Đầu tiên, người trong cuộc phía Miền Nam tiết lộ:

 - Cuộc thương thuyết thất bại của TS.Kissinger ở Saigon

 - Cuộc thảm bại ngoại giao của TS Kissinger và lời hăm dọa ám sát TT Thiệu của Tướng Alexander Haig

  Trích từ Diển Đàn Dân Chủ - Hoàng Đức Nhã

 (Đặc biệt cho Ngày Nay) LTS - Qua các tài liệu ngoại quốc, kể cả trong hồi ký của ông Henry Kissinger, người ta đều biết là Tiến sĩ Kissinger đã thất bại trong việc ép Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký vào bản dự thảo Hiệp định Paris do Mỹ và Bắc Việt đã đồng ý. Thế nhưng lần đầu tiên, qua lời yêu cầu đặc biệt của Ngày Nay, ông Hoàng Đức Nhã, Bí thư của Tổng thống Thiệu, người có mặt trong các cuộc đàm phán giữa TT Thiệu và ông Kissinger ở Saigon hồi tháng 10, 1972, đã lên tiếng kể lại chi tiết nội vụ. 

 Tiếng nói của ông Nhã trong bài viết dưới đây chắc chắn sẽ là một dữ kiện lịch sử vì trong số bốn người có mặt, TT Thiệu, Đại sứ Bunker đã qua đời, còn ông Kissinger đã viết theo ý của ông ta, không phản ảnh được lập trường của miền Nam Việt Nam. Ông Hoàng Đức Nhã từ năm 1968 là Bí thư kiêm Tham vụ Báo chí của TT Thiệu, từ tháng 4, 1973 là Tổng trưởng Dân Vận và Chiêu Hồị Sau tháng 4-75, ông làm việc cho các công ty Hoa  Kỳ và định cư ở Virginia, sau đó về Chicago cho tới nay.  

Phần tít bài do ở trên do Tòa soan Ngày Nay đặt. Từ năm 1975 đến nay chưa có tác phẩm nào nói lên rõ những bí mật hậu trường cũng như những buổi thương thuyết rất căng thẳng giữa phía Hoa Kỳ do hai nhân vật then chốt là Tiến sĩ Henry Kissinger và Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam Ellsworth Bunker đại diện và phía VNCH với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Bí thư Hoàng Đức Nhã.  

Những tác phẩm do người Mỹ hoặc Âu Châu viết thì một mặt nói lên những quan điểm của chính mình với mục đích tự bào chữa, như những tác phẩm của ông Kissinger,  hoặc mặt khác, chỉ nói lên một phía nào đó của diễn trình thương thuyết đi đến hiệp định Ba Lê năm 1973. Những tác phẩm của các tác giả Việt Nam thì cũng nói lên một vài khía cạnh nào đó do các tác giả ấy nghe lại hoặc chứng kiến. Hai nhân vật đóng vai trò then chốt trong những tiến trình thì chưa hề nói lên những gì mình đã chứng kiến hoặc quyết định. Tổng thống Thiệu thì đã ra đi chưa có ghi lại hồi ký của ông ta.   

Xét lại lịch sử đất nước để cố tìm hiểu tại sao chúng ta đã phải ký hiệp định vào tháng Giêng năm 1973 thì chúng ta phải trở lại thời gian 1967- 1968 khi Tổng thống Thiệu đã đắc cử tổng thống nền đệ nhị Cộng Hòa và Hoa Kỳ chuẩn bị cuộc bầu cử tổng thống sau khi đương kim Tổng thống Lyndon Johnson từ chối không ra tranh cử trở lại. Lúc ấy hai đối thủ trong cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ là ông Hubert Humphrey thuộc đảng Dân Chủ và ông Richard Nixon thuộc đảng Cộng Hoa. Vấn đề chấm dứt chiến tranh VN bằng cách hòa đàm là một trong những vấn đề có ảnh hưởng lớn trong cuộc vận động tuyển cử. Hai ứng cử viên đều hứa sẽ chấm dứt chiến tranh trong danh dự và sẽ bảo tồn chủ quyền và độc lập của miền Nam Việt Nam. Chánh quyền Johnson lúc ấy có đưa ra những đề nghị chấm dứt chiến tranh và cố thúc đẩy miền Nam đến bàn hội nghị tại Ba Lệ Tòa Bạch Ốc ra chỉ thị cho sứ quán Hoa Kỳ tại Saigon cố thuyết phục Tổng thống Thiệu đưa phái đoàn đi Ba Lê để bắt đầu hội đàm. Trong lúc đó, phía ứng cử viên Nixon thì nhờ trung gian thuyết phục VNCH đừng đưa phái đoàn đi Ba Lê. Người trung gian ấy đã dùng những đường dây mà họ cho là có ảnh hưởng với Tổng thống Thiệu: đó là sứ quán VNCH tại Hoa Thịnh Đốn và Đại sứ Bùi Diễm, Sứ quán VNCH tại Đài Bắc và Đại sứ Nguyễn Văn Kiểu, anh ruột của Tổng thống Thiệu.  Lúc đó với tư cách Bí thư của Tổng thống, tôi được giao trách nhiệm phân tách tình hình và tham khảo với cấp lãnh đạo trong chính phủ để đề xướng ra lập trường của VNCH đối với việc thương thuyết tại Ba Lê. 

Tôi nhận được các phúc trình mật cũng như được Tổng thống tường thuật lại những cuộc điện đàm hoặc những cuộc tiếp xúc giữa ông ta với Đại sứ Bunker, Đại sứ Diễm và Đại sứ Kiểụ Tổng thống Thiệu và chánh phủ lúc ấy đứng trước thế khó xử, một mặt đáp ứng lời yêu cầu của chánh phủ Johnson đến Ba Lê mà không hề được biết lập trường của phía đồng minh ra sao và mặt khác thì nghĩ như thế nào khi các sứ giả của mình cho rằng nếu không đi Ba Lê thì sẽ giúp cho ứng cử viên Nixon thắng và sau này sẽ làm việc dễ dàng hơn với chánh quyền Hoa Kỳ. Sau cùng Tổng thống đã quyết định không gửi phái đoàn VNCH qua Ba Lê, không phải là để giúp cho ứng cử viên Nixon như sứ giả đặc biệt của ông ta là bà Chennault sau này đã từng tuyên bố, hoặc là được các sứ giả của VNCH thuyết phục. Lý do quan trọng nhất sau lưng sự quyết định đó là việc phía Hoa Kỳ không hề đồng ý với phía VNCH về lập trường chung phải như thế nào và những điều kiện phía Cộng sản sẽ phải chấp thuận trước khi bắt đầu các cuộc thương thuyết. Hoa Kỳ đều bác bỏ rất nhiều đề nghị của phía VNCH, từ những điểm then chốt của lập trường phía đồng minh cho đến những chi tiết như là hình thù của bàn hội nghị, cách xưng danh vv...  

Tôi còn nhớ rõ trong một phiên họp giữa Tổng thống Thiệu và Đại sứ Bunker chúng tôi có nói rằng phía VNCH biết phía Cộng sản nhiều hơn là phía Hoa Kỳ, và điểm then chốt là giải quyết những nguyên tắc căn bản trước khi đi vào thương thuyết. Phía Hoa Kỳ lúc ấy cho rằng VNCH không dám nói chuyện hòa bình và tìm đủ cách để đình trệ.  Kinh nghiệm đầu tiên đó đã diễn tiến trở lại trong những năm sau khi Tổng thống Nixon nhậm chức và ông Kissinger làm Cố vấn An ninh. Vấn đề giải quyết chiến tranh VN bằng đường lối thương thuyết được Tổng thống Nixon đề cập ngay sau khi nhậm chức. Ông Kissinger, qua trung gian của Đại sứ Bunker, bắt đầu liên lạc vối Tổng thống Thiệu, và đưa ra hết đề nghị này đến đề nghị khác và đòi phía VNCH đồng thuận với ông ta. Tổng thống Thiệu rất bực về lối làm việc này và đã nhiều lần nói khéo với Đại sứ Bunker rằng mọi việc đều có thể giải quyết được nếu phía VNCH được tham khảo trước và có đủ thì giờ để đưa ra đề nghị của mình và để bàn luận với phía Hoa Kỳ, với mục đích đi đến một lập trường chung trước khi đưa ra cho phía Cộng Sản. Những tài liệu được giải mật sau này cho thấy rằng ông Kissinger đã nhiều lần không hề đề cập đến những đề nghị của VNCH mà chỉ đưa ra đề nghị của Hoa Kỳ thôi, những đề nghị mà chính phía VNCH đã không đồng ý.    Rất nhiều lần chính tôi đã nói chuyện thẳng với Đại sứ Bunker trước khi trao cho ông ta đề nghị của VNCH, vànhờ ông ta chuyển lại cho ông Kissinger. Thậm chí đến nỗi khi phía VHCH được tin mật cho hay rằng ông Kissinger đang có những cuộc thương thuyết ngầm với phía Cộng Sản và đặt vấn đề với sứ quán Hoa Kỳ tại Saigon, thì Đại sứ Bunker cho hay rằng đó chỉ là những lời đồn chứ không đúng sự thật. Nhưng lúc bấy giờ phía chúng ta đã quá nghi ngờ ông Kissinger, và Tổng thống Thiệu chỉ thị cho tôi phải đặt hệ thống theo dõi tin tức liên quan đến những cuộc tiếp xúc mật giữa ông Kissinger và phía Cộng Sản. Phải nói rằng lúc ấy những nhà báo thân hữu Hoa Kỳ, Úc và Âu Châu cũng như sứ quán các quốc gia bạn như Đại Hàn, Trung Hoa Dân Quốc, Tân Gia Ba đều cho tôi những tin tức rất chính xác. Do đó, mỗi lần tôi thảo luận với phía Hoa Kỳ, dù qua trung gian của Đại sứ Bunker hoặc qua sứ giả đặc biệt của ông Kissinger là Tướng Alexander Haig, chúng tôi đều yêu cầu phía Hoa Kỳ xác nhận đã có những cuộc tiếp xúc với phía Cộng Sản, và đã đưa ra những đề nghị gì. Sau khi tiết lộ những cuộc tiếp xúc mật ấy thì phía Hoa Kỳ muốn đi rất nhanh để kết thúc chiến tranh bằng cách ký một hiệp định gọi là đem lại hòa bình trong danh dự cho các bên. Lúc ấy ông Kissinger muốn giải quyết cuộc chiến Việt Nam để giúp Tổng thống Nixon tái đắc cử nhiệm kỳ hai. 

Phía chúng ta cũng đồng ý rằng đó là thời điểm rất thuận lợi để bắt phía Cộng Sản chấm dứt chiến tranh và thương thuyết một cách nghiêm chỉnh. Nhưng ông Kissinger lại dở trò đi đêm không hề tham khảo với đồng minh, chắc vì ông nghĩ rằng phía chúng ta sẽ chống cự lại khi ông ta chấp nhận hết những nhượng bộ này đến nhượng bộ khác. Thậm chí đến nỗi trong khoảng thời gian từ 12 cho đến 17 tháng 10 năm 19 72, ông Kissinger và phía Cộng Sản đã đồng ý với nhau về một bản văn hiệp định tại Hà Nội mà VNCH không hề được thông báo.ï Họ tin rằng Nam VN sẽ không làm khó dễ: phía Cộng Sản thì tin theo lời tuyên truyền của chính họ là VNCH sẽ không kháng cự Hoa Kỳ, còn Hoa Kỳ thì cho rằng vì Cộng Sản không còn đòi hỏi Tổng thống Thiệu phải từ chức trước khi có hòa bình do đó ông sẽ bằng lòng ký hiệp định ngay. Nhưng điều mà ông Kissinger và phía Cộng Sản không hề tiết lộ là họ đã ăn mừng tại Hà Nội trước ngày ông Kissinger rời Hà Nội đến Saigon ngày 18 tháng 10 năm 1972. Những tài liệu được giải mật đã nói lên phần nào bất mãn của phía VNCH khi ông Kissinger trình bầy bản văn hiệp định này, cho rằng lập trường của phía Cộng Sản hoàn toàn xụp đổ và chính các ông Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã khóc vì sung sướng sẽ có hòa bình nếu các bên đều ký bản văn này.Tôi còn nhớ Tổng thống Thiệu mở mắt lớn ra khi tôi dịch xong lời nói của ông Kissinger và với nụ cười mỉa mai bảo tôi nói lại với ông Kissinger là đừng bao giờ mắc bẫy của Cộng Sản, đừng bao giờ tin những lời lẽ và giọt nước mắt cá sấu ấy. Không khí thương thuyết giữa Hoa Kỳ và VNCH bắt đầu căng thẳng hơn, khi phía chúng tôi nhận thấy rằng bản văn hiệp định được thảo bằng tiếng Mỹ! Lúc ấy tôi không cầm nổi bực mình và nói thẳng với ông Kissinger và phái đoàn Hoa Kỳ rằng chính phủ VNCH không thể điều đình vận mệnh của nhân dân miền Nam Việt Nam với một văn kiện bằng tiếng Mỹ. Phía Hoa Kỳ liền xin lỗi và cho rằng phía Cộng Sản đưa cho họ bản văn tiếng Mỹ. Tôi lại cười to và nói lại rằng phía Cộng Sản không bao giờ đưa ra lập trường của họ bằng tiếng Mỹ, và chính các ông (Hoa Kỳ) đã dịch ra từ bản văn tiếng Việt. 

Do đó, chúng tôi đòi phải có bản tiếng Việt trước khi cứu xét và cho biết lập trường của VNCH. Sau khi phía Hoa Kỳ trao lại cho chúng tôi bản văn tiếng Việt - sau 4 tiếng đồng hồ - thì chúng tôi nhận thấy rất nhiều điều khác biệt giữa bản văn tiếng Việt và bản dịch của những chuyên viên Việt ngữ trong phái đoàn Hoa Kỳ dịch lại. Đó mới chỉ là phần đầu của bốn ngày thương thuyết rất căng thẳng giữa phía Hoa Kỳ và phía VNCH. Lúc ấy chúng ta thấy rõ rằng ông Kissinger chỉ muốn chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá và bất chấp những đề nghị trước đây của phía VNCH và bao nhiêu lời hứa do chính Tổng thống Nixon cam kết với Tổng thống Thiệu. Tôi còn nghĩ rằng ông Kissinger chỉ muốn làm anh hùng, người đã chấm dứt được chiến tranh, và đem về những tù nhân Hoa Kỳ do Bắc Việt giam giữ.  Theo Tổng thống Thiệu, nếu chúng ta ký bản văn mà ông Kissinger và phía Cộng Sản soạn thảo thì sẽ coi như chúng ta đã đầu hàng và chấp nhận một chính phủ liên hiệp tại miền Nam. Mặc dù phía chúng ta rất bực bội về cách cư xử của ông Kissinger nhưng phản ứng một cách rất đứng đắn, vạch ra cho phía Hoa Kỳ 65 điểm trong bản văn mà chúng ta không thể chấp nhận được. Tôi còn nhớ rõ ông Kissinger cố thuyết phục nói rằng đó là những chi tiết không đáng kể và sẽ không có nghĩa lý gì cả và sau này nếu phía Cộng Sản không tôn trọng hiệp định thì phía Hoa Kỳ sẽ trả đũa rất mãnh liệt. Dĩ nhiên là phía chúng ta không tin được những lời trấn an đó; và qua những ngày sau, mặc dù phía Hoa Kỳ tìm mọi cách trấn an những thành viên của Hội đồng An ninh Quốc gia VNCH, Tổng thống Thiệu vẫn không chấp nhận. Sau cùng, ông Kissinger xin được nói chuyện riêng với Tổng thống Thiệu, không có sự hiện diện của Hội đồng An ninh Quốc gia. Tổng thống Thiệu trả lời rằng ông ta đề nghị phía Hoa Kỳ thì có ông Kissinger và Đại sứ Bunker và phía VNCH có Tổng thống Thiệu và toi. Trong hai ngày thương thuyết giữa bốn người, khi tôi đặt lại vấn đề phải giải quyết 65 điểm tôi đã nêu lên, ông Kissinger rất bực bội và cho rằng phía VNCH làm một lỗi lầm rất lớn, khi đòi hỏi những điều kiện này vì dư luận Hoa Kỳ sẽ cho rằng VNCH cản trở hòa bình, và do đó VNCH sẽ mất sự ủng hộ của chính phủ và Quốc hội Hoa Kỳ. Phía chúng tôi đáp lại rằng vận mệnh của nhân dân miền Nam quan trọng hơn, và Tổng thống Thiệu sẽ không bao giờ đầu hàng Cộng Sản và sẽ không bao giờ ký bản văn đó. Ông Kissinger quá bực và nói với tôi rằng: "Tổng thống của anh không nên làm thánh tử đạo"! Tôi trả lời ngay với ông ta rằng đó chỉ là lòng yêu nước và trách nhiệm của nhà lãnh đạo.  

Tôi còn nhớ rằng vào buổi chiều ngày 22 tháng 10 khi Tổng thống Thiệu khẳng định một lần chót rằng sẽ không ký bản văn hiệp định do ông Kissinger trình bầy và nhờ ông ta chuyển lời của ông [T.T Thiệu] với Tổng thống Nixon thì ông Kissinger xin được gặp một lần nữa vào sáng ngày 23 để cho báo chí Hoa Kỳ có cảm tưởng rằng có sự tiến bộ trong cuộc tham khảo giữa VHCH và Hoa Kỳ. Tổng thống Thiệu và tôi mỉm cười nói rằng chúng tôi thông cảm nhu cầu đó của ông để lừa dối báo chí nữa. Do đó, vào buổi sáng ngày 23 tháng 10, ông Kissinger và Đại sứ Bunker trở lại Dinh Độc Lập gặp Tổng thống và tôi... Tôi còn nhớ rằng bốn người ngồi nhìn nhau.... phía chúng tôi thì lập lại lập trường và chúc ông Kissinger thượng lộ bình an và sớm trình lại với Tổng thống Nixon những lý do tại sao VNCH không thể ký bản văn hiệp định được... còn ông Kissinger và Đại sứ Bunker rất bối rối, cố lập lại những điều mà họ đã nói trong những ngày qua... Nửa giờ sau, Tổng thống Thiệu đứng dậy cáo lỗi là có cuộc họp rất quan trọng với các tướng lãnh, bắt tay ông Kissinger và đưa ông ra khỏi phòng... 

Lúc ra khỏi phòng, ông Kissinger quay lại nói với tôi rằng đây là cuộc thảm bại ngoại giao lớn nhất của ông ta và ông ta sẽ không bao giờ trở lại Saigon... Tôi nói lại rằng rất tiếc ông nghĩ như vậy và tôi mong ông hiểu rằng giữa hai đồng minh chúng ta nên tôn trọng nhau và mọi việc gì cũng sẽ có giải pháp khi hai bên tôn trọng nhau và coi nhau như bạn và chiến hữu. Sau những ngày tháng 10 đó, ông Kissinger giữ lời hứa không trở lại Saigon để tiếp tục thương thuyết với phía VHCH; trái lại ông ta gởi phụ tá của ông ta là tướng Alexander Haig. Ông này lại còn không khá gì hơn, chỉ lập lại những điều ông Kissinger nhắn lại. Trước lập trường vững chắc của VNCH ông ta nói với Tổng thống Thiệu và tôi rằng nếu VNCH không ký hiệp định thì Hoa Kỳ sẽ có "biện pháp tàn bạo" (brutal reaction)... tôi hỏi ngay biện pháp tàn bạo nhất là các ông ám sát Tổng thống Thiệu và tôi chớ gì... nhưng chúng tôi vẫn không thể ký bản văn hiệp định khi những điểm chúng tôi nêu lên không được giải quyết thỏa đáng. Sau khi phía chúng ta đạt được những điều cốt yếu trong bản văn hiệp định và sau khi được tổng thống Nixon cam kết bằng thư riêng rằng Hoa Kỳ sẽ có những biện pháp mạnh, nếu Cộng sản vi phạm hiệp định, chánh phủ VNCH ký hiệp định Ba Lê ngày 27 tháng 1 năm 1973. Nhưng chúng ta lại phải đối phó với lời "hứa cuội" của ông Nixon và ông Kissinger đã không hề lấy những biện pháp mạnh như đem B-52 dội bom quân đội Cộng Sản như hai ông đã hứa mà còn không đệ trình Hiệp định để cho Quốc hội chấp thuận. Sau này Hoa Kỳ sẽ viện cớ rằng vì Quốc hội Hoa Kỳ không biểu quyết chấp thuận Hiệp định Ba Lê cho nên chính quyền Hoa Kỳ không có những biện pháp mạnh được!.