Ðọc Sách Mỹ nói về Hồ Chí Minh
Trich tu Dan Chu - Hoàng Long Hải/ Tuệ Chương
Ðến
Mỹ, những người thích đọc sách thấy thích
về số lượng đồ sộ sách báo, tài
liệu, v.v... trong các thư viện. Như tại 'town' tôi
ở, một 'town' nhỏ nhưng thư viện là một
ngôi nhà cổ lớn, rất đẹp, mà sách thì không
sao đọc hết được. Những sách nói
về Việt Nam, nhất là lịch sử và chiến
tranh thì không thiếu gì. Gần mười năm trước,
khi mới đến định cư ỏ Hoa kỳ, tôi
tìm đọc một số sách của người Âu
Mỹ viết về Việt Nam. Những tác phẩm
của Bernard Fall (Two Vietnam, Street without joy), Gary R.Hess (Vietnam
and the U. .), Henry S Kamm (Dragon Escending), Sen Ernest Guening & Herbert
W. Beaser (Vietnam Folly) Stanley Karnow (Vietnam a History), Kissinger,
(Brother Enemy) Nayan Chanda, v.v... làm cho tôi suy nghĩ không ít.
Tại sao họ có quá nhiều định kiến với
nhân dân cũng như các chính phủ và quân đội
Miền Nam Việtnam? Tệ nhất là cuốn 'Giai Phong,
the fall and liberation of Saigon' của Tiziand Terzani, hoàn toàn thiên
lệch và định kiến.
Chúng
ta ... thất vọng!
Vì sao?
Người
Việt thường nói là Mỹ chẳng hiểu gì
Việt Nam cả, nhất là với dân tộc Việt Nam,
họ như các người mù sờ voi.
Thứ
nhứt, người Mỹ, nói chung là Âu-Mỹ, có
sẵn định kiến khi nói hay viết về Việt
Nam.
Ngay như
Bernard B. Fall, người từng viết nhiều sách, báo
về Việt Nam, nổi tiếng và phổ biến
nhứt là 'Street Without Joy', 'The Two VietNam (tôi dịch vài
đoạn sau đây) là người từng đến
Việt Nam sống một thời gian lâu dài, theo chân các
đoàn quân Pháp (sau nầy là quân Mỹ) trên khắp
chiến trường từ Nam chí Bắc cũng không rành
gì về dân tộc Việt Nam.
Thứ
hai, thông tin sai lạc và bị tuyên truyền
Thứ
ba, thiếu đi vào thực tế
Thứ
tư, thiếu nghiên cứu về Việt Nam
Ðể
chứng minh, tôi dịch vài đoạn sau đây của
Bernard Fall và nhận xét.
(Ghi chú:
Sau dây, chữ in nghiêng là phần trích dịch từ trong
sách 'Two Viêtnam' của Bernard Fall, phần chữ đứng
là nhận xét của người viết.)
&
Trích:
'Cả
hai đều là người có học vị, và được
coi là 'cha già dân tộc'. Nhưng ông Ngô Ðình Diệm' thì
ưa cách ăn mặc truyền thống vị quan lại
cũ, trong khi Hồ Chí Minh xuất hiện bằng một
hình ảnh gần gủi gọi là 'bác Hồ', vẫn tôn
kính nhưng không có vẽ nghiêm khắc như một người
cha. Hình ảnh khác biệt đó phản ảnh hai
đường lối tuyên truyền. Hình ảnh Ngô Ðình
Diệm là truyền thống của một vị quan
lại cũ, hoặc mặc âu phục toàn trắng như
truyền thống của các tên thực dân. Hồ thì
ăn mặc theo kiểu lãnh tụ của Mao Trạch Ðông
như các đảng viên của ông ta hoặc áo quần
đen nông dân và mang dép 'lốp' như của nông dân
hoặc du kích. Rõ ràng những hình ảnh đối
chọi ấy phản ảnh đường lối tuyên
truyền của hai nhân vật đó và là yếu tố
quan trọng trong cuộc đấu tranh giữa hai miền
đất nước VN đã bị chia cắt hồi
thập niên 1960.
Nhận
xét:
Có
phải Hồ Chí Minh (HCM) là người bình dân qua cách
ăn mặc của ông?
Ðúng
ra là mỵ dân chứ không phải bình dân. Mỵ dân là
một đường lối tuyên truyền. Không ai cho
rằng tuyên truyền mỵ dân là thực bụng, là người
thành thật. Nhận xét về HCM, nhiều người
cho rằng ông ta là người xảo trá, quỷ
quyệt. Vì vậy cái bình dân của HCM tinh vi đến
độ mỵ dân, nghĩa là nhìn qua thì không ai thấy,
không ai hiểu nên rất dễ bị lầm. Còn cách
gọi bằng 'bác' thì cũng là một cách mỵ dân
tinh vi vậy, một thứ tuyên truyền tuyệt xảo.
Ở Mỹ, chẳng ai gọi Washington bằng 'bác' nhưng
ai ai cũng tôn sùng ông là cha già dân tộc. Người dân
Nhật tôn sùng hoàng đế, nhất là Minh Trị Thiên
Hoàng, người đã đưa Nhật từ một nước
phân hóa quân phiệt, lạc hậu lên hàng cường
quốc, nhưng dân Nhật không gọi Minh Trị
Thiên Hoàng bằng 'Bác' mà gọi là 'Hoàng đế'.
Người Tàu gọi Tôn Dật Tiên là 'Quốc phụ'
nhưng cũng không gọi bằng 'Bác' như
HCM. Ở các nước đó, việc người dân
gọi lãnh tụ như thế nào là do tự phát, do lòng
ngưỡng vọng của người dân mà ra. Ðầu
tiên, khi HCM về cầm quyền năm 1945, vốn dĩ
người Việt Nam tôn kính lãnh tụ, gọi ông là 'Cụ
Hồ', cũng như gọi 'Cụ Ngô', cụ Phan (Phan
Bội Châu hay Phan Chu Trinh). Theo phong tục Việt Nam, trên
50 tuổi thì được gọi bằng cụ (Tới
tuổi 50 là 'Tri thiên mệnh' như Khổng Tử nói
vậy). Sau 1945 một thời gian, bỗng có lệnh chính
quyền Cọng Sản biểu dân gọi là 'bác Hồ'.
Dĩ nhiên có lệnh đó là do chính sách tuyên truyền
mỵ dân của Cọng Sản mà ra.
Phan Khôi,
dù là đảng viên Cọng Sản, không ưa lối 'chơi
trội' của HCM, bèn đặt ra câu chuyện 'cười'
như sau:
Xưa
có ông già sinh ra thằng con trai ngù ngờ, khách đến
nhà người thì nó gọi bằng bác, người
gọi bằng chú, không đúng với tuổi tác, vai
vế người ta. Ông già bèn gọi con lại, dạy:
Hễ ai không râu thì còn trẻ, gọi bằng chú; ai có râu
là người già, gọi bằng bác. Nghe không?' Thằng
con vâng lời. Ít lâu sau, ông già cưới vợ cho con.
Nghĩ con mình dại dột, sợ đêm động phòng
không biết xoay sở ra sao, nên ông già đứng rình trước
cửa phòng, xem động tĩnh. Ông nghe có tiếng
cởi quần áo sột soạt, và tiếng thằng con
trai lên tiếng chào: 'Thưa bác'.
Câu
chuyện nầy, dĩ nhiên Phan Khôi đặt ra là để
tặng 'Bác Hồ'.
Theo phong tục Việt Nam, gọi người già
bằng cụ là điều thường thấy, nhưng
biểu người khác gọi mình bằng 'bác' là
hỗn, vô phép. Tại sao? 'Bác' là người lớn
tuổi, là anh (hay chị) của cha hay mẹ (Em của cha
thì gọi là chú, em của mẹ thì gọi là cậu, dì).
Khi yêu cầu người khác gọi mình bằng 'bác' là
tự coi mình bậc trên của cha hay mẹ người
ấy; ấy là chưa kể những người già
bằng tuổi HCM hay lớn tuổi hơn ông ta cũng
phải gọi ông bằng 'bác' thì 'vô phép' lắm.
Khi tự xưng mình là 'bác' với người khác,
ý HCM muôn bày tỏ sự gần gủi, bà con, ruột
thịt, đồng bào (cùng một bọc -của mẹ-
mà ra). Nhưng có thực HCM coi người Việt Nam là bà
con, ruột thịt, một bọc mà ra hay không? Thế
những người quốc gia bị Việt Minh giết
năm 1945, 46 thì sao? Vụ 'cải cách ruộng đất'
hàng vạn người bị giết một cách tàn ác thì
sao? Thậm chí những người đồng sanh đồng
tử với HCM, ông cũng đem bán đứng cho Tây
hay cho ám sát như Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ,
Lâm Ðức Thụ thì sao? Những người bước
đầu giúp HCM dựng nên sự nghiệp như Vũ
Ðình Huỳnh, Ðặng Kim Giang, sau nầy tù tội và
chết thảm nhưng HCM không tỏ ra một chút xúc
động, thương tiếc thì sao? Thậm chí cả
Nông Thị Xuân, 'cháu ngoan bác Hồ', đầu gối tay
ấp với bác, đẻ cho bác một cậu con trai (Hồ
Chí Trung) rồi bác làm lơ để cho Trần Quốc
Hoàn hiếp thị, giết thị bằng một vụ
giả xe cán thì sao? Cái ngọt ngào bà con cật ruột
trong tiếng gọi 'bác' là mũi dao lưu cầu rất
ngọt đâm suốt trái tim dân tộc Việt Nam.
Thằng bé em đòi mẹ bế lên thềm
Xem các cụ trong làng ra cử tế
Tiếng chuông trống chen từng hồi
lặng lẽ,
Các cụ già áo thụng bước lom khom.
Các cụ già áo thụng đó là người
lớn tuổi trong làng, thay mặt dân làng trong các
buổi tế lễ ở đình làng, đâu phải là
quan cách do triều đình sai đến. Tùy tuổi tác và
'chức sắc' trong làng (lý trưởng, tiên chỉ do làng
bầu ra, chứ không phải là giai cấp hoặc nhà vua
cắt cử), các cụ mặc áo đen hay áo xanh. Cố
Tổng Tống Ngô Ðình Diệm mặc áo xanh là thứ áo
các cụ trong làng cũng thường mặc, không
phải là quan lại. Cứ gì phải quan lại phong
kiến mới ăn mặc như Tổng Thống
Diệm trong các dịp lễ lớn. Cách ăn mặc như
Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm là theo truyền
thống dân tộc, chứ không phải là truyền
thống phong kiến như Cọng Sản tuyên truyền.
Nếu ăn mặc theo kiểu phong kiến thì phải
mặc 'phẩm phục', (áo có thêu hoa văn) có sự phân
biệt theo phẩm là thứ bậc quan cách trong triều.
'Phẩm phục' cho quan văn, 'nhung phục' cho quan võ.
Mặc áo dài ta màu đen hay màu xanh thì xưa gọi là 'lễ
phục'. Cả ba thứ nầy, đều gọi chung là
quốc phục; phổ biến và 'bình dân' nhứt là 'lễ
phục'
Ngoài ra, những buổi lễ không có tính
truyền thống dân tộc, Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm vận đồ tây trắng. Trong các dịp
lễ, người Ây Tây cũng ăn vận như
thế, ngoại trừ chú Sam mặc áo đuôi tôm và mũ
sọc dưa là hình ảnh người Mỹ giàu có.
Muốn phục hồi hình ảnh đó của nước
Mỹ, trong lễ nhậm chức Tổng Thống
nhiệm kỳ 1, Ronald Reagan cũng mặc áo đuôi tôm và
đội mũ sọc dưa. Có ai gọi đó là
Reagan phong kiến, cổ hủ, lạc hậu. Tôi không
rõ ở châu Âu, nếu có ai vận bộ complet màu
trắng thì người châu Âu có gọi đó là tên
thực dân hay không?
Về dòng dõi, thực ra, HCM không thuộc gốc nông
dân mà thuộc hàng quan lại, phong kiến. Sách 'The Two
Vietnam' của B. Fall viết như sau: 'Thân sinh ông Hồ
thuộc hàng 'quí tộc trong làng', có nghĩa là giàu có hơn
nông dân quanh làng -Tôi có xem một bức hình chụp nhà
ông ở làng ông cho thấy như thế - nhưng nhờ
công khó và do lối học từ chương, ông thi đổ
và giữ một chức vụ do triều đình ban cho
sau khi thế lực cai trị Pháp bao trùm cả triều
đình Huế. Theo toàn quyền Decoux, thì thân sinh của
Hồ là người giỏi chữ Nho, viết chữ
đẹp, thuộc một nhóm ít người không
chịu theo học tiếng Pháp.'
Thân sinh HCM là Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc,
được bổ làm Tri Huyện Bình Khê, tỉnh Bình
Ðịnh. Ở Việt Nam ngày xưa, không mấy khi người
ta gọi tri huyện là 'ông huyện' mà phải gọi là
'quan huyện', và khi nói thì phải 'bẩm quan', tay thì
chắp trước ngực và phải cúi đầu, không
được nhìn thẳng vào mặt quan huyện, như
thế là 'vô phép'. Gặp quan huyện dữ tính, cho lính
nọc ra đánh đòn như không. Quan huyện Bình Khê
Nguyễn Sinh Sắc, chắc chắn không phải là
một nhà cách mạng để có thể tha cho dân
phải vòng tay cúi đầu thưa bẫm, lại càng không
phải là quan huyện hiền. Nguyễn Sinh Sắc là
một quan huyện bê bối (đệ tử ruột
của Lưu Linh thì không
thể là người đàng hoàng được,
thuộc hàng 'tứ đổ tường') và không
hiền nên bị mất chức vì say rượu đánh
chết dân.
Cách ăn mặc của HCM thì lại theo Tàu.
Kiểu áo lãnh tụ HCM mặc là kiểu của Tôn Trung
Sơn, Mao Trạch Ðông, Ðặng tiểu Bình. HCM ưa làm
lãnh tụ nên mặc áo kiểu lãnh tụ (Nguyễn Cao
Kỳ khi đi dự Hội Nghị Paris 1973 cũng
mặc áo kiểu áo lãnh tụ nầy). HCM còn mang tinh
thần nô lệ Tàu nên mặc áo kiểu Tàu. (Ông Bùi Tín
có nói HCM chưa muốn thi hành 'Cải cách Ruộng đất',
nhưng Mao yêu cầu nên ông phải thực hành sớm.
Thế cũng là mang cái tinh thần nô lệ Tàu vậy).
Nước ta tuy có độc lập về chính trị nhưng
về tinh thần, mấy thế kỷ trước thì
lệ thuộc Tàu ghê gớm. Người xưa cho cái gì
của Tàu cũng nhứt, thậm chí khi bị Pháp xâm lược
thì qua Tàu xin cứu viện là một ví dụ. Tinh
thần nô lệ văn hóa biểu lộ qua cái áo lãnh
tụ kiểu Tàu mà HCM mặc là một ví dụ.
Những điều tôi vừa trình bày ở trên
thuộc lãnh vực văn hóa, tâm lý khá phức tạp,
nếu không phải là người Việt Nam sẽ khó
thấy được. Rõ ràng trong phạm vi nầy, B.
Fall chẳng hiểu gì văn hóa và tâm lý người
Việt cả, lại thiên tả, mang sẵn định
kiến với người Miền Nam, nhân dân Miền Nam,
với chế độ Cọng Hòa Miền Nam nên đã có
một cách nhìn và trình bày sai lạc và hết sức tai
hại.
Trích:
Những nhận định về Hồ khác
biệt nhau rất sâu sắc không chỉ giữa những
người Cọng Sản và Không-Cọng-Sản mà
cả ở quan sát sát viên của hai phe phái và ở
những quốc gia trung lập. Vì vậy, theo Nehru, thì
Hồ là người 'hết sức đáng yêu và rất
thân thiện', trong khi cựu đảng viên Cọng
Sản Ấn Ðộ M.N. Roy, người cùng học
với Hồ ở đại học Ðông phương
Toilers ở Moscow hồi năm 1924, thì nhớ 'cá tính
của Hồ không có gì đặc sắc và cũng không
phải là một học sinh giỏị Một cựu nhân
viên tình báo Mỹ OSS, từng làm việc gần gủi
với Hồ khoảng vài tháng trước khi Thế
Giới Chiến Tranh Thứ II chấm dứt thì mô tả
Hồ là 'một anh chàng hết sức ngọt ngàó, 'phẩm
cách nổi bật của y là hết sức dịu dàng'.
Paul Mus, một người Pháp nghiên cứu về Ðông phương,
hồi năm 1946, 47 thực hiện vài lần thương
thảo với Hồ thì cho rằng ông ta là người 'không
khoan nhượng và không mua chuộc được.' Trong
khi đó, nhà hoạt động xã hội Pháp, người
từng hoạt động với Hồ hồi thập niên
1920 ở Paris thì nhớ rằng 'ông ta chẳng phải là
người cực đoan và hết sức tế nhị
Thuyền trưởng Gerbaud của hải quân Pháp chỉ
huy tàu Dumont d' Urville mà Hồ là khách của
tàu nầy trên chuyến đi
21 ngày từ Pháp về Việt Nam năm 1946, có cơ
hội duy nhất trong số những người Tây Phương,
quan sát Hồ hết sức cận kệ Tới cuối
chuyến đi, Gerbaud báo cáo lên cấp chỉ huy rằng
Hồ là người 'thông minh và quyến rũ, say sưa
với lý tưởng và hết sức chú tâm vào
những gì ông ta đã theo đuổị
Gerbaud cũng ghi nhận rằng 'niềm tin ngây thơ
của Hồ vào khẩu hiệu chính trị-xã hội
của thời đại chúng ta và, nhìn chung, mọi điều
đã được phổ biến.'
Nhận xét:
Các nhân vật nói trên có thể xếp thành
hai hạng khác nhau:
Một là những người tiếp xúc
với HCM trong một thời gian ngắn và là mục tiêu
của HCM cần tranh thủ cảm tình. Ðó là: Nerhu,
thủ tướng Ấn Ðộ, một nhân viên OSS, Paul
Mus, thuyền trưởng Gerbaud.
Hai là những người từng chung sống
lâu dài với HCM, khiến HCM không che dấu được
chân tướng của ông. Tục ngữ nói: 'Ði lâu
mới biết đường dài, ở lâu mới
biết con người phải chăng.' Ðiều đó là
đúng ngay trường hợp các ông Cựu đảng
viên Cọng Sản Ấn Ðộ M.N. Roy và thứ hai là
một nhà hoạt động xã hội Pháp, những người
tiếp xúc với HCM lâu dàị
Một người như HCM dĩ nhiên có hai bộ
mặt: là con cừu, con nai trước mặt con sư
tử và trở thành con cọp trước những con
naị Nhìn chung, biến trá là bản chất của ông.
Muốn là người biến trá, không phải dễ, người
đó phải thông minh và khéo léo, nhưng không bao giờ
là người chân thật như Phùng Quán nói trong bài thơ
'Lời Mẹ Dặn'.
Trích:
Ngay ngày sinh của Hồ cũng không chắc là
ngày nàọ Các nguồn tin của Cọng sản thì nói năm
1890, 1891 và 1892 do họ nhứt trí với nhau từ lúc
đầụ Chính xác về ngày tháng theo chính phủ Hà
Nội thì đó là ngày 19 tháng Năm. Cũng theo chính
phủ trên thì ông sinh tại làng Kim Liên, huyện Nam Ðàn,
tỉnh Nghệ An, miền trung Việt Nam, gần với
ranh giới Bắc phần. Tuy nhiên, tên thật của ông
vẫn còn là một huyền thoạị Nhiều
nguồn tin Cọng Sản Tây phương thì nói rằng
tên khai sinh của ông là Nguyễn Ái Quốc, có nghĩa là
ông 'Nguyễn yêu nước'. Theo nguồn tin của
Cọng Sản Pháp, muốn nhấn mạnh đến tính
phổ biến của Hồ thì họ Nguyễn là một
họ rất phổ cập ở Việt Nam giống như
tên 'Jean' của người Pháp vậỵ Nói 'Nguyễn
Ái Quốc' thì cũng như người Pháp nói 'Jean
le-patriot' (Jean Ái Quốc) vậỵ
Nhận xét:
Nói về việc tổ chức sinh nhật, tôi
xin trích và dịch một đoạn trong cuốn sách 'Sađam
Hussein and the Crisis in the gulf' như sau: 'Mặc dù người
Hồi không như người Tây phương thường
tổ chức ngày sinh nhựt, nhưng Sađam đã
biến ngày sinh của y thành một ngày quốc lế
Theo phong tục Việt Nam thì người
Việt không ăn lễ sinh nhựt. Nếu ai đó,
nhất là thời bây giờ người ta có tổ
chức sinh nhựt thì đó là họ bắt chước
người Tây phương hay bắt chước HCM. Người
Việt chỉ làm lễ húy kỵ tức là kỷ
niệm ngày qua đời mà thôị Ngay cả vua chúa ngày
xưa cũng vậỵ Người Việt chúng ta
trọng tinh thần cộng đồng, sinh ra và lớn lên
là mang ơn sinh thành của cha mẹ, mang ơn xóm làng, dân
tộc đất nước, nên khi lớn thì phải
trả hiếu cho cha mẹ, sống phải có ích nhà
lợi nước, nhân quần xã hộị Ai không làm
tròn nhiệm vụ đó thì không xứng làm người,
giỗ kỵ còn chưa có nói chi tới sinh nhựt. Người
ta thường nói 'cái quan định luận'; nghĩa là
đóng nắp hòm lại rồi mới nhận định
cái tốt, cái xấu của người nằm xuống.
Thành ra 'cóc chết để da người ta chết
để tiếng' là điều rất quan trọng.
Những người có công trạng lớn với đất
nước như Ông Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi,
Hai Bà Trưng hoặc cận đại như Nguyễn
Trung Trực, Trương Ðịnh, Nguyễn Tri Phương
thì đều lập đền thờ, tôn vinh làm thánh, làm
thần, dân chúng tới lui cầu nguyện mà chính
quyền cũng lễ bái hàng năm cầu cho 'quốc thái
dân an'. Thực ra, trước khi tựu nghĩa, Nguyễn
Trung Trực chỉ là người thuyền chàị
Chắc là không ai làm lễ sinh nhựt cho anh thuyền chài
đọ Nhưng khi ông là anh hùng dân tộc, vị
quốc vong thân, thì người dân phong thánh cho ông. 'Cái
quan định luận' là ở chỗ đó vậỵ
Khi tôi còn trẻ, làm 'giáo tại giá ở nhà
ông chụ Khi đứa con trai đầu của ông thi
đậu trung học, ông cho tiền đi ăn kem, nhưng
khi nó đòi ăn sinh nhựt thì bị ông mắng: 'Mi
đã làm chi ích nhà lợi nước chưa mà đòi
ăn mừng mi ra đờí Có lẽ ngày nay, mỗi
lần ăn sinh nhựt, 'cậu học tró nhỏ của
tôi hồi đó chắc thường tự hỏi mình có
làm gì 'có ích cho nhân quần xã hộí chưa như
lời bố dạỵ
Ngày 19/tháng năm 1946, mới lên làm chủ
tịch chính phủ, HCM cho tổ chức sinh nhựt
của ông. Thế có phải ông cho rằng mình xứng
đáng để người dân Việt Nam ăn mừng
ngày ông ra đời chăng hay ông muốn tô vẽ cho mình,
suy tôn lãnh tủ HCM hơi vội đấy, chưa 'cái
quan' sao đã 'luận định rồỉ
Theo giáo sư Hoàng Văn Chì trong cuốn 'Từ
Thực dân đến Cọng sản' thì không rõ HCM sinh ngày
nàọ Số là mấy hôm trước 19 tháng năm 1946,
đại diện Pháp Sainteny đến Hà Nộị Võ
(Nguyên) Giáp thậm thụt đến gặp Sainteny
tại nhà khách để tính chuyện tiêu lòn, tiếp
đón 'thù ngoàí (Pháp) để diệt 'giặc trong' (các
đảng phái quốc gia và các tôn giáo). Nhưng về
mặt chính thức, Sainteny nhứt định không đến
thăm (ngoại giao) HCM, vì đến có nghĩa là công
nhận chính phủ HCM hay saỏ! HCM bày ra một mẹo,
lấy ngày 19 tháng 5 làm ngày sinh nhựt và sai Võ (nguyên) Giáp
đi mời Sainteny tới dự tiệc. Theo phong tục
Pháp, Sainteny không thể từ chối lời mời
được. Tuy nhiên, với công luận, đến
dự lễ sinh nhựt HCM là coi như Pháp công nhận chính
phủ HCM, tạo thế cho Hồ thẳng tay đàn áp
đối lập.
Trong chiến tranh Việt Pháp, nhân mừng ngày
sinh nhựt HCM, bộ đội Việt Minh mở
nhiều tấn công và tiêu diệt đồn bót quân
đội Quốc gia, trong số có một bót tại làng
ngoại tôi, khiến mấy người cậu họ bên
ngoại tôi tử trận. Rút kinh nhiệm đó, sau
nầy bị động viên ở trong quân đội
Việt Nam Cọng Hòa, hễ gần tới ngày sinh
nhựt HCM, tôi phải đi thanh tra các đồn bót trong
vùng trách nhiệm, cho củng cố hệ thống phòng
thủ, có kế hoạch phản công nếu bị địch
tấn công. Năm nào đến ngày nầy cũng có vài
trận, dĩ nhiên bên nào cũng có người chết.
Tôi chắc những người chết đó, dù là người
theo 'bác' hay chống 'bác' cũng điều xuống âm ty
hỏi tội 'bác' cạ Còn mẹ, vợ hoặc con cái
của những người tử trận ấy, ngày nay
họ nghĩ gì, đau buồn như thế nào khi đến
ngày 19 tháng 5, chính quyền Cọng sản tổ chức 'mừng
sinh nhựt 'bác Hổ Nếu muốn 'hòa hợp hòa
giải dân tộc' nên dẹp bỏ 'kỷ nhiệm ngaày
19 tháng 5' thì hơn.
Trích:
Cựu đảng viên Cọng Sản Ðức
Ruth Fischer mới qua đời, người biết rõ
Hồ thời gian ở Moscow, cả hai hoạt động
cho Ðệ Tam Quốc Tế mới hình thành nói rằng thân
phụ của Hồ tên là Nguyễn Sinh Huy và tên của
Hồ là Nguyễn Tất Thành. Nhà văn Cọng Sản
người ÚcWilfred Burchett, sau năm 1954 có sống mấy
năm ở Hà Nội, biết rất rõ Hồ Chí Minh, xác
nhận một cách chắc chắn tên thật của
Hồ Chí Minh là Nguyễn Văn Thành, đó là cách thông
thường người Việt Nam đặt tên cho đàn
ông. Lại nữa, ít ra, Hồ cũng dùng cả chục
tên hiệu trong suốt thời gian Hồ làm gián điệp
cho Cọng Sản.
Có lẽ Hồ là con út trong một gia đình có ba
anh chị em. Chị của ông tên là Thanh, sinh năm 1884, và
anh tên là Khiêm, sinh năm 1888. Hai người nầy không
thích chính trị, vẫn còn ở làng trong suốt
cuộc kháng chiến chống Pháp, cày bừa trên đám
ruộng của gia đình. Khiêm chết năm 1950, và
chị ông, chưa bao giờ kết hôn, chết năm
1953.
Thân sinh ông Hồ thuộc hàng 'quí tộc trong
làng', có nghĩa là giàu có hơn nông dân quanh làng -Tôi có
xem một bức hình chụp nhà ông ở làng ông cho
thấy như thế - nhưng nhờ công khó và do lối
học từ chương, ông thi đổ và giữ
một chức vụ do triều đình ban cho sau khi
thế lực cai trị Pháp bao trùm cả triều đình
Huế. Theo toàn quyền Decoux, thì thân sinh của Hồ là
người giỏi chữ Nho, viết chữ đẹp,
thuộc một nhóm ít người không chịu theo
học tiếng Pháp.
Việc không theo học tiếng Pháp là một lý do
đóng góp vào việc ông bị cách chức sau nầy,
mặc dù các nguồn tin Cọng Sản thì nói rằng lý
do cách chức là vì ông
tham gia một hội kín chống Pháp, Pháp thì lại cho
rằng ông ta là người có tác phong đạo đức
kém nên bị mất chức. Theo như tình hình Việt
Nam hồi thập niên 1890, lý do nào cũng đáng tin. Theo
một nguồn tin Ðông Ðức mới đây còn nói xa hơn
nữa rằng thân sinh ông Hồ từng bị đày
đi Côn Ðảo, một nhà tù nổi tiếng tàn ác,
nằm phía ngoài khơi bờ biển Nam Việt. Pháp cũng
như Cọng Sản Việt Nam đều không xác
nhận sự kiện nầy. Tuy nhiên có điều rõ ràng
thân sinh ông Hồ là người rất yêu nước. Và
cậu trẻ ấy đã học từ cha ông nỗi
nhục nhằn mất nước về tay ngoại bang. Vào
lúc tuổi Thành là người làm liên lạc cho thân sinh
ông và các người yêu nước cùng chí hướng
nhưng vì bố Thành phải lo kiếm sống cho gia
đình nên phải làn nghề thầy thuốc Bắc, là
một nghề y có tính truyền thống của người
Tàu cũng như Việt.
Nhận xét:
HCM sống không có tình nghĩa anh em cũng như gia
tộc. Ông bỏ nhà ra đi năm 21 tuổi (1911), để
cha già lại cho chị (tên là Thanh) phụng dưỡng,
để mồ mã ông bà lại cho anh ông (tên là Khiêm) chăm
sóc. Thậm chí ngôi mộ thân sinh HCM tại Cao Lãnh cũng
do một viên thiếu tá quận trưởng chính
quyền Việt Nam Cọng Hòa cho xây cất là vì cám
cảnh ông Nguyễn Sinh Sắc lưu lạc rồi
bỏ thân nơi đất khách quê người, không ai hương
khói, chăm sóc mồ mả. Cũng theo Hoàng Văn Chì nói
ở trên, năm 1945, nghe tin HCM về làm chủ tịch chính
phủ, chính là em ruột mình, nên Nguyễn Sinh Ðạt (trong
sách của B. Fall nói là Khiêm) ra Hà-Nội thăm em. Hai anh
em gặp nhau trong khoảng 1 giờ đồng hồ,
rồi người anh ra về. Từ đó về sau, người
anh không bao giờ đi thăm em lần thứ hai nữa.
HCM nói gì với anh mà anh ông có thái độ 'đoạn
tình' như thế? Bà chị HCM, ở vậy, không
lấy chồng để nuôi cha, theo chân cha lưu lạc
vào Nam để sớm khuya phụng dưỡng, khi cha
chết thì bà đã lớn tuổi, về quê. HCM không bao
giờ nhắc tới người chị. Theo phong tục
cổ Việt Nam, việc chăm sóc cha mẹ già là
việc anh em trai của ông, đâu có phải là trách
nhiệm con gái 'xuất giá tòng phu'. Ít ra, đối
với sự hy sinh lớn lao đó của người
chị, không những HCM phải cám ơn bởi vì có bà
chị ông hy sinh chăm sóc cho cha thì HCM mới rảnh tay
lo việc đảng, mà cả những đảng viên
Cọng Sản VN bây giờ giàu có, sung sướng, sang
trọng cũng phải nhớ công ơn của người
đàn bà quê mùa đó nữa!
Thực ra, thân sinh HCM không bao giờ có hoạt động
yêu nước, chỉ là do Cọng Sản tô vẽ nên
vậy mà thôi. Ông không học chữ Pháp là vì ông sợ
dân chúng chê cười. Năm 1956, khi tôi đang học
ở trường Quốc Học Huế (hồi đó
mới đổi tên là Quốc Học Ngô Ðình Diệm)
thì có lễ kỹ niệm 60 trường Quốc Học.
Cụ Hường ở bên cạnh nhà tôi là nội
tổ hai người bạn học (anh Trần văn V. và
chị Trần Thị Thanh H.) là người theo học niên
khóa đầu tiên của Trường Quốc học
nầy (niên khóa 1896-1897). Lúc đó ông Ngô Ðình Khả (thân
sinh Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm) là người
đứng ra lo việc mở ngôi trường nầy và
làm Chưởng Giáo (Hiệu Trưởng). Sĩ tử
ở trường Hậu Bổ (chỗ rạp ciné Hưng
Ðạo sau nầy) là trường đào tạo quan
lại của triều đình Huế, sau khi ra trường,
thay vì được bổ ra làm quan liền thì bấy
giờ phải qua học thêm một thời gian tại trường
Quốc Học. Học chữ Quốc ngữ là chính,
học tiếng Pháp là phụ. Theo cụ Hường (nói
trại chữ Hồng Lô Tự Khanh, kỵ húy không
gọi là Hồng mà Hường vì Hồng Nhậm là tên
vua Tự Ðức) thì khi đi học ở trường
Quốc Học, chỉ đem theo cuốn vở (tập) và
cây bút chì nên 'dấu cũng dễ'.
(lận vở vào trong áo dài ta). Tôi hỏi cụ Hường
sao phải dấu thì cụ bảo: 'Học chữ
Quốc ngữ, học chữ Tây là theo Tây, người
ta cười cho.' Sợ người ta cười thì
sợ nhưng cũng phải học vì muốn ra làm quan.
Xem thế, nói ông Nguyễn Sinh Sắc không chịu
học chữ Pháp vì lòng yêu nước là sai. Bấy
giờ ở triều đình có biết bao nhiêu người
không muốn hợp tác với Tây mà xin từ quan (như
Bùi Hữu Nghĩa chẳng hạn). Nguyễn Sinh Sắc
muốn làm quan là đi ngược lại con đường
những người yêu nước xin từ quan vậy.
Theo Ðặng Trần Thường trên báo Quê Mẹ có
tờ trình của Bộ Lễ về việc ông
Nguyễn Sinh Sắc, Tri Huyện Bình Khê say rượu
đánh chết dân. Thân phụ HCM không phải là người
say rượu mà thôi mà đúng ra là người 'nát rượu'
(có nghĩa là say sưa bê bết, hạng người
tệ lậu), chẳng tham gia hoạt động yêu nước
nào hết, chẳng qua vì kém tác phong, thiếu đạo
đức, độc ác nên mất chức tri huyện mà
thôi. Cọng Sản Ðông Ðức nói thân sinh ông HCM có
bị đày đi Côn Ðảo thì cũng là chuyện các
nhà viết sử Cọng Sản trong nước cũng như
ngoài nước đua nhau vẽ vời nịnh hót mà thôi.
Trích:
Ông ta vào Nam và thành công khi làm nghề thuốc
Bắc nầy. Năm 1952, Trần Huy Liệu, một người
hoạt động cách mạng và đồng chí thân
cận của Hồ nói với tôi rằng hồi thập
niên 1930, người ta còn thấy thân phụ Hồ Chí
Minh sinh sống ở Nam Việt Nam bằng nghề làm
thầy thuốc Bắc (có lẽ còn mang theo lòng yêu nước
và cả những tư tưởng tiến bộ của
con ông). Ông ta qua đời
vào giữa thập niên 1930.
Trần Huy Liệu nói: 'Tôi nhớ rấr rõ khi ông ta
qua đời; lúc ấy tôi đang ở trong nhà tù Pháp.
Theo Phạm Văn Ðồng thì có một thời gian
chị ông Hồ bị tù vì các hoạt động
của em bà. Bà mẹ của Hồ là một người
gốc nông dân hiền lành, chết sớm ở quê nhà.
Hồ Chí Minh không bao giờ nhắc đến mẹ ông.
Người ta chỉ đồn về việc Hồ
Chí Minh có vợ và có gia đình. Có thể là, khi giả
làm một thương gia Trung Hoa sau khi trốn khỏi
Hồngkông năm 1931, tạm thời ông ta làm như là người
có 'gia đình' để ngụy trang. Hồ và các đồng
chí của ông tránh các mối liên hệ gia đình. Trong
chiến tranh Ðông Dương, các tù binh người Pháp vài
lần thấy một người lính Lê Dương người
Ðức còn trẻ được Hồ Chí Minh nhận làm
con nuôi, vì vậy anh ta có tên là Hồ Chí Long. Ðiều
nầy cũng không có gì lạ, khi một người danh
tiếng ở Viễn Ðông nhận một người
trẻ tuổi làm 'con nuôi' (như trường hợp ông
Ngô Ðình Diệm vậy). Do đó, Hồ cũng có thể
nhận một người Ðức làm con nuôi. Tuy nhiên, sau
hiệp định ngừng bắn 1954, người ta không
còn thấy Hồ Chí Long.
Ít ra, có điều chắc là sự nghiệp cách
mạng của Hồ bắt dầu rất sớm. Trước
hết, ông hấp thụ một nền giáo dục căn
bản Hán Việt ở trường làng và ở thân
phụ ông, đậu phó bảng. Nhiều người nói
rằng sau đó ông Hồ theo hoc trường trung học
Vinh. Tuy nhiên, có bằng cớ cho thấy ông Hồ có theo
học một trường trung học tốt nhứt
Việt Nam, đó là trường Quốc Học ở
Huế. Có lẽ cuộc đời ông Hồ chịu
ảnh hưởng sâu sắc khi học tại ngôi trường
nầy. Ngôi trường nầy do ông Ngô Ðình Khả sáng
lập, môt viên chức cao cấp của triều đình
Huế và thân phụ ông Ngô Ðình Diệm của Nam
Việt Nam, vì mục đích còn tồn tại lâu dài
ở Việt Nam về một đường lối giáo
dục đào tạo ra những người có kiến
thức Tây phương theo quan điểm lành mạnh
của Pháp. Tên của trường học có chữ
Quốc là Nước, hàm ý Quốc gia, là có ý nghĩa
quan trọng và một danh sách học sinh gồm những
người tốt nghiệp ở trường nầy hay
bị đuổi học khỏi trường nầy trong
hơn bốn chục năm qua, được xem như là
những nhân vật lỗi lạc của Cách Mạng
Việt Nam vế cả hai phía bên nầy hay bên kia vĩ
tuyến 17 như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn
Ðồng và Ngô Ðình Diệm.
Theo Phạm Văn Ðồng, Hồ rời trường
Quốc Học năm 1910, chẳng đậu bằng
cấp gì vì những hoạt động chống Pháp
của Hồ, có thể coi như những hoạt động
của Hồ giữa tuổi 12 và 20. Các nguồn tin khác
trước đó chẳng nói gì hơn ngoài việc nói
Hồ bị đuổi học khỏi trường trung
học Vinh khi ông ta ở tuổi 12 hay 14. Sau đó, ông ta
phải tự kiếm sống. Ông ta đi về phía Nam và
làm trợ giáo tại trường Dac Thanh, một tư
thục ở Phan Thiết, một tỉnh nhỏ chuyên
nghề đánh cá ở phía Nam Trung Phần, trường
do một phần tử chống Pháp điều khiển,
cũng như trường Quốc học Huế, một
loại trường học dạy chương trình
hiện đại, không do Pháp điều khiển.
Gần hai mươi năm sau, một người khác cũng
đến Phan Thiết và cũng nổi danh, không phải
danh tiếng trong giới học thức mà lại thuộc
lãnh vực cầm quyền. Người đó là ông Ngô
Ðình Diệm.
Nhận
xét:
Chuyện học hành của Hồ Chí Minh khá mơ
hồ. Có thể khi còn nhỏ ông ta học chữ Nho như
cách giáo dục của người Việt thời kỳ
đó. Thậm chí những người sinh vào đầu
thế kỷ 20, sau HCM khoảng 10 tuổi, khi lối thi
cử theo lệ xưa chưa bỏ hẵn, thì vẫn còn
học chữ Nho. Ðối với việc cải cách giáo
dục mãi đến năm 1908, triều đình Huế
mới đặt thêm Bộ Học (Bộ Giáo Dục)
để lo công việc cải cách nầy và mãi đến
các năm 1915, 1916 mới bải bỏ lệ thi theo
kiểu xưa (thi hương, thi hội).
HCM có học chữ Nho nên khi ở Trung Hoa, ông
hoạt động tương đối dễ, và có
thể 'chôm' thơ của một ông cụ già Tàu đển
biến thành 'Ngục Trung Nhật Ký' của ông. Việc 'chôm'
thơ nầy cũng là vấn đề 'chiến lược
chính trị' chớ chẳng phải vì tinh thần văn
nghệ hay gì cả. Khoảng các năm 1956, 57 vì phong trào
'Trăm Hoa Ðua Nở' đi chệch đường
lối của đảng nên HCM cũng phải chứng
tỏ là người có khả năng văn nghệ để
lãnh đạo đất nước, nên phải ấn hành
một tập thơ của 'bác'. Kẹt là HCM không có thơ
hay nên phải 'đạo thi', nguyên văn một tập
thơ của một ông già Tàu mà HCM đã lấy
được khi ở chung một nhà tù hồi năm
1941. Lúc ấy HCM qua Tàu và bị quân Tàu Tưởng
bỏ tù. (Xem Lê Hữu Mục, 'Hồ Chí Minh không
phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký').
Không biết ai 'phong' cho HCM học trường
Quốc Học? Theo lời cụ Hường như tôi
dẫn trên, những ai học trường hậu bổ
xong mới qua học trường Quốc Học. Ðó là
thời gian trường Quốc Học mới mở
(1896). Việc học quốc ngữ và chữ Pháp lúc
đó chưa mở mang lắm. Xin xem đoạn trích sây
đây để nghiên cứu lại:
'Buổi đầu chỉ có các nhà truyền giáo sư
dùng chữ quốc ngữ để dịch những kinh
nhật tụng cùng sách giáo lý vấn đáp. Ðến sau
khi Nam Việt thành thuộc địa (1867), Chính phủ
đem chữ quốc ngữ dạy ở các trường
học, các nhà tân học bấy giờ như Trương
Vĩnh Ký, Paulus Của, cũng dùng chữ quốc ngữ
để viết văn. Ở Trung Việt bấy giờ
có ông Nguyễn Trường Tộ xin triều đình thông
dụng chữ quốc ngữ, nhưng trong buổi hán
học thịnh hành lời đề xướng của
ông không ai để ý đến. Ðến đầu
thế kỷ 20 thì các nhà học giả Bắc Việt như
Ðào Nguyên Phổ, Phan Kế Bính cũng bắt chước
văn sĩ Nam Việt dùng chữ quốc ngữ để
viết sách báo.
Năm 1906, chính phủ Bắc Việt đặt
Hội Ðồng Cải Cách Học Vụ (Conseil de
perfectionnement de l' enseignement) sửa lại chương trình
và bắt đầu dùng Việt Ngữ làm món giáo khoa
phụ. Năm 1908 ở Trung Việt đặt Bộ
Học để thi hành việc cải lương ấy.'
(Ðào
Duy Anh, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, trang 270)
B. Fall viết HCM có khi học ở trường Vinh,
có khi ở trường Quốc Học chỉ là nói
ẩu. Khi HCM lớn lên thì trường Vinh đã có đâu
để ông ta vào học ở đó! Nếu HCM còn
sống, người ta có thể không chấp thuận cho
HCM tham gia 'Hội Cựu Học Sinh Trường Quốc
Học' vì mỗi một lý do chánh đáng là ông ta có
học ở trường nầy ngày nào đâu (*)
Vì học hành kém nên khi ở Saigon, HCM kiếm
việc không ra. Nam Bộ bị Tây cai trị trước
(1867) nên việc học quốc ngữ và chữ Pháp phát
triển sớm hơn, chữ Nho kém thế đi. Tuy nhiên,
với cả ba thứ chữ ấy, cái nào HCM cũng
thuộc loại kém nên thành ra 'ông lỡ ông, thằng
lỡ thằng'. Bốc vác làm lao công thì cậu học
sinh Nguyễn Tất Thành không làm nổi mà làm thư ký,
chữ nghĩa như thế cũng làm không xong. Do đó,
HCM lại tìm đường đi tiếp. Ði đâu?
Có điều
đáng nói, với trình độ như thế, khi sang Pháp
HCM chịu khó học. Ông viết báo được
bằng tiếng Pháp là nhờ học với các người
cùng hoạt động với ông như Luật Sư Phan
Văn Trường cùng Sinh Viên Kỹ Sư Phạm
Thế Truyền, cũng như viết chung vối họ
một số sách báo, nhu cuốn 'Bản Án Chế Ðộ
Thục Dân Pháp' dưới một cái tên chung là
Nguyễn Ái Quốc. Nhưng vốn bản tính hay 'nhận
lầm', HCM nhận đó là tác phẩm của riêng ông
viết ra. Có lẽ B. Fall cũng biết việc nầy nên
cho rằng tên Nguyễn Ái Quốc không phải là tên cúng
cơm của ông ta. Ðó cũng là một cái tên chung chung,
'Nhiều nguồn tin Cọng Sản Tây phương thì nói
rằng tên khai sinh của ông là Nguyễn Ái Quốc, có
nghĩa là ông 'Nguyễn yêu nước'. Theo nguồn tin
của Cọng Sản Pháp, muốn nhấn mạnh đến
tính phổ biến của Hồ thì họ Nguyễn là
một họ rất phổ cập ở Việt Nam
giống như tên 'Jean' của người Pháp vậy. Nói
'Nguyễn Ái Quốc' thì cũng như người Pháp nói
'Jean le-patriot' (Jean Ái Quốc) vậy.'
Trích:
Có điều hơi đáng ngạc nhiên, các tài
liệu do Hồ viết ra, như một ít bài thơ
được làm khi ở trong nhà tù Trung Hoa và một
vở kịch, 'Con rồng tre', vở kịch coi như
thất bại vì từ đó đến nay chẳng nghe nói
tới nữa, ông ta chỉ có một tác phẩm quan
trọng 'Bản án chế độ thực dân Pháp'
ấn hành năm1926 là một tác phẩm nhỏ viết sơ
sài và ngờ nghệch, buộc tội thực dân Pháp.
Chính từ Phan thiết, Hồ quyết định
đi Pháp, để quan sát thế giới bên ngoài.
Tại đây, ông ta làm theo truyền thống người
Việt, trong khi anh ông ta ở nhà lo chăm sóc mẹ và
chị, thì ông với chút ít học thức, dễ có cơ
hội kiếm sống ở phương xa. Mùa hè năm
1911, ông ta rời Phan Thiết, Hồ theo học một khóa
ba tháng ở một trường thương mãi ở
Saigon hồi tháng 10 năm đó. Chẳng còn tài liệu nói
về việc ông ta học ở trường nầy nhưng
sau đó Hồ được thuê làm một chân phụ
bếp, và sau đó được xem là học làm bánh
ngọt, có thể coi như ông ta có học nghề đó
và khi tiếp xúc với Âu Tây, thì ôngta tỏ ra là người
rất khát khao và được tiếng là người sành
ăn và thỉnh thoảng có nấu nướng.
Về ngày ông Hồ đi Pháp
thì ngay các nguồn tin Cọng Sản cũng không
thống nhất. Theo vài nguồn tin, vấn đề
trở nên phức tạp là do không rõ được
thời gian từ 12 đến 20 tuổi Hồ làm gì,
ở đâu. Có tin là Hồ rời Việt Nam năm 1907,
những nguồn tin khác thì nói ông ta ra đi năm 1910,
hoặc 1911. Nguồn tin Ðông Ðức mới đây cho
biết thời gian ra đi của Hồ là mùa hè năm
1912. Nguồn tin nầy, như đã nói ở trên, có
thể đúng. Do đó, Hồ lên tàu Latouche Tréville làm
phụ bếp. Tránh tiếng cho gia đình khỏi xấu
hổ, ông lấy tên là Ba. Khi tới Marseilles, một
bến tàu lớn dơ dáy có nhiều đĩ điếm,
cũng như nhiều tàu lớn khác của hãng Messageries,
ông ta đi thăm vùng bờ biển Tây Phi và Bắc
Mỹ.
Việc ông ta tiếp xúc với những tên thực
dân da trắng ngay trên xứ họ và cái ão tưởng
về quyền năng ưu thế của họ bị tan
vỡ. Việc quan hệ
của Hồ với các thủy thủ khác từ Anh,
Cornwall và các hòn đảo vùng Frisian -ít học và hay tin
dị đoan như những nông dân Việt Nam- thực
hiện phần còn lại. Hồ thường kể câu
chuyện khi tàu tới châu Phi, người dân địa
phương bị buộc phải nhảy xuống
biển đầy cá mập để neo thuyền rồi
bị cá mập cắn chết trước con mắt
lạnh lùng của hành khách và thủy thủ. Tuy nhiên,
việc ông ta tiếp xúc với người Tây phương
cho thấy cá tính, khi ông ta mặc một bộ đồ
trắng như người Tây phương lần đầu
tiên đi trên bờ biển châu Âu thì ông ta được
gọi bằng 'ngài' thay vì bị gọi bằng 'mày'
ở Pháp người ta thường dùng để
gọi bọn trẻ con và ở Ðông Dương thì
thực dân Pháp dùng để gọi dân bản địa,
không cần biết người đó học thức như
thế nào.
Khi thế Giới Chiến Tranh Thứ I bắt đầu,
Hồ quyết định đi Luân Ðôn, làm nghề quét
tuyết tại một trường hoc ở đó,
tối thì làm phụ bếp cho khách sạn Carlton, sau đó
làm cho Escoffier, được coi là người giỏi
việc nhất trong đám. Con người Việt Nam nhanh
nhẹn và trầm lặng ấy, nói giỏi tiếng Pháp,
ưa thích công việc ở đây. Ông ta được
khuyến khích chọn một chỗ làm trong khi làm bánh
ngọt. Nhưng Hồ làm quen với các người châu
Á khác đang sống
ở Luân Ðôn và tham gia Hội Lao Ðộng Hải Ngoại
do Trung Hoa lãnh đạo. Tổ chức nầy cũng
giống như các nhóm khác ở Anh hồi đó, ủng
hộ người Ái Nhĩ Lan giành độc lập. Do
đó, lần đầu tiên, Hồ học được
bài học về vận động chống thực dân.
Nhưng vì chiến tranh tiếp tục, Hồ bị đuổi
việc và Hồ lại đi biển. Theo các nguồn tin
của Cọng Sản Bắc Việt, Hồ đi thăm
Hoa Kỳ và có một thời gian sống ở khu Harlem.
Theo Phạm Văn Ðồng, chính tại đây Hồ
thấy những việc dã man và xấu xa của chủ
nghĩa tư bản, bọn phá phách Ku Klux Klan, treo cổ
các người da đen. Ông ta cũng chứng kiến công
nhân Mỹ biểu tình chống chiến tranh đòi tăng
lương. Xúc động vì những gì trông thấy, ông
ta viết một cuốn sách nhỏ tên là 'Người dân
đen' nói về những vấn đề ấy khi
sống ở Moscow năm 1924, phê bình một cách gay
gắt việc phân biệt chủng tộc của người
Mỹ và người châu Âu.
Nhận xét:
Trước khi HCN đi Pháp, tình hình cách
mạng Việt Nam quả đang gặp khó khăn. Nhưng
chắc chắn HCM đi Pháp không phải vì 'tìm đường
cứu nước'. Tại sao?
Trước hết, thời
gian trước khi đi Pháp, HCM là người
thất chí. Khoảng thời gian 1910, HCM 20 tuỏi mà danh
phận chưa ra gì cả. Cha thì bị cách chức,
cuộc sống đang khó khăn. Việc thân sinh ông
đi lần vào và bỏ thây nơi xứ người
chứng tỏ ông không thể có con đường
trở về quê cũ sau khi bị cách chức tri
huyện. Con đường HCM đi lần vào Nam trước
khi thân sinh ông cũng vào Nam chỉ là con đường
đi kiếm sống như thân phụ ông sau nầy
vậy. HCM có dừng lại dạy học ở trường
Dục Thanh Phan Thiết. Tại sao việc dừng chân
ở đây hết sức ngắn ngủi?
1/- Ðồng lương không đủ sống
hay
2/- Trình độ học vấn thấp kém không
dạy học trò nỗi hoặc
3/- Tham vọng HCM cao quá, nơi nầy không
đủ cho ông 'vùng vẫy'.
Xem ra, lý do 1 và 2 là vững nhứt.
Con đường từ Saigon đi Pháp cũng
tương tự như thế. HCM không thể nào
sống nổi ở Saigon trong tình trạng 'lỡ ông
lỡ thằng'.
Lúc nầy, con đường 'du học' Pháp
mở ra cho nhiều người, nhất là người dân
Nam Bộ. Ngoài ra, nhiều người Huế cũng qua Pháp
du học để về... làm quan. Theo Chính Ðạo trong
cuốn sách viết về HCM thì trước khi HCM đi Pháp 'đã có 49
học viên bản xứ (Ðông Dương. Tg) ra trường.
Quá bán số học viên gốc Miên (25 người).Trong
số 17 người Việt có nhiều nhân vật khá
lừng lẫy : Bác vật Canh Nông Bùi Quang Chiêu, giáo sư
Lê Văn Chinh ở Quốc Tử giám, Thân Trọng
Huề hay Lê Văn Miên, họa sĩ nổi danh... '
Các nhà viết sử Cọng Sản cho rằng
HCM là người yêu nước và thức thời hơn
người đồng thời vì ông thấy 'cách
mạng bế tắc' nên đi Pháp để tìm
đường cứu nước. Ông Bùi Tín cho rằng
viết như thế chỉ nhằm 'tô vẽ lãnh tụ'
là đúng.
Phong trào Ðông Du do Phan Bội Châu, Kỳ Ngoại
Hầu Cường Ðể lãnh đạo phát triển
mạnh mẽ sau khi Nhật đánh bại hạm đội
Hắc Hải của Nga Hoàng tại eo biển Ðối Mã
năm 1905, Chiến công đó của Nhựt đã
thức tỉnh các dân tộc chậm tiến ở Á Châu.
Ban đầu, do sự giới thiệu của Khang Hữu
Vi và Lương Khải Siêu, Thủ Tướng Nhựt
Khuyển Dưỡng Nghị đồng ý giúp Việt Nam
đào tạo cán bộ bằng cách mở cửa hai trường
Ðồng Văn và Chấn Võ cho du học sinh Việt Nam vào
học ở đó. Tuy nhiên, sau 1908, Pháp lo sợ phong trào
nầy bèn nhượng bộ Nhựt một số
quyền lợi kinh tế. Vì vậy, Nhựt nuốt
lời hứa với các lãnh tụ Phong Ðào Ðông Du và
đuổi du học sinh Việt Nam ra khỏi nước
Nhựt. Phan Bội Châu và số đông du học sinh
Việt Nam sống tụ tập ở Hoa Nam, lúng túng vì chưa
có cách giải quyết nào thích hợp.
Vì vậy, khi HCM vào Saigon thì con đường Ðông
Du cũng không còn.
Vã lại, Ðông Du không phải là con đường
HCM muốn chọn. Nếu vì lòng yêu nước để
theo Phong Trào Ðông Du thì ông đã theo rồi, mấy năm
trước đó, khi HCM còn ở Huế. Lãnh tụ Phong
Trào Ðông Du là cụ Phan Bội Châu, một người quê
ở Nghệ An, cùng quê với HCM. Lại nữa, trong
Phong trào Ðông Du, có rất nhiều người Nghệ An,
trong số có một người vừa là gốc Nghệ
An, vừa là bạn của HCM. Ðó là ông Nguyễn Thức
Canh (Trần Trọng Khắc). Sau khi bị đuổi
khỏi Nhựt, Nguyễn Thức Canh qua học y khoa ở
Ðức; hàng tháng Phan Bội Châu phải lên Thượng
Hải để gởi tiền giúp Nguyễn Thức Canh.
Theo nhiều tài liệu, chính HCM biết việc Phan
Bội Châu đi Thượng Hải gởi tiền
nầy nên báo cho Tây biết để Tây bắt cóc
cụ Phan đem về xử tội ở Hà Nội năm
1925, lấy 250 vạn quan tiền thưởng. Làm như
thế, HCM vừa có tiền, vừa nắm được
đám du học sinh Việt Nam hiện đang lưu vong
ở Trung Hoa để tuyên truyền và thành lập
Việt Nam Thanh Niên Cách mạng, v.v...
Cho tới khi vào Saigon, HCM chưa chứng tỏ
được gì là người yêu nước, vẫn còn
là kẻ tìm đường mưu sinh. Tình trạng HCM
bấy giờ rất bi đát: Cha thì bị cách chức,
bản thân HCM không còn con
đường 'tập ấm' xin vào học trường
Hậu Bổ, HCM học hành như thế không hy vọng
thi đậu thi Hương để ra làm quan; gia đình
khó khăn tài chính. Do đó, Saigon là 'con đường cùng'
của HCM ở Việt Nam. Ông chỉ còn mỗi một hy
vọng, qua Pháp xin vào học trường Thuộc Ðịa,
ngày sau tốt nghiệp 'vinh qui' như quan trạng về làng.
Chỉ có vậy mà thôi.
Ðộng cơ đó khiến HCM vừa tới Pháp
đã làm đơn xin vào học trường Thuộc Ðịa
(Ðơn xin vào học của HCM đề ngày 15 tháng 9năm
1911), và ông lại thất vọng.
Tôi không cực đoan cho rằng HCM không phải là
người yêu nước. Ai lại chẳng có lòng yêu nước?
Nói cho thật, ai cũng có lòng yêu nước
hết, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc mạnh
hoặc yếu, tùy lúc, tùy nơi mà thôi. Nhìn vấn đề
như thế, nên tôi thấy khi HCM sau khi qua Pháp, rồi
tiếp tục làm bồi tàu đi châu Phi, đi Anh, đi
Mỹ, thấy thân phận đọa đày của các dân
tộc nhược tiểu bị trị, cũng như thân
phận người da đen ở khu Harlem Nữu Ước,
lại nhờ tiếp xúc, sinh hoạt chung với cụ
Phan Chu Trinh, luật sư Phan Văn Trường, sinh viên
kỹ sư Nguyễn Thế Truyền, cũng như các nhà
hoạt động cách mạng khách từ châu Phi tới,
lại được tư tưởng tiến bộ 'Thế
Kỷ Ánh Sáng' Pháp soi rọi, lòng yêu nước trong lòng
HCM thức tỉnh. Ðó là lúc ông có những hoạt động
chung với các vị Việt Nam nói trên khi ở Pháp
vậy, cũng từ đó, ông đi dần tới
chủ nghĩa Mác và đi Liên Xô năm 1924.
Liên Xô mở ra cho HCM một chân trời tươi sáng
mà ông không tìm được khi còn ở Việt Nam hay
khi ở Pháp.
Trước hết là việc học. Ở
Việt Nam HCM học hành chẳng ra gì, ở Pháp HCM xin vào
trường Thuộc Ðịa không được, còn
ở Liên Xô ông được cho vào học trường
Ðại Học Ðông Phương.
Ở Việt Nam và ở Pháp, HCM chẳng là cái
gì cả, nhưng ở Liên Xô HCM là cán bộ của Ðệ
Tam Quốc Tế, mà lại là cán bộ nồng cốt.
Ở Việt Nam và ở Pháp, HCM không thấy tương
lai mình như thế nào nhưng ở Liên Xô, ông là lãnh
tụ Cọng Sản Ðệ Tam Quốc Tế, phụ trách
Ðông Phương Vụ, ít ra cũng là lãnh tụ Ðông Dương,
chứ không phải là một chức tri huyện quèn như
bố ông tại triều đình Huế, mà lại là
một tri huyện bị cách chức, đuổi về.
Là một người mang mặc cảm thân phận
hèn mọn, con quan tri huyện bị mất chức,
học hành chẳng ra đâu vào dâu, 'lỡ ông, lỡ
thằng', lại là người đầy tham vọng nay
được Liên Xô cất nhắc lên như thế, tương
lai rực rỡ như thế, thì ông còn yêu nước
để mà chi, lòng yêu nước của ông cho ông
được cái gì? Còn yêu Chủ Nghĩa Cọng
Sản, ông được thì được nhiều quá,
quyền cao chức trọng, vinh quang tột bực. Có con
đường nào khác cho HCM cúc cung tận tụy
phục vụ cho Cọng Sản.
Người ta, khó có thể trở thành một người
hoàn toàn hy sinh hay hoàn toàn ích kỷ. Nếu còn chút lương
tâm thì người ta chọn con đường hy sinh có
lợi nhứt cho mình.
Huống chi HCM là con người mang nhiều mặc
cảm tự ti, mặc cảm cá nhân cũng như
mặc cảm dân tộc, và khi đã ăn phải bã
Cọng Sản thì con đường theo Cọng Sản có
lợi nhứt cho danh vọng, địa vị và
quyền lợi của ông, do đó có việc gì mà HCM không
làm để thủ lợi. Có điều, là một người
khôn ngoan, giảo hoạt và thủ đoạn, móng
vuốt thu rất kỷ để trở thành con mèo
hiền từ trước mắt những con chuột con.
Chỉ có ai, dấy vào thì mới rõ, như Nông Thị Xuân
vậy; nhưng tới khi biết ra thì đã quá muộn,
chỉ còn có con đường khiếu nại trước
Diêm Vương mà thôi.&
Trích:
'Người ta
chỉ đồn về việc Hồ Chí Minh có vợ và
có gia đình. Có thể là, khi giả làm một thương
gia Trung Hoa sau khi trốn khỏi Hồngkông năm 1931,
tạm thời ông ta làm như là người có 'gia đình'
để ngụy trang. Hồ và các đồng chí của
ông tránh các mối liên hệ gia đình.'
Nhận Xét:
Có khi người
ta quá thiên lệch khi nói về chuyện vợ con của
HCM. Napoleon có bao nhiêu vợ, bao nhiêu bồ? Người
đời khen chê việc nầy ra sao? HCM lấy vợ Nga
(không rõ tên) hay vợ Tàu (Tăng Tuyết Minh) có gì
phải nói nếu họ yêu nhau mà lấy nhau; tại sao
lại phải 'tạm thời ông ta làm như là người
có 'gia đình' để ngụy trang. Hồ và các đồng
chí của ông tránh các mối liên hệ gia đình.' trong
khi các tay lãnh tụ Cọng Sản thì lại nặng gia
đình hơn ai hết. Ðiều đáng nói là sự
giả dối, làm như 'chí công vô tư' hy sinh việc
nhà để lo việc nước, việc công nhưng
thực chất chỉ lo cho bản thân mình, gia đình mình.
Vấn đề là
sự tệ lậu trong mối tình tay ba Lê Hồng Phong,
Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Minh Khai. Ai thật sự là
chồng của thị. Phong tục Việt Nam làm gì có
chuyện một vợ hai chồng. Vốn dĩ HCM là người
giảo hoạt nên người ta lại càng thêm nghi
ngờ việc 'ai' chỉ điểm cho Tây bắt Lê
Hồng Phong để đến nỗi Lê Hồng Phong
bị chết thảm trong tù Côn Ðảo vì bệnh
kiết lỵ?
Việc HCM đối
xử với Nông Thị Xuân và con trai của thị thì
lại quá tệ, thế gian đã mấy ai làm được.
Con người như thế, làm chồng chưa xứng vì
giết vợ, làm cha chưa xứng vì có con không nuôi con
mà đem cho người khác nuôi, làm người chưa
xứng mà muốn làm 'cha già dân tộc' được
sao?
Ông Bùi Tín cho
rằng các tay viết sử, tuyên truyền Cọng
Sản đã 'tô vẽ lãnh tụ'. Vâng đồng ý như
thế nhưng HCM có biết ông đang được người
khác tô vẽ như thế hay không; hay HCM lại rất
khoái việc người khác tô vẽ mình? Một người
có lòng tự trọng có chịu để cho người
khác 'tô vẽ' mình thành một người 'vĩ đại'
hay không? Ở điểm nầy, HCM lại cũng sai
mất rồi, rõ ràng là kẻ 'háo danh'./
Hoang long hải/tuệ
chương
(*) Sau nầy
Trịnh Công Sơn cũng bắt chước như HCM.
(Theo anh NBD ở Canada) tì TCS khoe là đậu cử nhân
triết, trong khi ông Trịnh mới đău Tú Tài I
(hết lớp 11, chưa xong lớp 12) rồi vào học
trường Sư Phạm Qui Nhơn (niên khóa đầu
tiên 1961-62), khóa học 3 năm, đào tạo giáo viên
tiểu học. Ðậu Tú Tài 2 rồi, người ta thi vào
Ðại Học Sư Phạm, không ai 'học lui' như ông.
Có trường Ðại học nào nhận sinh viên chưa
tốt nhiệp trung học?