựa dâng vua Hán và xây trụ đồng trụ đồng chiết Giao Chỉ diệt (7), hủy diệt các đền đài, miếu mạo và văn hóa dân tộc, phá bỏ luật Việt và áp đặt các luật pháp Tàu với âm mưu xóa bỏ nòi giống Việt.

2\. Xã hội Hai Bà Trưng trước ngày khởi nghĩa:

Triều đại Vua Hùng thịnh trị cho đến cuối đời Vua Hùng thứ 18 thì bắt đầu suy vi\. Ðể đất nước tiến bộ, thích nghi với tình thế mới và thuận lòng người, người con rể của Vua Hùng là Nguyễn Tuấn nhường ngôi cho Thục Phán, một đại diện thức thời và đủ tài năng để nối nghiệp. Thục Phán lên ngôi vua lấy hiệu là An Dương Vương, lấy quốc hiệu là Âu Lạc, dời đô từ Phong Châu về Cổ Loa\. Về tổ chức chính quyền, An Dương Vương vẫn theo khuôn

mẫu của Vua Hùng, đứng đầu là vua nắm trong tay mọi quyền hành, dưới vua có các quan, Lạc Hầu, Lạc Tướng. Nhưng đặc biệt trong chính quyền trung ương, một tổ chức quân sự chuyên nghiệp đã được hình thành. Bước đổi mới này đã tạo nên một truyền thống cho đến thời kỳ khởi nghĩa Hai Bà Trưng và đời sau\. Ðể đáp ứng sự gia tăng dân số và phat' triển quốc phòng, An Dương Vương đã cho mở rộng vùng đất đai canh tác đến đồng bằng phù sa sông Hồng và kỹ thuật đúc đồng và xây dựng cũng được cải tiến, phát triển mà chứng tích còn để lại là nỏ thần và

thành Cổ Loa\.

Thế nhưng vào khoảng năm 218 - 213 trước Tây lịch, sau khi thống nhất Trung hoa, Tần Thủy Hoàng bắt đầu dòm ngó về phía Nam và cho quân đánh chiếm lãnh thổ của các tộc Việt ở Lĩnh ngoại, giao cho Nhâm Ngao và Triệu Ðà cai trị\. Khi Tần Thủy Hoàng mất, nhà Tần bắt đầu suy vi và nội tình rối ren. Lưu Bang diệt nhà Tần lập nên nhà Hán. Triệu Ðà lợi dụng tình trạng rối ren nầy, tự mình thành lập nước Nam Việt gồm những quận Quế Lâm, Tượng Quận và Nam Hải, xưng hiệu là Nam Vũ Việt Vương. Sau đó thanh toán nốt nước Âu Lạc của An Dương Vương. Triệu Ðà chia nước Nam Việt thành bẩy quận Cửu Chân, Giao Chỉ, Hợp Phố, Nam Hải, Nhật Nam, Thương Ngô, Uất Lâm và chỉ định mỗi quận một thái thú cai trị, duy có hai quận Cửu Chân và Giao Chỉ lại đặt chứ quán sứ\. Nhà Triệu thiết lập chính quyền theo mô hình Tần-Hán và xây dựng bộ máy quân sự hùng mạnh để cai trị và bành trướng. Ðến năm 111 trước Tây lịch, nhà Hán phát binh đánh Nam Việt, nhà Triệu sụp đổ (8). Từ đó đất nước bị nội thuộc Trung hoa\. Nước Nam Việt được chia làm 9 quận: Chu Nhai, Ðại Nhỉ (nay là đảo Hải Nam), Nam Hải, Hợp Phố (Quảng Ðông), Uất Lâm, Thương Ngô (Quảng Tây) và ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (đất Âu Lạc). Mỗi quận có một thái thú cai trị, riêng quận Giao Chỉ là một quận quan trọng được trông coi bởi một thứ sử, có quyền hành xem xét việc cai trị các thái thú của các quận kia\.

Chính quyền Trung hoa, từ Tần Thủy Hoàng cho đến ngày nay, lúc nào cũng có chính sách thôn tính nước ta để bành trướng đất đai và thế lực về phương Nam. Vì thế, mỗi lần cai trị là họ áp dụng mọi biện pháp để đồng hóa dân ta\. Vào thời Tây Hán, chính quyền đô hộ gia tăng nhịp điệu đồng hóa mạnh mẽ hơn bằng cách khuyến khích và đưa người Hoa tràn xuống phương Nam sinh sống, đồng thời họ chọn các cấp cai trị mẫn cán và thông hiểu nội tình Việt. Số người Hoa di dân, cùng với gia đình của các cấp chính quyền người Hoa tạo thành một xã hội khuôn mẫu Trung hoa tại nước ta\. Tuy vậy thế lực nầy chỉ ảnh hưởng một số vùng ở đô thị, ngoài những vùng đó, các quan cai trị từ huyện trở xuống vẫn là các Lạc hầu, Lạc tướng của ta theo truyền thống Vua Hùng. Văn hóa Trung hoa chưa chọc thủng được các đơn vị

làng cổ của dân Việt, vì vậy, dân ta vẫn giữ được nếp sống thuần túy Việt. Trái lại, những di dân được đặt xen kẽ vào các huyện, các làng để làm điềm chỉ lại bị dân Việt đồng hóa thành người Việt. Ðến thời Ðông Hán, nhịp độ di dân càng tăng, mức độ đồng hóa của người Hoa càng áp lực nặng nề lên dân tộc Việt bằng các phương thức cải tạo xã hội, áp dụng luật pháp khắt khe, truyền bá tiếng nói và văn tự, hầu tiêu diệt những gì thuộc về văn hóa Việt.

Nhưng, mọi mưu toan của họ không tránh khỏi khiếm khuyết vì những đặc tính hống hách, trịch thượng, chiếm đoạt của nền văn hóa du mục còn sót lại của kẻ cai trị\. Chính quyền cùng với di dân mới đến ra sức bóc lột, chiếm đoạt tài sản, đày dân Việt lên rừng tìm ngà voi, tê giác, xuống biển mò ngọc trai đã tạo ra làn sóng căm phẫn. Phong trào chống đối bạo quyền manh nha nổi lên ở nhiều nơi đều bị dập tắt từ trứng nước.

3. Thân thế Hai Bà Trưng và sự hình thành tổ chức Núi Tản Sông Cái

Hai Bà Trưng là con gái của một lạc tướng huyện Mê Linh, một trong 12 huyện của quận Giao Chỉ\. Hai Bà thuộc giòng giõi Vua Hùng, mẹ Hai Bà là bà Man Thiện Trần Thị Ðoan. Chồng bà Man Thiện mất sớm, bà ở vậy trồng dâu nuôi tằm, chăm lo nuôi dạy hai con gái và cho con học võ nghệ với ông Ðỗ Năng Tế (khi Hai Bà phất cờ khởi nghĩa, ông thầy dạy võ nầy trở thành vị tướng đắc lực của Hai Bà).

Dưới thời Ðông Hán, chánh sách đồng hóa vô cùng khốc liệt xuyên vào các đơn vị làng kẻ của người Việt. Chính quyền cho mở các trường dạy chữ Hán để dùng người địa phương làm tay sai\. Từng lớp trí thức và một số người Việt đã bắt đầu tiếp thu văn hóa Hán và học đòi lễ nghi, cung cách ứng xử của người Hán. Nhưng cũng có các trí thức yêu nước nhân cơ hội nầy mở các lớp học bên ngoài dạy chữ Hán nhưng bên trong truyền bá lòng yêu nước trong giới trẻ\. Bà Man Thiện hết lòng khuyến khích con gái nhân dịp nầy cố gắng giao thiệp rộng, tiếp xúc với các lạc hầu, lạc tướng chung quanh vùng hầu chuẩn bị cho việc khởi nghĩa sau nầy\. Năm 19 tuổi Bà Trưng Trắc về làm vợ ông Thi Sách, một lạc tướng huyện Chu Diên. Sự kết hôn giữa hai gia đình danh giá của hai huyện Mê Linh và Chu Diên tạo ra uy danh lớn trong quận Giao Chỉ\. Ông Thi Sách và Bà Trưng Trắc đã hiệp lực vạch ra sách lược khởi nghĩa chống quân cai trị nhà Hán giành lại độc lập và bảo vệ nòi giống Việt. Theo truyền thuyết ông bà đã bí mật hình thành một tổ chức có tên là Núi Tản - Sông Cái. Tổ chức được đa số nhân dân các quận ủng hộ\. Ðể tránh sự dòm ngó của Tàu, người trong tổ chức truyền nhau mật lệnh và các dấu hiệu để nhận nhau\. Khi ra đường họ nhận nhau bằng cách chào quyết tâm, bốn ngón tay của bàn tay trái nắm lấy lóng thứ nhất ngón cái của bàn tay trái và để ngón cái bàn tay phải lên lóng thứ hai của ngón cái bàn tay trái, ba ngón kia để xen kẽ giữa các ngón tay của bàn tay trái và ngón út bàn tay phải nằm trên ngón út bàn tay trái\. Trong nhà họ nhận nhau bằng tấm khăn điều phủ lên giá gương hay trên bài vị

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng

Tổ chức bí mật nầy dần dà mở rộng khắp các quận trên đất Việt. Ðâu đâu người dân cũng đều đợi chờ ngày khởi nghĩa để giải phóng dân tộc ra khỏi lầm than và nô lệ\. Nhưng chẳng bao lâu, tổ chức bí mật Núi Tản Sông Cái  bị bại lộ, ông Thi Sách bị Tô Ðịnh bắt giết. Tin buồn chấn động khắp các châu quận làm dân chúng càng thêm căm hận. Hai Bà cố nén đau thương cùng cự.c, nắm lấy cơ hội phát động ngay cuộc khởi nghĩa mà đàn thề lập tại vùng sông Hát.

4. Yếu tố văn hóa đối với cuộc khởi nghĩa:

a) Văn hóa tư tưởng chúng ta thoát thai từ những người định cư định canh, biết trồng lúa nước lâu đời nên nền tư

tưởng ấy đầy tình người (xin xem các bài viết và các chủ đề trước của Về Nguồn). Sự hình thành hèm kép Lạc Long Quân - Âu Cơ đã nuôi dưỡng người Việt biết tôn thờ cả cha lẫn mẹ trong tinh thần hài hòa và nhân ái:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Phận làm con, đạo làm người đã phổ vào cuộc sống tự nhiên của người Việt, trở thành đức tính bình đẳng và tôn trọng nhân phẩm con người, đã ăn sâu trong tâm khảm người Việt và hun đúc nên khí thiêng sông núi\. Nhờ đức tính bình đẳng đó, người Việt tôn trọng nhân phẩm mọi người không phân biệt chủng tộc giai cấp, nam nữhay già trẻ\. Cho nên khi lời kêu gọi của Hai Bà Trưng gióng lên thì mọi người đồng loạt hưởng ứng. Một con người khi nhân tính và khả năng vượt trội lên để phục vụ đích thực cho mọi người, cho đại chúng thì cần gì phải phân biệt người đó ở giai cấp nào, giàu nghèo, nam nữ hay già trẻ\. Hình ảnh những người phụ nữ Việt cầm quân xông pha ra trận tiền là hình ảnh hào hùng của dân tộc, hiếm có trong thời cổ của lịch sử nhân loại\. Chung quanh Hai Bà và khắp nơi đều có những phụ nữ anh hùng rèn luyện võ nghệ, huấn luyện binh mã sẵn sàng đứng lên đáp tiếng gọi của non sông. Tất cả mọi việc đều được chuẩn bị lâu dài, chu đáo và bí mật từ trong gia đình, từ từng nhóm, từng châu quận. Chính yếu tố hèm kép Lạc Long Quân - Âu Cơ trong nền văn hóa Việt đã nuôi dưỡng người dân Việt trong tinh thần bình đẳng và nhân ái ấy\.

Thử hỏi có đất nước nào mà nền văn hóa tinh anh như vậy\? Ðấy chính là nền văn hóa Việt. Chúng ta có quyền tự hào và ngẩng cao đầu lên trước thế giới loài người\.

b) Từ khi nhà Hán diệt nhà Triệu do sự tư thông của Cù Thị, đất nước ta rơi vào sự đô hộ hà khắc của Tàu\. Song song với sự hủy diệt văn hóa Việt, người Tàu đem văn hóa của họ áp đặt lên đất nước ta và gọi đó là khai hóă!). Khổng giáo, vốn là một ý thức hệ của giai cấp thống trị Trung Quốc từ Tần Hán trở đi được áp đặt vào các quận huyện nước ta cùng với các quan cai trị người Hán, mục tiêu thuần hóa sự chống đối của nhân dân và ngưỡng vọng thiên triều Trung hoa\. Ðến thời Thái thú Nhâm Diên và Tích Quang, họ khôn khéo hơn, mềm dẻo hơn nên đã truyền bá Khổng

giáo một cách hệ thống, hiệu quả hơn vì thế sự đồng hóa càng quyết liệt hơn. Nhưng dưới thời Thái thú Tô Ðịnh, ngoài sự cưỡng bách truyền bá văn hóa Tàu, các quan lại cùng với những người Hán di dân đã quá tham lam, ra sức bóc lột, vơ vét tài sản của dân lành. Họ còn đem người Việt làm nô lệ và bán qua Tàu cho những người giàu có và quyền quý\. Chính sách cấy người, cấy văn hóa là một âm mưu thâm độc không những di hại dưới thời đô hộ mà còn ảnh hưởng sâu đậm đến những thế hệ sau cho đến ngày nay\. Trước những áp bức của cường quyền, người Việt cắn răng chịu đựng và quan niệm tránh voi chẳng xấu mặt nào hay một sự nhịn chín sự lành để tồn tại và nuôi dưỡng thế hệ tương lai\. Nhờ tính nhu thuận đó nhân dân ta tránh được tính hung sát diệt chủng của kẻ thù, nhưng

lại khó thoát khỏi âm mưu đồng hóa thâm độc của những kẻ cai trị\. Ðó chính là điều làm cho những ai ưu tư về sự sống còn của nòi giống Việt đều quan tâm lo ngại\. Cho nên tin Hai Bà Trưng dấy đại nghĩa được truyền đi như một làn chớp giải tỏa được niềm uất ức của toàn dân bấy lâụ

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà không chỉ mang một ý nghĩa đặc biệt lịch sử truyền thống đấu tranh chống xâm lăng của dân tộc mà còn giữ vị trí đặc biệt trong tiến trình văn hóa Việt. Ðó là một cuộc cách mạng văn hóa mang đặc tính vượt trên thái độ cam chịu của dân chúng trước sự áp bức. Nó phản ảnh nét độc đáo của hèm kép Tiên Rồng trong văn hóa Việt: tính dương của Rồng vượt trội lên để ngăn chặn tính âm trên đà thoái hóa\.

Qua lịch sử dân tộc ta, từ khi người Việt biết định canh và định cư thành xóm làng, sống bảo bọc, che chở lẫn nhaụ Việc tìm cái ăn cái mặc không quá khó khăn. Người dân không tham lam, không mong cầu nên chẳng giành giật, lừa đảo hay trộm cướp. Nền văn hóa Việt được hình thành trong tình thương dưới bóng bà mẹ hiền hòa, nhân ái\. Dưới thời các vua Hùng, xã hội hoàn toàn thanh bình an lạc. Từ địa phương đến trung ương không có một lực lượng quân sự nào\. Khi có biến hay có giặc từ ngoài vào, nhà vua mới sai sứ giả đi tìm người tài giỏi giúp nước và tuyển mộ người đi đánh giặc. Khi yên giặc, tướng cũng như quân trở về ruộng đồng sống đời nông dân chất phác. Ðây là giai đoạn hình thành, văn hóa Việt mang đầy tính nhu thuần của nước. Nhưng đến thời Thục Phán, vì những biến loạn triền miên từ phương Bắc có cơ tràn xuống phương Nam, sự hình thành một lực lượng quân sự rất cần thiết để bảo vệ đất nước và ổn định đời sống làm ăn của dân chúng. Dưới thời đô hộ của nhà Hán, Hai Bà Trưng đã vận dụng tích

cực được tính cương cường của dân tộc để hướng dẫn cuộc cách mạng đánh đuổi quân xâm lăng. Ðây là giai đoạn thứ hai trong tiến trình văn hóa Việt: Âm dương cùng tương tác để đem lại sự quân bình cho xã hội\.

Gần một ngàn năm sau, xã hội đi vào sự ổn định nhưng yếu tố bất tương dung giữa các nền văn hóa Ấn Hoa đang có mặt trên đất nước thời bấy giờ làm giao động tâm linh người Việt không ít. Một số sĩ phu trí thức cùng với sự đóng góp tích cực của Thiền sư Vạn Hạnh đã vận dụng cốt lõi nền văn hóa Việt làm một cuộc dung hóa không những xây dựng cho nền tự chủ đất nước mà còn làm cho nền văn hóa Việt trở nên vững vàng và hiện thực hơn. Ðây là giai đoạn thứ ba\. Việc dung hóa nầy làm nền tảng văn minh của hai triều đại Lý - Trần và là yếu tố tích cực cho tư tưởng của Nguyễn Trãi chống quân xâm lăng nhà Minh. Cũng non một ngàn năm sau, 1975 cộng sản Việt Nam chiếm nốt miền Nam. Cả hai miền đất nước chìm ngập trong đau thương dưới sự thống trị hà khắc của một chế độ quái thai từ nền văn hóa du mục. Toàn dân sống trong cảnh kinh hoàng. Luân thường đạo lý bị đảo lộn như dười thời nhà Hán cai trị\. Hai triệu người Việt gạt nước mắt rời quê cha đất tổ lênh đênh trên biển cả, tìm sự sống trong cõi chết, bẩy mươi triệu đồng bào ở lại âm thầm cam chịu nhẫn nhục để sống còn torng một trạng thái bế tắc. Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới đây lại cắt một phần đất thấm máu xương của tổ tiên đem dâng cho ngoại bang. Lịch sử Việt Nam lật sang một trang đen tối mới\. Chúng tôi xin mượn hai câu thơ trong bài Bình Ngô Ðại Cáo của Nguyễn Trãi để mô tả những sự

kiện bi đát nầy:

Ðộc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Ðông Hải không rửa sạch mùi

Văn hóa Việt thêm một lần thử thách mới\. Trong n ước trước sự trấn áp thuần bạo lực, người dân sống khắc khổ chờ đợi một biến cố nào đó để vượt khỏi trạng thái bế tắc nầy. Ở hải ngoại, hơn hai triệu người Việt mặc dầu sống trong không khí dễ thở và tự do để xây dựng gia đình và con cái họ, nhưng không thể không nhìn thấy hai vấn đề sinh tử của văn hóa chúng ta trước mắt:

- Một là, nếu chúng ta quá bận tâm đến kinh tế, làm giàu cho bản thân, cố quên đi dĩ vãng, sống theo trào lưu mới trên xứ

người thì không chóng thì chầy, tương lai con cháu chúng ta sẽ tan chảy trong melting pot của xứ người và sẽ không ai còn bận tâm đi tìm lại căn cước của nòi giống mình nữa\. Văn hóa Việt đành cam phân hẩm hiu mất dần ở hải ngoại\.

- Hai là, nếu chúng ta còn chút âu lo cho thế hệ tương lai, cố gắng duy trì tiếng nói, chữ viết, phát huy tinh thần văn hóa Việt

trong nếp sống, trong tư duy, chúng ta có cơ may phục hoạt được cốt lõi văn hóa Việt và thực hiện một cuộc dung hóa mới\.

Cuộc dung hóa mới nầy không những làm rạng rỡ dân tộc mà còn tạo cái đà bẩy đi tình trạng bế tắc trong nước.

Hy vọng văn hóa Việt sẽ chuyển qua một thời kỳ mới, như giòng nước chảy thấm tràn trên mặt đất làm đâm chồi nẩy nụ hoa NHÂN BẢN-NHÂN CHỦ của nòi giống Tiên Rồng.

Hôm nay ôn lại trang sử oai hùng của Hai Bà Trưng, chúng ta không khỏi tự hào về một dân tộc hơn bốn ngàn năm đấu tranh để tồn tại mà chúng ta còn tri ân các bà mẹ Việt. Truyền thống Âu Cơ đã bền bỉ chịu đựng, cần cù nhẫn nại nuôi dưỡng các thế hệ anh hùng. Ðể khỏi phụ lòng và công ơn của tiền nhân, chúng ta đừng để vật chất cám dỗ, hãy chuẩn bị tâm tư và nhân cách để đứng lên làm tròn nhiệm vụ lịch sử giao phó\. Chúng ta đừng đòi hỏi đất

nước làm gì cho chúng ta mà hãy tâm niệm rằng chúng ta đã làm gì cho đất nước (10). Mỗi người chúng ta chỉ cần một bàn tay nhỏ bé đủ đẩy quả núi ù lì chắn bước tiến của dân tộc sang bên để đem lại hạnh phúc an vui cho mọi người còn hơn nhìn quá khứ trong tiếc nuối\.

Ðể kết luận, chúng tôi xin ghi lại lời tuyên bố dõng dạc của bà Triệu Thị Trinh cách đây hơn 1700 năm:

Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể Ðông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tỳ thiếp người ta.

Ghi chú:

(1) Trích Thiên Nam Ngữ Lục

(2) Bản khai thần tích các làng

(3) Nơi Tô Ðịnh đóng bản doanh là Luy Lâu, một trong 12 huyện của quận Giao Chỉ nay thuộc thôn Lũng Khê, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

(4) Bản khai thần tích các làng

(5) Mê Linh thuộc đất các xã Hạ Bằng và Tân Xã (huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây).

Ðến nay người ta tìm thấy ở Hạ Bằng, trong một hố sâu có nhiều rìu lưỡi đồng hình xéo dùng trong việc đánh giáp la cà\.

(6) Bản thần tích các làng: tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương - Hầu hết các truyền thuyết dân gian về các tướng lãnh thời Hai Bà Trưng đều phản ảnh chiến sự ác liệt ở hồ Lãng Bạc. Khoảng 1/3 các nhân vật thời Hai Bà Trưng được thờ cho đến ngày nay đều có mặt ở chiến trường Lãng Bạc.

(7) Cẩm Khê, theo Ðào Duy Anh Ðất Nước Qua Các Ðời thì Cẩm Khê nay thuộc xã Cẩm Viên, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phú\. Khi bại trận, Hai Bà chạy sang Hát Giang ở hữu ngạn sông Hồng, cửa sông Ðáy (nay có xã Hát Môn, huyện Phú Thọ, tỉnh Hà Tây) rồi trầm mình ở sông Ðáy\.

(8) Theo Hậu Hán Thư chép Mã Viện rất thích cỡi ngựa, giỏi phân biệt ngựa tốt, lấy được trống đồng của người Lạc Việt ở Giao Chỉ cho đúc làm ngựa mẫu, mang về dâng lên triều đình... ngựa cao 3 thước 5 tấc,...

Hầu hết các thư tịch của Trung Hoa và Việt Nam đều có nói cột đồng Mã Viện nhưng hiện nay chưa ai có thể chỉ định được vị trí của cột đồng.

(9) Nhà Triệu truyền được 5 đời vua

- Triệu Vũ Ðế 206-137 trước tây lịch

- Triệu Văn Vương 136-125 trước tây lịch

- Triệu Minh Vương 124-113 trước tây lịch

- Triệu Ai Vương 112 trước tây lịch

- Triệu Thuật Dương Vương 111 trước tây lịch

(10) Câu nói của Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy Ask not what your country can do for yoụ Ask what you can do for your country.

Chúng tôi xin chân thành cám ơn các giáo sư, học giả đã giúp chúng tôi các ý kiến quý báu cho bài chủ đề nầy\.

Sách tham khảo:

(1) Ðạo Sống Việt (Tủ sách Việt Thường)

(2) Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư (Nhà XB Văn Hóa-Thông Tin)

(3) Hoàng Xuân Hãn (tập I\I Trước Tác phần I\I Lịch Sử)

(4) Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn

(5) Việt Nam Thời Cổ Xưa của Bùi Thiết (NXB Thanh Niên)

(6) Ðất Nước Việt Nam Qua Các Ðời của Ðào Duy Anh (Nhà XB Thuận Hóa)