Những oan hồn tết Mậu Thân ở Huế
Trich tu
Dan Chu - hoànglonghải/tuệchương
(Lời
bạt của người dịch)
Tết
năn Dần, 1974, tôi đi công tác về xã An-Hòa, quân Kiên
Lương, tỉnh Kiên-giang. Xã nầy phần lớn nhà
cửa nằm quanh một ngọn núi, tên là núi Trầu. Núi
Trầu cách nhà máy Xi-Măng Hà-Tiên khoảng vài cây
số. Thời gian nầy, núi Trầu đang được
nhà máy Xi-Măng Hà-Tiên cử chuyên viên đến nghiên
cứu tại chỗ để khai thác đá vôi tại
đây, mở rộng thêm họat động của nhà máy,
do Cọng hòa Liên bang Ðức viện trợ.
Là ngày
Tết, nhà nào cũng đốt sáng bàn thờ Chúa, (phần
đông theo đạo Thiên chúa). Họ gốc gác là di dân
từ bắc vào khoảng đầu thập niên 1940, theo
các chương trình khai thác kinh tế của bọn
thực dân Pháp. Lạ một điều, nhà nào cũng có
giỗ, tuy không làm lớn như người Lương.
Hỏi ra mới biết Tết năm Tỵ, 1953, Tây
nhảy dù xuống núi Trầu, lùng từng nhà, tàn sát
đàn ông, con trai, những ai không chạy trốn kịp.
Vì Tây đi lùng bất ngờ, không đến bằng
đường bộ như đã từng xảy ra mà
lại nhảy dù nên hàng trăm người chết cùng
ngày, giỗ cùng ngày. Nói chuyện với những người
là còn nhỏ khi cha anh họ bị Tây bắn năm
ấy, nay trên dưới ba chục tuổi, những người
đàn bà góa bụa từ lúc ấy, nay đã năm, sáu
chục tuổi, mối căm tức, giận dữ thì cũng
nguôi ngoai, nhưng nỗi u-uất và niềm đau vô
tận về những người chết oan đó
vẫn còn trong giọng nói, trong tiếng thở dài khi tôi
hỏi chuyện. Thảm cảnh ấy làm tôi nhớ
Tết Mậu Thân ở Huế, năm 1968. Năm đó, tôi
chưa nhập ngủ, còn đi dạy, cũng ở
Huế.
Huế
ngày nay, suốt trong tháng Giêng, nhà nào cũng có giỗ.
Ðáng tội nghiệp hơn là thân nhân những người
bị giết, bị mất tích đâu biết người
chết bị giết ở đâu, ngày giờ nào. Họ
đành phải lấy ngày những người ấy
bị bắt ra khỏi nhà làm ngày kỵ cho người
quá cố. Người ta chỉ tìm được xác
chết của khoảng ba ngàn người, còn hai ngàn người
nữa biệt vô âm tín. Những người tìm
được xác đó, cũng không biết chết vào
ngày giờ nào. Tôi đến thăm gia đình một người
quen có người bị giết hồi tết Mậu Thân,
nghe kể lại mùa lụt năm 1968, người đi tìm
xác thấy giày dép, áo quần rách trôi theo một giòng khe.
Thân nhân nghi ngờ, bèn theo dấu tích đó mà đi ngược
lên, tới một nơi tên là khe Ðá Mài, người ta tìm
thấy hàng mấy trăm bộ xương người
chồng chất lên nhau. Người ta không thấy
vết đạn nơi những bộ xương nầy,
chỉ thấy sọ bị vở như bị búa hay
cuốc đánh vào đầu. Hai bên bờ khe là vách cao.
Trước quang cảnh như thế, người ta đoán
biết các nạn nhân bị giết bằng cách như
thế nào, rồi bị đạp xuống từ trên
bờ khe cao.
Người
chết trận ở Huế cũng nhiều, vì đó là
một trận đánh lớn kéo dài 26 ngày, một bên
chủ lực là hai Trung đoàn số 5 và số 6 của
Cọng Sản BV, gồm 8 tiểu đoàn, khoảng 7 ngàn
rưởi người, chưa kể bộ đội
địa phương, du kích và cán bộ; một bên là
năm đại đội gồm có Ðại đội
Alpha, Bravo, Delta, Fox, Charlie, của TQLC/Hoa Kỳ, Ðại
đội Hắc Báo, Tiểu đoàn 2/3 của VNCH,
Tiểu đoàn 41 và nổi bật nhất là Tiểu
đoàn 39/BÐQ của đại úy Võ Vàng. Số người
tử trận hàng ngàn, kể cả hai bên là điều
không tránh được. Cổ lai chinh chiến địa,
kỷ kiến hữu nhân hồi cũng là điều người
ta phải đau xót chấp nhận từ ngàn xưa. Oán
trách chăng? Oán trách ai khi người cầm vũ khí ra
đi dù muốn dù không cũng đành phải chấp
nhận số phận nghiệt ngã của mình. Tàn
nhẫn hơn nữa là tham vọng của kẻ cầm
quân: Nhất tướng công thành vạn cốt khô.
Lịch sử đã cho thấy như thế, và người
lính
Câu hỏi chỉ chừng đó, nhưng Vân Trường
hiểu ra lẽ vay trả của đời. Quan Thánh
đòi trả đầu cho ông, thế ai trả đầu
cho Văn Xú, Mã Ðằng, và biết bao nhiêu người
nữa rơi đầu vì thanh long đao của ông.
Cuộc đời là hư vô, giả tỉ như Vân Trường
có lấy lại được đầu chăng nữa
thì ông ta có được gì khi mạng ông đã mất.
Cả một cuộc đời xông pha ngang dọc, tăm
tiếng lẫy lừng, hiếu trung toàn vẹn cũng
đã mất thì tiếc chi một cái đầu, dù
một cái đầu có bộ râu đẹp được
gọi là nhiễm mi, cặp mắt sáng hơn sao mà nay
đã khép lại rồi. Vã lại, lấy đầu người
thì nay bị người lấy đầu, đó không
phải là lẽ vay trả thường tình trong cuộc
đời nầy hay sao. Dù có chết oai hùng như Mã
Viện nói: Da ngựa bọc thây chứ không chịu
chết trên tay đàn bà con trẻ
hay cầm súng ra chiến trường vì chẳng
đặng đừng thì trong cuộc đọ súng
giữa hai kẻ thù ngoài mặt trận, bắn chậm
thì chết là điều xưa nay đã có, buộc
phải làm và dù muốn dù không thì đó cũng là
một sự vay trả, mặc dù bao giờ người
ta cũng xót xa cho những người như Jim Soukup,
một TQLC từng tham gia trận đánh năm Mậu Thân
ở Huế nói: Nó giống như câu tôi khắc trên
hộp quẹt Zippo của tôi:
'Tìm sự sống trong cõi chết'. Tôi nhớ trong
cuốn sách Grammaire của Claude Augé có thuật lại câu
chuyện một vị tướng đi thăm chiến
trường sau khi trận đánh chấm dứt. Bỗng
có một thương binh địch nhắm vào vị tướng
mà bắn. Rất may, vị tướng không hề
hấn gì. Binh lính của ông tính xông vào giết người
lính bị thương đó đi thì ông ta cản
lại, biểu khiêng đi và chăm sóc, giống như
những thương binh khác, không phân biệt bạn thù.
Suy cho cùng, dù ở bên nầy hai bên kia lằn đạn,
có khi không là thù hận thì cũng phải giết người
để được sống, và ai ai cũng
phải làm cái nhiệm vụ của mình ngoài chiến trường
mà thôi.
Vấn
đề quan trọng là sự đối xử như
thế nào khi một bên là người có vũ khí và
một bên là người tay không. Kẻ địch khi
đầu hàng là họ đã hạ vũ khí, thì người
ta không được giết họ, không hẵn chỉ vì
luật lệ quốc tế mà thôi mà còn là vấn đề
nhân đạo, là văn hóa của nhân loại, của
một dân tộc hay chính một con người; huống
chi năm ngàn người bị chôn sống, bị
bắn, bị đập đầu chỉ là người
dân thường, hoặc dù có là người lính chăng
nữa thì người lính đó không còn cầm súng trên
tay, không có gì hiểm nguy cho người Cọng sản
nữa cả. Giết người như thế không
những tàn ác, thiếu nhân tính mà lại còn là một
trọng tội với nhân loại, với lịch sử.
Người
Cọng sản tàn ác bằng nhiều cách. Cẳng hạn
như bắn phá bừa bãi có chủ đích. Từ khi giành
được chính quyền năm 1945, Cọng sản
đã dùng chính sách chia để trị một cách tinh
vi. Họ gây chia rẽ Lương giáo, người có
học và dốt chữ, giàu nghèo, thành thị thôn quê,
v.v... Do đó, việc pháo kích bừa bãi vào thành phố
không phải là không có chủ trương. Họ không
đuổi dân ra khỏi thành phố như Pol Pot, cho
rằng đó là hạng người phi lao động, tiêm
nhiễm thói hư tật xấu của bọn tư
bản bóc lột, nhưng trong cách suy nghĩ và thù
hận đối với người dân thành phố,
giữa bọn Pol Pot Khmer Ðỏ và người Cọng
sản Việt Nam cũng không khác gì nhau; cái khác là
một bên cứ tiến chầm chậm mà ăn chắc
và một bên nóng vội mà thôi. Ngay cả việc
giết chết trẻ em cũng vậy. Giết một
đứa trẻ con 'ngụy' thì cũng như giết
một tên 'ngụy'. Một đứa con 'ngụy' lớn
lên sẽ thành một tên 'ngụy', khi nó đã thành
một tên 'ngụy' thì sẽ khó cho 'cách mạng' hơn.
Bẻ một búp măng dễ hơn đốn một cây
tre là vậy. - đây người ta không cần uốn măng
mà cần diệt nó tận gốc; đó là ý nghĩa 'cách
mạng triệt để' của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Hãy nghe Hoàng Cầm trong mấy câu thơ sau đây:
Lủi
thủi tìm miếng ăn
Bố: Cường hào nợ máu
Ðã
trả trước nông dân
Mẹ
bỏ con lây lất,
Ði
tuột vào trong Nam
Dù em bé sáu
tuổi mồ côi cha mẹ, không nơi nương tựa
nhưng chính sách đảng và nhà nước cấm, không
cho người dân thương xót đứa con của
địa chủ, phản động. Ai vi phạm chính sách
sẽ bị kiểm thảo:
Chị
phải đình công tác
Vì câu
chuyện trên kia
Buồng
tối lạnh đêm khuya
Thắp
đèn lên kiểm thảo
Nào liên
quan phản động
Mất
cảnh giác lập trường
(Em bé
lên sáu tuổi, Hoàng Cầm, Giai phẩm Mùa Thu, 1956)
Phần đông người Mỹ thờ ơ về
chính trị, ít hiểu biết Cọng sản nên tức
giận vì cảnh xảy ra ở Huế như sau:
Hầu
hết hỏa tiễn đều bắn không tới
mục tiêu, nổ bên trường giòng của Giám
mục. Trẻ con được tập trung vào đây làm
nơi ẩn trú nên khoảng 20 em bị chết, 40 bị
thương nặng. Một linh mục chạy qua ban
Chỉ huy của Gravel cầu cứu. Gravel gọi máy cho
đại tá Hughes, được mấy phút, y tá và xe
GMC đến cứu giúp. Các em bị thương nặng
đều được chở xuống bệnh viện
quân đội Hoa Kỳ Phú
Bài.
Binh lính
TQLC xúc động thấy rõ, còn Gravel giận muốn sôi
lên. Cọng sản chẳng tôn trọng luật lệ gì
cả, chẳng quan tâm người bị họ giết là
ai.
(The
Battle For Huế, Keith William Nolan)
**************
Bùi
Tín (Thành Tín), trong cuốn Mặt Thật của ông có bàn
đến vụ tàn sát ở Huế năm Mậu Thân, nhưng
tôi nghĩ tác giả chưa nắm vững trọn
vẹn vấn đề và không thiếu chủ quan trong
phần giải thích, nên tôi phải nêu ra đây. Dù sao,
trong số những người Cọng Sản, ông Bùi Tín
tỏ ra ít nhiều có lương tri hơn những người
Cọng sản khác.
Trong
cuốn Mặt Thật của Thành Tín (Bùi Tín) viết:
Trong
cuộc tiến công Mậu Thân 1968, cuộc tàn sát ở
Huế được dư luận thế giới hết
sức chú ý. Cho đến nay vẫn còn nhiều câu
hỏi xung quanh sự kiện nầy. Ðây là một
cuộc tàn sát có chủ đích? Vậy đích đó là
gì? Quy mô của cuộc tàn sát nầy đến đâu?
Vài ba ngàn hay 5, 6 ngàn người?
(Mặt
Thật, Thành Tín, trang 182)
Ðối với dư luận trong nước, nỗi
đau của người dân Huế đã rõ: Nỗi
đau của thân thuộc, bà con, chòm xóm, đồng ngũ,
đồng nghiệp, v.v... lan ra khắp nước rất
nhanh, chưa kể phương tiện tuyên truyền phát
thanh, báo chí, truyền hình của dân sự, quân sự,
v.v...
Ông
Bùi Tín còn nhắc lại rằng: Hồi tháng 2 và 3 năm
1973, trong trại Davis, tôi đã từng nghe tướng Ngô
Du rồi tướng Dư Quốc Ðống nêu lên vụ
tàn sát nầy.
Thật
ra, trong một cuộc chiến tranh ý thức hệ, dù là
nội chiến, nồi da xáo nấu thịt, thì vấn
đề nhân đạo bị đặt đằng sau
vấn đề chính trị. Cho nên, để đối
đầu với Cọng Sản, việc mấy ông tướng
VNCH có nêu vụ tàn sát người dân vô tội ở
Huế năm Mậu Thân đi nữa thì việc ấy cũng
mang màu sắc chính trị, tuyên truyền hơn là nhân
đạo. Ðó là điều đau lòng nhưng cũng
phải nói thật ra như thế. Cũng do đó mà
thấy tội nghiệp cho những người chết
oan ở Huế năm đó, đó là một điều.
Các TQLC khác
đứng bên cạnh lầu bầu: Chúa ơi!
Một mùi hôi thối khó chịu từ hầm bay lên,
một mùi thúi đến lộn ruột bao trùm hết không
khí chung quanh, lên tới bầu trời thấp đầy
mây và mưa phùn. Dưới đó, bên dưới giày dép
là hàng trăm xác người. Họ là người dân
miền Nam Việt Nam, chết chồng lên nhau, nằm ngang
nằm dọc, tưởng như níu lấy nhau khi người
ta xã súng máy vào họ. Dye có nghe người ta đồn
Cọng sản tàn sát hàng loạt người dân Huế,
nhưng anh ta không bao giờ nghĩ có thể có một
cảnh tượng như thế nầy. Thân nhân và
bạn bè của người chết đang tìm cách để
tìm người thân trong đám xác chết hỗn độn
bắt đầu thối rữa ấy. Họ lấy khăn
tay để bịt mũi miệng lật từng xác
chết tìm người thân.
Không bao giờ
Dye có thể quên được hình ảnh ấy. Một
năm sau, anh ta cũng nghĩ đến hình ảnh ấy
khi vụ Mỹ Lai được đăng trên báo. Dye không
thể tin được, khi báo chí làm ồn ào vụ
Mỹ Lai nhưng lại chẳng bao giờ nói đến
việc tàn sát của quân CSBV ở Huế.
Báo chí Mỹ làm
ồn ào vụ Mỹ lai (Cọng sản gọi là Sơn
Mỹ) nhưng lại quên đi vụ tàn sát ở
Huế. Quên hay cố tình quên? Tác giả cho đó là
điều bất công. Có lẽ vì vậy ông ấy
lại nhắc thêm một lần nữa:
Tuy nhiên,
việc tàn sát đó lại không được giới báo
chí thế giới quan tâm thích đáng bởi vì việc
khám phá ra hàng ngàn người chết nầy xảy ra trùng
hợp với vụ tàn sát ở Mỹ Lai do một trung
đội thuộc quân đội Mỹ thực hiện.
Lại còn có nhiều vấn đề khác nữa:
Những người chống chiến tranh ở Mỹ
hồi ấy hoàn toàn không tin Cọng sản có những hành
động tàn ác đến như thế. Chẳng
hạn như nhà nhiếp ảnh Griffiths năm 1971 viết
rằng người Mỹ đã dựng nên toàn bộ
vụ tàn sát ở Huế nhằm tạo nên 'một
chiến dịch tuyên truyền nói rằng thương vong
(dân sự) trong cuộc chiến ở Huế, hầu
hết là do người Mỹ xử dụng súng đạn
một cách bừa bãi chưa từng thấy bao giờ,
rồi đổ Cọng sản tàn sát người dân.'
(Sđd
K.W.Nolan)
Vụ
tấn công tết Mậu Thân xảy ra toàn khắp
miền Nam Việt Nam, ngay cả tòa đại sứ
Mỹ tại Saigon cũng là một mục tiêu và bị
đặc công Cọng sản chiếm tầng trệt
gần trọn một buổi sáng làm cho phong trào phản
chiến ở Mỹ lên rất cao, tạo thành một
trong những lý do khiến cho tổng thống Mỹ Lyndon
B. Johnson không ra ứng cử nhiệm kỳ kế tiếp
nữa. Người Mỹ tự cho là một nước
văn minh, có nghĩa là họ không thể chấp
nhận một nước lớn đem quân đánh
một nước nhỏ dù bất cứ với lý do gì.
(Ðiều nầy trở thành tiền lệ buộc Trung
Cọng phải tự giới hạn thời gian và không
gian khi tấn công Việt nam hồi tháng hai/1979). Hơn
thế nữa, một dân tộc tự gọi là có văn
hóa thì không thể có chuyện trung úy Caley chỉ huy
một trung đội tấn công vào làng Mỹ Lai,
gặp ai giết nấy, không phân biệt già trẻ
lớn bé đàn ông đàn bà. Chưa kể là những tên
chủ chốt trong đám phản chiến, những tên
sợ đi quân dịch phải qua Việt Nam chiến
đấu, những tên bị Cọng sản tuyên
truyền và xúi dục, lợi dụng vụ Mỹ Lai
để làm to chuyện, gây áp lực buộc chính
phủ Mỹ phải thay đổi đường
lối chiến tranh Việt Nam khiến có người cho
rằng quân đội Mỹ không thua ở chiến trường
mà thua ngay trên đường phố Mỹ. Người
Mỹ có văn hóa cao, không chấp nhận cuộc tàn sát
do người Mỹ thực hiện; thế họ
chấp nhận cuộc tàn sát ở Huế vì cuộc tàn
sát không do người Mỹ làm ra chăng? Hay đơn
giản họ chỉ muốn làm to chuyện Mỹ Lai
để thanh niên Mỹ khỏi ra chiến trường,
con em họ khỏi đi chiến đấu ở Việt
Nam và bị thương vong là điều rất dễ
xảy ra.
Vị giáo
sư Anh văn của tôi, cựu viện trưởng
viện đại học Clark là một viện đại
học nổi tiếng trên thế giới, nơi nhà phân
tâm học Sigmund Freud (1856-1939) đến dạy ở đây
một thời gian dài, kể cho tôi nghe hồi năm 1968,
lúc ông còn làm viện trưởng, khoảng 50 ngàn sinh viên
toàn khắp nước Mỹ về thành phố nầy
(Worcester) tổ chức một cuộc biểu tình phản
chiến rất lớn. Ông ta là một trong ba vị
viện trưởng đại học ở đây lên
diễn đàn, kêu gọi rằng nay đã đến lúc
phải
Nước
Mỹ là một quốc gia dân chủ, phương
tiện truyền thông đầy đủ, phong phú,
vấn đề gì người ta cũng có thể nghe
hết, biết hết vậy mà họ làm ngơ trước
vụ tàn sát ở Huế. Quả
thật là rất nhiều, phải nói rất nhiều, phóng
viên Mỹ đầy rẫy định kiến ngay
với chính phủ của họ và với chính phủ cũng
như nhân dân Miền Nam VN, và vô lương tâm. Ðưa
ra vụ tàn sát ở Huế là không có lợi cho phong trào
phản chiến ở Mỹ nên họ làm ngơ, chưa
kể có kẻ còn xuyên tạc như nhà nhiếp ảnh
Griffiths năm 1971 viết rằng người Mỹ đã
dựng nên toàn bộ vụ tàn sát ở Huế nhằm
tạo nên 'một chiến dịch tuyên truyền nói
rằng thương vong (dân sự) trong cuộc chiến
ở Huế, hầu hết là do người Mỹ xử
dụng súng đạn một cách bừa bãi chưa
từng thấy bao giờ, rồi đổ Cọng
sản tàn sát người dân.'
Hơn
thế nữa, Bùi Tín còn đặt câu hỏi: Ðây là
một cuộc tàn sát có chủ đích? Vậy đích
đó là gì?
Ông không
mất công tìm cho ra chủ đích của vụ tàn sát mà
chỉ nói một cách mơ hồ rằng:
Họ
bảo nhau đúng là dân ngụy rất nặng cân, dân
kinh đô cũ
Những người
trong chính quyền hay quân đội miền Nam VN bị
Cọng sản coi là địch, là kẻ thù. Việc
ấy đã rõ, nhưng ai giáo dục, tuyên truyền, khích
động dân chúng để nhìn người giàu (như
Bùi Tín nói là tủ chè sập gụ, hoành phi đối
liễn,v.v...) nhìn những trí thức, giáo sư, giáo viên,
sinh viên học sinh là ác ôn? Không phải là Cọng
sản hay sao? Chung qui, cũng tại Cọng sản hết,
Cọng sản chia rẽ dân tộc, ngụy tạo, xúi
dục, gây thù hận, căm thù giai cấp, giàu nghèo, thành
thị thôn quê, v.v... từ đó mới nảy sinh ai không
phải gốc bần nông, cố nông thì đều là
kẻ thù hết! Ðối với Cọng Sản đã là
kẻ thù thì họ giết, chỉ gọn có một
chữ giết là xong chuyện, không cần biết kẻ
thù đó hiện tại có nguy hiểm gì cho họ hay không,
kẻ thù đó hiện có vũ khí hay chỉ là tay không.
Giết là tiện và gọn nhất, giết là phương
cách cách mạng triệt để nhứt.
Chẳng
hạn như giữa hai kẻ thù có một con dao. Nếu
người nầy không thể dùng con dao đó thì người
kia sẽ dùng nó để đâm mình.
Trong vụ
tàn sát tết Mậu thân, tôi biết có 5 cụ già, người
nào cũng trên 70 chục tuổi, trước đó tôi thường
đến thăm. Họ đều bị Cọng sản
bắt đi mất biệt, cũng như vài sinh viên,
học sinh, và cả một nữ học sinh cũ của
tôi bị chôn sống (xem phụ bản). Tôi không đặt
dấu hỏi tại sao họ bị giết. Nếu
Việt Nam không có đảng Cọng sản mà họ
bị giết trong một cuộc nội chiến không
phải vì ý thức hệ thì đó mới là vấn
đề. Còn họ bị giết vì Cọng sản, thì
có gì phải thắc mắc. Không lý con mãng xà tinh trong
truyện Thạch Sanh Chém Chằng bắt người
về để nó... phục vụ mà không phải để
ăn thịt hay sao?!
Ông Bùi Tín
không cần phải tìm cho ra ai ra lệnh giết người
dân Huế? Người ra lệnh không phải là tướng
Cọng Sản Trần văn Quang, tư lệnh mặt
trận Huế mà sau nầy, nhà sử học Mỹ Stanley
Karnow không dám mời qua Mỹ vì sợ phản ứng
của người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ,
hay đại tá Cọng Sản Lê Minh, bạn của Bùi Tín,
người chỉ
Riêng Hoàng
Phủ Ngọc Tường, cho tới lúc gần chết,
y vẫn còn thù hận người dân Huế đã 'phản
bội' y, cho nên HPNT mới gọi những người
bị tàn sát năm Mậu Thân là 'những con rắn
độc'. Tại sao y không
thấy trong số những con rắn độc ấy, có
người là bà con của y, là bạn bè y, thậm chí
cả cụ Nguyễn Kháng, giáo sư Pháp văn trường
Quốc Học là thầy dạy cũ của y khi y
học ở đây. Trong vụ Phật giáo tranh đấu
năm 1966, nào là Bàn thờ xuống đường, trò lăng
nhăng Hội đồng Nhân dân Cứu quốc, lực
lương nầy, lực lượng kia tranh đấu,
v.v... thì HPNT đã tuyên truyền Cọng sản trong đám
học trò của y tại trường Quốc học
Huế; y và em y là Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Ðắc
Xuân tổ chức hoạt động nội thành cho
Cọng sản, v.v... Cái gọi là Hội đồng Nhân
dân Cứu Quốc của Phật giáo bị rất
nhiều phe nhóm, đảng phái chui vào đó núp bóng
hoạt đông, kể từ Việt Quốc, Ðại
Việt, cho đến Phật tử, tín đồ Thiên chúa
giáo, lưng chừng, thiên tả, đầu cơ trục
lợi, cả Xịa và cả Cọng sản nằm vùng.
Khi quân Thiệu Kỳ ra Huế dẹp bàn thờ, bị
vở ổ, cả ba tên nói trên đều chạy lên
chiến khu. Do HPNT, HPNP và NÐX báo cáo lập công, Cọng
sản tin rằng nếu chiếm được Huế, dân
chúng sẽ đứng lên hoan hô, ủng hộ vì Huế
là nơi xưa nay có truyền thống đấu tranh
chống Pháp, chống chế độ Ngô Ðình Diệm,
chống Thiệu Kỳ, chống Mỹ v.v...
Cọng
sản bị hớ ở chỗ nầy. Huế quả
thực có đấu tranh chống Pháp, chống chế
độ Ngô Ðình Diệm nhưng lại không chống
Mỹ và không hoan nghênh Cọng sản bao giờ.
Bùi Tín
thấy rõ điều đó (Có nghĩa là sau cuộc
tấn công tết Mậu Thân, Cọng sản rút kinh
nghiệm, nhất là qua báo cáo của Tường, Phan và
Xuân), ông viết: Thêm nữa là hồi ấy, trong không khí
căng thẳng đột nhập thành phố, thấy dân
không nổi dậy, lại còn bỏ chạy, rất ít người
đón chào, phối hợp giúp đỡ bộ đội,
nên bộ đội nhập thành phố có thành kiến
với dân Huế.
Gia Hội
là khu Cọng sản kiểm soát hoàn toàn và lâu nhứt,
26 ngày, bọn Tường, Phan và Xuân cũng thành lập
các lực lượng Giáo chức tranh đấu, công
chức tranh đấu, quân nhân tranh đấu y như hai
năm trước, thời kỳ Hội Ðồng Nhân Dân
Cứu quốc vậy. Thay vì hoạt động hăng hái
như trong các thời kỳ đấu tranh trước, bây
giờ các thành viên tranh đấu bỏ trốn hầu
hết, dù Cọng sản hăm he, dọa nạt,
khủng bố đủ điều. Thái độ
bất hợp tác ấy khiến cho Tường, Phan, Xuân
tức giận và căm thù người dân Huế là
đương nhiên.
Tường,
Phan thuộc dòng dõi quan lại, ông hoàng giáp Họ Hoàng người
làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị,
bà con họ với cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, thi
sĩ Cuồng Vũ, nhà văn Quang Ðạo và ông Hoàng
hữu Quýnh (tác giả Tôi Bỏ Ðảng). Do Pháp xâm lược,
thời thế thay bậc đổi ngôi mà dòng họ y
suy tàn. Thân phụ Tường-Phan chỉ đậu
bằng sơ học yếu lược (lớp ba tiểu
học) và làm y tá. Trong dòng họ của Tường-Phan
có bà Hoàng Thị Loan theo Cọng sản từ hồi còn
trẻ, trước cả Lê Duẫn, có tham gia cuộc
họp mặt những nhà cách mạng lão thành do Lê
Duẫn tổ chức năm 1976 ở Hà Nội, sau khi
chiếm xong miền Nam Việt Nam.
Bọn y cũng tin tưởng Lê Duẫn là người
đồng hương (làng Bích La, phủ Triệu phong,
tỉnh Quảng Trị) để dễ thăng tiến
trong 'đường Kách mạng'. Tuy vậy, bản
chất Tường thì tiểu tư sản mà lại
ưa ba hoa Cọng sản, hoàn toàn khác với Vĩnh Linh,
cũng hoạt động cho Cọng Sản và cũng
dạy ở trường Quốc Học, nên nhiều người
không ưa Tường. Trong khi đó thì y lại tự
cao và miệt thị đồng nghiệp y ở trường
Quốc Học vì không thuộc dòng dõi quan lại và không
có tinh thần cách mạng (Cọng sản). Thực ra,
bố y là
Bao giờ
y cũng hận thù người Huế, họ không đứng
lên hoan nghênh Cọng sản mà còn bỏ chạy. Y gọi
những nạn nhân bị thảm sát trong dịp tết
Mậu Thân là những con rắn độc. Chữ ấy
dùng cho y thì đúng hơn. Dạy học, y dùng toàn
một giọng điệu thiên Cọng, quá khích, đào
tạo nên một lô học trò bây giờ đang sống
ở Mỹ chủ trương hòa hợp hòa giải dân
tộc, y tổ chức được một hệ
thống chỉ điểm trong số học trò của y,
ghi nhận từng người, tên tuổi, chức vụ,
địa chỉ, v.v... nên ngay hôm đầu tiên chiếm
thành phố Huế, những người nầy liền
bị bắt và bị giết tức thì. Ðể rõ hơn,
xin trích một đoạn sau đây trong sách 'The Battle For
Hue' của K.W. Nolan:
Chiến
tranh đã đến với người dân Huế, và
họ đã trả một giá đắt. Mặc dù thành
phố đã vươn mình đứng lên giữa
cảnh tàn phá, hình ảnh máu lửa của trận
chiến không sao hàn gắn được. Tệ hơn
cả vấn đề người chạy loạn,
những thương vong vì tên bay đạn lạc, là
vấn đề Việt Cọng và quân CSBV đã tàn sát
nhiều người khi họ chiếm thành phố nầy.
Qua nhiều năm, với nhiều chứng cớ thu
nhặt được, người ta đã
Bên
cạnh vườn hoa Bến Ngự là một dãy nhà ba căn,
căn giữa và bên trái là nơi cư ngụ gia đình
của hai giáo sư, bên phải là nơi ông Võ Phú,
Cảnh sát trưởng quận Thành Nội cùng gia đình
ở. Ngay sáng mồng 2 Tết (Cọng sản chiếm thành
phố Huế đêm 1 Tết), có một cậu học trò
khoảng 14, 15 tuổi, mặc áo may-ô trắng dẫn hai cán
bộ Cọng sản đến ngay nhà ông Võ Phú để
bắt ông ta. May mắn, ông ta đề phòng trước
nên leo vách tường qua trốn ở nhà sau ông giáo sư
bên cạnh, thoát chết. Cọng sản cũng vào
bắt ông Lê văn Thị, phó tỉnh trưởng cách
nhà ông Võ Phú một cái hàng rào. Ông Thị cũng bỏ
trốn, sau đó bị bắn chết ngay ngã tư
cạnh vườn hoa Bến Ngự.
Rõ ràng trước
khi vào chiếm thành phố Huế, Cọng sản đã có
sẵn danh sách những người họ cần bắt,
giết.
Như
đã nói ở trên, khi chiếm Gia Hội xong rồi,
Cọng sản cũng thành lập những cái gọi là
Lực lượng Tranh đấu giống như thời
kỳ Hội đồng Nhân dân Cứu quốc. Sau đây
là một buổi họp điển hình đầu tiên
của Lực lượng Giáo chức Tranh đấu do
một người bạn tôi kể lại.
Theo
lệnh gọi, tất cả các giáo chức phải có
mặt tại trường Trung Học Gia Hội, đây là
ngôi trường mới xây thời Ðệ Nhứt
Cọng Hòa. Buổi họp được tổ chức
trong một lớp học, các giáo chức ngồi trên băng
ghế học sinh, phần đông họ đều còn
trẻ và cố ngồi gần ông Cao Xuân Duẫn, giáo sư
Anh văn, bậc thầy của các ông thầy trẻ
nầy để được an tâm vì ai cũng lo, không
biết rồi ra sẽ như thế nào. Có nhiều người
không phải là giáo chức trà trộn vào đây, không
phải họ là cán bộ Cọng sản mà phần đông
là sĩ quan, phục vụ xa Huế, về nghỉ phép
Tết, giả tham gia vào lực lượng giáo chức hơn
là lực lượng sĩ quan để tránh Cọng
sản để ý. Trên bàn thầy giáo, một cán bộ
mặt mày nghiêm nghị, mang kiếng đen, đang đọc
sách báo gì đó.
Bỗng có
một du kích dẫn một thanh niên mặc áo màu lam, tay
bị trói giật cánh khuỷu, đi ngang lớp học,
vào cửa trước ra cửa sau, trước bàn
thầy giáo và trước mặt mọi người.
Khoảng 5 phút sau, nghe phía vườn sau có 3 tiếng súng
AK nổ. Xong, người
du kích lúc nảy quay trở vào, đưa nắm tay chào
anh cán bộ đang ngồi tại bàn thầy giáo, nói:
- Báo cáo
đồng chí, thi hành xong.
Người
cán bộ nói: Ra xem lại y đã chết chưa?
Anh du kích
đi ra vườn sau, một chốc quay vào nói: Báo cáo đồng
chí, chết rồi.
Trước
quang cảnh như thế, ai nấy đều lạnh mình.
Bấy
giờ, anh cán bộ đứng lên tuyên bố lý do
buổi họp và bầu ban chấp hành. Danh sách đã
soạn sẵn, cán bộ đọc:
Anh
Nguyễn văn... chủ tịch,
Kêu đến
tên ai thì người đó đứng lên cúi đầu
vâng dạ, chẳng ai dám có ý kiến gì.
Khi
chiếm được thành phố Huế, đài phát
thanh Hà Nội và đài phát thanh Giải phóng Miền Nam,
rêu rao là dân Huế đã nổi dậy giành chính
quyền, hoan hô và tham gia thành lập chính quyền cách
mạng. Trong thực tế, dân Huế hoan hô và tham gia
bằng cách như vậy đấy, hèn chi ai lọt vào
tay Cọng Sản thì chỉ có một đường
chết mà thôi.
Người
dân Huế vốn trọng sự học và tôn kính
thầy cô. Trong trường hợp HPNT, y từng là
thầy giáo, dạy ở Quốc Học trong
khoảng từ 1960-1966. Ngày nay, đã nhắm mắt xuôi
tay, y còn được gì trong lòng người dân Huế?
Tha thứ hay thù hận? Nếu người Huế thù
hận y thì có sai chăng khi y là thầy giáo, không đem
đạo đức của thánh hiền truyền thụ
cho học sinh mà chỉ reo rắc toàn thù hận cho đám
học trò?
Ca dao đời
hai bà Trưng có câu:
Nhiễu
điều phủ lấy giá gương,
Người
trong một nước phải thương nhau cùng
Người
Cọng sản Việt Nam cũng là người Việt, cùng
nguồn gốc, tổ tiên, nhưng họ chẳng thương
đồng bào bao giờ, mặc dầu vẫn thường
rêu rao là đồng bào (cùng một bọc sinh ra), là nhân
dân. Họ đã bị Cọng sản hóa, đã bị
hận thù che lấp mọi cách nhìn. Trong khi đó thì người
Mỹ, dù khác chủng tộc, nhưng vì bác ái, nhân đạo,
trong trận đánh Huế, họ lo cho người dân
Huế hơn cả người Việt với nhau.
Ngoài nhiệm vụ chiến đấu đánh đuổi quân Cọng Sản ra khỏi thành phố, binh lính TQLC Hoa Kỳ còn phải giúp đỡ người chạy loạn, cung cấp cho họ gạo và chăn mền, quần áo; chôn cất những người chết, phần nhiều là xác chết quân CSBV, quét dọn chùi rửa bệnh viện Trung ương Huế để bệnh viện có thể hoạt động bình thường trở lại.
Quả
thật, khi chiếm thành phố, quân CSBV không lưu tâm gì
tới những cơ quan y tế, xã hội, coi như
đói no, bệnh hoạn thương tích v,v... tự người
dân lo liệu lấy. Hơn thế nữa, họ lấy
hết số thuốc trong các tiệm thuốc Tây và trong
các bệnh viện Huế đem lên chiến khu.
Về phía
Việt Nam Cọng Hòa, chính quyền địa phương
cấp tỉnh không có tinh thần và cũng thiếu
khả năng đảm đương nhiệm vụ, thành
ra phía người Mỹ phải gánh gồng tất
cả mọi chuyện.
Là
những người lính trẻ, họ không thể không có
những hành vi trẻ con buồn cười. Tuy nhiên, so
với các thứ quân viễn chinh từ xưa, và gần
nhất là với quân Pháp ở Ðông dương, họ
tự chứng minh được là những con người
có văn hóa nhất:
Carter và
mấy người lính TQLC vượt mấy hàng cây
thấp và tới một ngôi chùa nhỏ
ở giữa một khu vườn. Họ đứng
nhìn một lúc. Chùa thật đẹp, mái cong lợp ngói.
Nhang trong bình chưa đốt. Carter thấy tượng
Phật ngồi trên bàn thờ, anh ta rất muốn
lấy tượng Phật đó để làm kỷ
niệm. Tuy nhiên, anh ta biết phải dấu ở đâu
đó trong đồ dạc suốt 9 tháng trước khi
về nước. Vã lại, anh ta nghĩ nếu chôm pho tượng
ấy, Chúa sẽ không cho
anh là người làm điều phải.
Từ
điểm có văn hóa đó, họ không cướp bóc,
hãm hiếp phụ nữ như quân Tàu ngày xưa hay quân
viễn chinh Pháp vài chục năm trước, binh lính
Mỹ để lại trong lòng người dân Việt
Nam nói chung và Huế nói riêng rất nhiều thiện
cảm. Từ điểm đó, họ được người
Việt giúp đỡ, che chở:
Có một
lần Schamberger đi vào MACV, một em bé gái tên là Li báo
động cho anh ta đừng đi vào con đường
em bé đưa tay chỉ vì con đường đó, như
em bé nói: 'beaucoup Vixi'. Lời báo động của em bé
đã cứu mạng anh ta; nhiều năm sau anh ta còn
giữ ấn tượng sâu sắc đó nên khi sinh con gái,
anh cũng đặt tên con anh là Sherri Li.
Trong vụ
tàn sát người dân thường ở núi Trầu như
tôi trình bày ở trên, linh mục Nguyễn Thượng
Hiền, chánh xứ họ đạo An Hòa có giải thích
cho tôi hay là hồi ấy, 1953, tỉnh ủy Long-Châu-Hà
(Long Xuyên, Châu Ðốc, Hà Tiên) của Cọng sản đóng
tại núi Trầu, lẫn lút trong dân chúng. Hành động
quân sự của Pháp khi cho lính nhảy dù xuống núi
Trầu là để đánh phá cơ quan nầy của
Việt Minh. Với Pháp, đàn ông, thanh niên tất cả
đều là Việt Minh nên họ bắn giết tất
cả những ai thuộc thành phần nầy. So với
vụ Mỹ Lai, binh sĩ Mỹ tàn ác hơn vì họ
giết cả trẻ em, đàn bà, mức độ là
ở một làng. So với vụ tàn sát ở Huế
tết Mậu Thân thì số lượng người
bị giết cao hơn nhiều bởi vì hận thù
chất ngất, cao hơn cột cờ Ngọ Môn, cao hơn
cả rặng Trường Sơn.
Tuy nhiên, có
đều mai mỉa, trong ba cuộc tàn sát nói trên, vụ
tàn sát ở núi Trầu dù sao cũng tương đối
ít dã man hơn cả, mặc dù trong binh lính nhảy dù Pháp,
không ít là người Ma-Rốc.
Worcester,
Mass ngày 10 tháng 5/2002
hoànglonghải/tuệchương