Cần phải viết lại lịch sử cho đúng: Cộng sản Việt nam, Công hay tội?
Trich tu Dan Chu - Hoang long hai/tuệ chương
Cuộc
chiến đấu nầy vẫn chưa phân thắng
phụ,
Ta vẫn còn đây và sắt thép còn kia.
Chết chóc thầm âm, cốt nhục chia lìa,
Ta vẫn sống và không hề lẫn lú
Nguyễn Chí Thiện.
Hai cái tội lớn của Cộng sản:
Một là cố thưc
hiện một chủ nghĩa ão tưởng
Hai là đưa
dân tộc vào cuộc nội chiến và giết hại,
thủ tiêu những người yêu nước.
Hãy luận đến tội thứ nhứt trước.
Trước tình hình
đất nước suy sụp và dân chúng nghèo đói như
hiện nay, Cộng sản Việt Nam không thể nào bưng
bít và chối cải được. Rõ ràng đó là
một cái tội: Tội cai trị sai lầm, thiếu
khả năng cũng như đạo đức, tác phong.
Hộ vơ vào chuyện cũ để kể công,
rằng chính Cộng sản VN đã có công đánh đuổi
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược,
giành độc lập cho dân tộc. Chính Bùi Tín trong
cuốn 'Mặt thật' do ông viết cũng lập
luận như thế. Tôi không nghĩ rằng Bùi Tín là người
'hồi chánh giả' - các ông Huỳnh Cự, Lê xuân Chuyên
trước 75 là 'hồi chánh thật'. Chữ hồi chánh
tôi nói ở đây theo một nghĩa rộng và đúng
đắn, không phải là ai về với ai, phe nào
về với phe nào mà chỉ có ý nghĩa là một người
dân, một công dân về với tổ quốc và đồng
bào của hộ. Ðiều người ta thường nói
là về với chính nghĩa dân tộc, quốc gia,
về với cái đích thực của dân tộc mình mà
không theo những tà thuyết ngoại lai. Tôi cũng không
vội vàng cho rằng ông Bùi Tín 'trá hàng' như Hùynh Cái
hay 'chống đảng' vì mất ăn thì đạp
đổ. Có thể Bùi Tín còn tiếc cho tuổi trẻ
của ông, một thời thanh xuân của ông hy sinh cho
một lý tưởng hão huyền, cho một chế độ
bất nhân, một chính quyền độc tài. Nay về
già ông còn tiếc nuối những gì ông đã đóng góp
khi còn trai trẻ. Không lý ông sổ toẹt tất cả,
và biến chuỗi thời gian thanh xuân thành một sự
lầm lỡ đáng nguyền rủa. Ðó cũng là điều
tội nghiệp cho ông!
Thật ra, Bùi Tín
không có con đường nào khác. Ðừng quên Bùi Tín là
một người sinh ra trong một gia đình tiểu tư
sản, thân sinh ông làm quan to trong triều thì trước
sau cũng bị Cộng sản loại ra khỏ hàng ngũ
của hộ. Bùi Tín có thể giác ngộ chủ nghĩa
Mác, theo Mác một cách ngoan ngoãn và trung thành nhứt, nhưng
Cộng sản thì chẳng bao giờ nhận Bùi Tín vào hàng
ngũ của hộ. Hộ chỉ xử dụng Bùi Tín
theo tình hình và giai đoạn mà thôi.
Từ khi
Cộng sản nắm quyền, hơn nữa thế
kỷ qua, biết bao nhiêu trường hợp giống như
Bùi Tín đã xảy ra, chỉ là kẻ trước người
sau mà thôi.
Dù thế nào đi nữa, người ta cũng khó
phủ nhận tinh thần cuộc cách mạng tháng 8/1945.
Chính ở quốc hội Ðệ nhị Việt Nam
Cộng Hòa đã có lúc người ta đề nghị
lấy ngày 19/8 làm ngày quốc khánh thay vì ngày 26 tháng 10 là
ngày ông Ngô Ðình Diệm khai sinh đệ nhất Cộng
hòa hay ngày 1/11 là ngày một nhóm tướng lãnh đảo
chánh ông Ngô Ðình Diệm. Cái gì thuộc toàn dân, toàn dân
tộc và tổ quốc mới có ý nghĩa và trường
tồn.
Khi làm
tổng thống, ông Ngô Ðình Diệm tách bạch rất rõ
hai ranh giới: Những người theo kháng chiến
chống thực dân Pháp và những người theo
Cộng sản. Ðó là một sự phân tách rất
hợp lý và công bằng. Nói chung ai cũng có lòng yêu nước
và năm 1945 hộ theo kháng chiến chống Pháp là
bởi lòng yêu nước đó. Xa hơn nữa, có
thể nói từ trước 1945, những người 'làm
cách mạng' -nói chung cho tất cả đảng phái, không
phân biệt đảng phái nào,- đều là người
có lòng yêu nước, vì yêu nước mà tham gia cách
mạng. Trong thời kỳ nầy, ngay chính những người
theo Cộng sản, động lực chính để
hộ tham gia chính trị cũng là vì lòng yêu nước.
Lý tưởng của hộ là một nước Việt
Nam độc lập, một dân tộc Việt Nam hạnh
phúc ấm no. Chúng ta đồng ý với nhận xét
nầy của Vũ Thư Hiên trong 'Ðêm giữa ban ngày'
khi ông nói về động cơ thúc đẩy những
người thuộc thế hệ ông Vũ Ðình Huỳnh
(thân sinh ông Vũ Thư Hiên) tham gia đảng Cộng
sản Ðông Dương.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đối
với toàn thể quốc dân, có hai khoảng thời gian
riêng biệt, vạch ranh giới bằng 'Ðại hội
đảng Cộng sản Việt Nam' (CSVN) năm 1951. Trước
ngày đại hội đó, mặc dù CSVN đã đánh
phá các đảng phái và tôn giáo để giành độc
quyền cai trị trong nước, hộ vẫn chưa công
khai và lộ nguyên hình. Tuy nhiên, sau đại hội đó,
hộ không còn dấu giếm gì nữa rằng hộ là
Cộng Sản và 'độc lập dân tộc' chỉ là
bình phong che đậy mục đích cuối cùng là 'xây
dựng xã hội Xã hội chủ nghĩa'. Ý nghĩa
của cuộc kháng chiến giành độc lập không còn
nữa vì mục đích cuối cùng của cuộc
chiến đấu nầy là xây dựng chủ nghĩa
Cộng Sản.
Năm 1969, khi ông
Hồ chí Minh qua đời, nhà văn Nguyễn Ngu Í có
thực hiện một cuộc phỏng vấn các nhà văn
hóa, nhà chính trị, giáo dục ở miền Nam, về công
hay tội của ông Hồ Chí Minh. Cuộc phỏng
vấn đăng trên tạp chí Bách Khoa của ông Lê
Ngộ Châu. Lúc đó cũng chưa mấy ai rõ lắm
về đời tư của HCM. Người ta nói chung
chung HCM là tay sai của Ðệ tam Quốc tế, là người
có ý đồ xây dựng chủ nghĩa Cộng sản
ở VN, v.v... Riêng Võ Phiến, người từng
sống trong vùng Cộng Sản suốt 9 năm (1945-54),
từng bị Cộng Sản bò tù, là nạn nhân của
chế độ nầy và nhất là ông ta có kinh
nghiệm đấu tranh với CS, là người có
nhận dịnh sâu sắc nhất. Ðại ý Võ Phiến
cho rằng:
1). Nếu
HCM không phải là người CS, không độc tài,
biết hợp tác với các đảng phái Quốc gia khác
để giành độc lập dân tộc thì nước
ta tránh được hai thảm hộa: Chiến tranh kéo
dài, gây nên cảnh tương tàn. Có độc lập
sớm và không có chiến tranh, nước nhà đã giàu
mạnh từ lâu.
2). Người
gây ra cuộc nội chiến Việt Nam, chính danh thủ
phạm là Hồ Chí Minh. Ông ta có tội với lịch
sử và dân tộc, sẽ bị lịch sử và dân
tộc phê phán.
Tôi tới
trại tỵ nạn Mã Lai tháng 6/1989, sau ngày gội là
'Cut off date' nên phải qua một cuộc thanh lộc.
Cuộc phỏng vấn gồm có một bên là luật sư
Cao ủy Tỵ nạn LHQ và một viên thiếu tá
thuộc lực lượng an ninh Mã Lai. Tôi là người
bị phỏng vấn. Sau khi tôi trình bày lý lịch,
luật sư Cao ủy Tỵ nạn bỏ ra ngoài sân
ngồi hóng mát. Có lẽ ông ta cho rằng tôi đã đủ
tiêu chuẩn để xác nhận là người tỵ
nạn chính trị. Ông ta để cho viên thiếu tá
hỏi tôi thêm một số điều về chiến
tranh Việt Nam, kỷ nhất là về những kinh
nghiệm chống du kích tôi có được và quyển
sách lúc đó tôi đang viết 'Chiến tranh nhân dân, tình
báo nhân dân', (Tôi cho rằng trong chiến tranh nhân dân thì tình
báo nhân dân quan trộng hơn cả tình báo chiến
thuật và chiến lược, nhất là trong lãnh
vực giải hóa hạ tầng cơ sở cộng
sản. Chiến tranh VN, là một dạng của chiến
tranh nhân dân. Người Mỹ rất thiếu sót trong lãnh
vực nầy). Sau đó, tôi có nêu ý kiến rằng
những ai có tham gia chế độ cũ đều có công
với thế giới tự do và nên cho hộ 'đậu
thanh lộc' vì nếu không có VN Cộng Hòa đứng
vững trong 20 năm (1955-1975) thì Cộng sản đã tràn
tới Singapoor, Indonesia, v.v... rồi.
Lúc nầy, Trần Bình và Rashid, lãnh tụ đảng
Cộng sản Mã Lai vừa mới ra đầu hàng, sau
mấy chục năm cố thủ trong rừng rậm
giữa biên giới Mã Lai và Thái Lan. Thủ tướng Mã
Lai Mohatir Mohamad chấp nhận hộ như một đảng
chính trị và cho hoạt động công khai, trong khuôn
khổ luật pháp và chính quyền cho phép.
Viên
thiếu tá nói với tôi rằng cuối cùng Mã Lai đã
thắng cả thực dân và Cộng sản; ba mươi
năm nữa (kể từ 1991), Mã Lai sẽ là một
quốc gia phát triển như các nước Âu Mỹ
hiện nay. Ông ta cho rằng hộ không cần hy sinh
nhiều xương máu như VN mà hộ vẫn giành
được độc lập, cũng giống như
Ấn Ðộ, không cần gây chiến với Anh quốc,
Anh vẫn phải trả độc lập cho Ấn. Hòa
Lan đối với Indonesia cũng vậy, v.v... Giải
thực là xu thế tất yếu của tình hình thế
giới sau Thế chiến thứ hai mà ba cường
quốc đầu sỏ thế giới đã thỏa
thuận với nhau trong hội nghị Yalta hồi tháng
2/1945. Tháng 5/1945, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt qua
đời, Staline bắt đầu khơi chiến tranh
lạnh nên tổng thống mới của Hoa Kỳ là
Harry Truman mới từ bỏ chính sách ủy trị
(trusteeship) đối với Ðông Dương do cố
tổng thống F. Roosevelt đề ra. Những người
Mỹ (OSS) đã từng giúp Hồ Chí Minh trong chiến
tranh Thế giới thứ hai biết rõ Hồ Chí Minh là
tay sai của Ðệ Tam quốc tế nên Mỹ mới quay
lưng lại trước những lời kêu gội
của Hồ Chí Minh năm 1945. Giả tỷ như Hồ
Chí Minh không phải là công cụ của Cộng sản Liên
Xô thì Việt Nam được gì: Chính sách ủy
trị sẽ được thực hiện (Một
ủy ban quốc tế -đàng sau nó là Liên Hiệp
Quốc và Mỹ) cai trị Ðông Dương thì Pháp không
thể quay lại Ðông Dương được, sẽ
không có chiến tranh Ðông Dương lần thứ
nhất (1945-54), lần thứ hai (1960-1975) và lần
thứ ba (1979-1989). Bao nhiêu sinh linh hy sinh trong ba cuộc
chiến nầy, bao nhiêu tan nát xảy ra trong ba cuộc
chiến nầy cũng chỉ vì Hồ Chí Minh và đồng
bộn muốn xây dựng chủ nghĩa Cộng sản
ở Ðông Dương.
Con đường HCM đã đi nầy sai ngay
từ đầu. Tôi xin trích một đoạn sau đây
trong sách của Bùi tín:
'Ðể
mở rộng đường suy nghĩ, xin trích vào đoạn
dưới đây từ bức thư của cụ Tây
Hồ Phan Chu Trinh gởi cho anh thanh niên Nguyễn ái
Quốc ngày 18 tháng 2 năm 1922. Lúc nầy cụ vừa 50
tuổi, hoạt động ở Marseille. Cụ từng
bị tù ở Côn đảo từ 1908 đến 1911, ra
khỏi tù cụ sang Pháp, viết cuốn sách 'Ðông Dương
Chính Trị Luận' nêu rõ đường lối đấu
tranh không bạo động, tố cáo chế độ
thực dân hà khắc và hệ thống quan lại tham nhũng
trước dư luận Pháp. Cụ chủ trương
đường lối đấu tranh lấy văn hóa, giáo
dục dân trí làm nền tảng lâu dài, theo phương
châm: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, có nghĩa
là mở mang sự hiểu biết của đông đảo
nhân dân, làm cho khí thế khí phách của nhân dân phấn
chấn lên và làm cho cuộc sống được
cải thiện (hậu đây có nghĩa là làm cho dày cho
hậu, cho hùng hậu, chứ không phải là cuối cùng
là dân sinh như một số sách dịch nhầm).
Chủ trương nầy bị Nguyễn ái Quốc cho là
thủ cựu.
'Bức thư có
đoạn viết: 'Bấy lâu nay, tôi cùng anh (HCM, tg) và
Phan (là Phan văn Trường, luật sư nổi
tiếng về trình độ hiểu biết và lòng yêu nước
hồi ấy), đàm đạo nhiều việc, mãi
tới bây giờ anh cũng không ưa gì cái phương
pháp khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của tôi.
Còn tôi lại không thích cái phương pháp Ngộa
ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội (ngồi
ở nước ngoài kéo người tài ở trong nước
ra, đợi thời cơ để trở về gấp)
của anh, và cái dụng lý thuyết thâu nhân tâm của
Phan. Bởi phương pháp bất hòa mà anh đã nói
với Phan là tôi là hạng hủ nho thủ cựu. Cái
điều anh gán cho tôi đó, tôi chẳng giận anh tí
nào cả, bởi vì suy ra thì tôi đã thấy rằng: tôi
độc chữ Pháp bập bẹ, nên không am tường
hết các sách vở ở cái đất văn minh
nầy (*). Cái đó tôi thua anh xa lắm, đừng nói gì
độ với anh Phan. Tôi tự ví tôi ngày nay như con
ngựa đã hết nước tế, tôi nói thế
chẳng hề dám ví anh là kẻ tử mã lục
thạch (4 chữ nầy, nhà hộc giả Hoàng Xuân Hãn có
ý kiến dịch là ngựa non háu đá, theo cách nói ví
von hóm hỉnh thường thấy ở cụ Phan Tây
Hồ.'
(Mặt Thật,
trang 100-101)
... ...
'Con
đường cụ Phan chủ trương gần
giống như con đường của các ông Gandhi và
Nehru ở Ấn Ðộ. ...'
... ...
'Nhiều
nhà trí thức có lý khi đặt vấn đề
rằng: nếu như hồi ấy đường
lối đấu tranh đại loại như của
cụ Phan đề xướng được chấp
nhận và thành hiện thực thì đất nước
ta rất có thể khác hẵn hiện nay, vừa có độc
lập thống nhất, có dân chủ và phát triển, có
thể tránh được chiến tranh (nội chiến -tg)
và tránh bị cổ máy nghiền mà chủ nghĩa Staline,
chủ nghĩa Mao đã đưa đến thông qua đảng
Cộng sản với biết bao nhiêu hậu quả
nặng nề mà chưa biết đến bao giờ
mới khắc phục được.'
(Mặt
thật- trang 102)
Muốn giành độc lập dân tộc không
phải chỉ có một con đường gây chiến
tranh, mà lại là một cuộc chiến tranh lâu dài như
chiến tranh Việt Nam. Hơn thế nữa, Cộng
sản biến nó từ một cuộc chiến tranh
chống thực dân thành một cuộc nội chiến người
Việt giết lẫn nhau.
Có hai ý nghĩa
trong các cuộc chiến tranh Ðông Dương: Nếu vì
độc lập dân tộc thì nó là cuộc chiến
tranh chống thực dân, còn nếu vì muốn xây dựng
chế độ Cộng sản thì nó là là cuộc
chiến tranh chống đế quốc. Hai ý nghĩa
nầy rất xa và đối nghịch nhau. Chiến tranh
Việt Nam không phải là chiến tranh chống thực dân
giành độc lập mà chính là cuộc chiến tranh
chống đế quốc vì chủ nghĩa Cộng
sản. Trong ý nghĩa thứ hai, nó không còn là người
theo Tây hay theo kháng chiến giành độc lập mà
lại trở thành những người chống Cộng
để bảo vệ tư do và những người
Cộng sản. Không ai theo Tây để chống lại
độc lập dân tộc mà chỉ có những người
đứng về phe Thế giới Tự do để
chống Cộng sản. Từ ý nghĩa đó, cuộc
chiến tranh Việt Nam dễ dàng biến thành cuộc
nội chiến giữa những người Cộng
sản và những người chống Cộng để
bảo vệ Tự do. Cộng sản cố lập lờ
trong hai ý nghĩa nầy để bôi lộ những người
chống Cộng. Nếu không phải là người có ý
thức và kiến thức thì rất dễ bị lẫn
lộn giữa hai ý nghĩa nầy. Nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn khi viết 'Gia tài của mẹ' (Hai mươi
năm nội chiến từng ngày) là đã có chút ít
nhận thức mơ hồ về ý nghĩa thứ hai
của cuộc chiến. Sau 1975, ông dấu biệt bài
nầy, điều đó cho ta thấy ông ta đã ăn
phải bã Cộng sản, trở thành tay sai của hộ.
Tuy là người soạn nhạc phản chiến nhưng
trình độ nhận thức chính trị của ông không
cao nên dễ bị Cộng sãn lung lạc, mua chuộc. Không
riêng gì TCS, còn cả hàng ngàn thanh niên mơ hồ về
những ý nghĩa nầy nên hộ dễ bị Cộng
sản kêu gội hòa hợp và hộ tự biến thành
tay của Cộng sản.
Chính Bùi Tín cũng
tự mâu thuẫn trong ý nghĩa trên khi ông viết 'Mặt
Thật'.
Trước
hết, vấn đề then chốt là ở Hồ Chí
Minh.
HCM là người
yêu nước hay là một cán bộ Cộng sản
Quốc tế? Có nghĩa là ông ta là người chống
đế quốc thực dân vì độc lập dân
tộc hay là người lợi dụng chủ nghĩa dân
tộc để đấu tranh vì chủ nghĩa Cộng
sản?
Hồ Chí Minh
rời Việt Nam năm 1911 là vì muốn tìm đường
cứu nước hay chỉ là người đi tìm
kiếm tương lai cho bản thân. Ngay trong cuốn 'Mặt
thật', Bùi Tín cũng phải xác nhận: 'Việc nêu lên
chuyện anh Nguyễn Tất Thành vì thấy cách mạng
bị bế tắc do chủ trương Ðông Du và
cải lương thất bại nên ra đi để tìm
đường cứu nước là cố nói lấy
được nhằm tô vẽ lãnh tụ... '
'Một vấn
đề rất lớn về ông Hồ Chí Minh: ông ta là
người yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc
hay là một người cộng sản.' (Mặt Thật-
trang 99)
'Có thể' ông
là ngưòi yêu nước. Tôi nói có thể vì mục
đích ông đi Pháp không phải là để tìm
đường cứu nước. Ông chỉ yêu nước
sau khi bị từ chối không cho vào hộc trường
thuộc địa để ra làm quan và chính những người
nuôi dưỡng ông ở Pháp như luật sư Phan Văn
Trường, Phan chu Trinh, Nguyễn Thế Truyền đã
khơi dậy lòng yêu nước nơi ông. Tuy nhiên, khi ông
tới Liên Xô và bị thu hút bởi chủ nghĩa
Cộng sản, bởi Mác, Lênin, Satline và sau nầy là Mao
Trạch Ðông thì ông là một cán bộ cộng sản
quốc tế. Chủ nghĩa Dân tộc chỉ là chiêu bài.
Ðối với Cộng Sản, đảng nằm trên
quốc gia, tổng bí thư đảng Cộng sản
được tôn kính hơn chủ tịch nước vì
đảng là đảng quốc tế, đảng
thế giới, là thế giới đại đồng, còn
giữ ranh giới quốc gia là còn cục bộ. Một
lãnh tụ cộng sản quốc tế như Hồ Chí
Minh thì trộng tâm hoạt động phải là chủ
nghĩa Mác, không thể là chủ nghĩa dân tộc. Trong
cuốn 'Từ thực dân đến cộng sản', ông
Hoàng văn Chì có kể rằng Nguyễn Sơn là người
Việt Nam làm tướng trong Hồng quân Trung Hoa, là người
Việt Nam độc nhất tham gia cuộc 'Vạn lý trưòng
chinh' của Mao. Năm 1946, khi hay tin Hồ Chí Minh kêu
gội toàn dân kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Sơn
xin với Mao cho ông về nước. Mao buộc lòng
phải chấp thuận nhưng nói riêng với Hồ
rằng Nguyễn Sơn không có tinh thần 'quốc tế
vô sản'. Chống đế quốc thực dân là
mục tiêu của Cộng sản, ở Trung hoa cũng như
ở VN, hà cớ chi phải xin về VN. Vì vậy, khi
Nguyễn Sơn về tới Việt Bắc, HCM không dám dùng
Nguyễn Sơn, cho vào làm tư lệnh vùng Thanh Nghệ Tĩnh
là vùng không có quân đội, như trước 1975 người
ta thường gội những tướng bị mất
chức là 'tướng không quân.' Mặc dù Nguyễn Sơn
là một tướng giỏi, HCM vẫn không dám dùng vì
sợ Mao (*).
Hễ xây
dựng được chủ nghĩa Mác thì dân tộc
được thoát khỏi ách bóc lột của đế
quốc tư bản. Mục đích của Mác là quốc
tế, không phải dân tộc.
Trong
cuốn sách nói trên, Bùi Tín viết: '... thật ra ông
Hồ Chí Minh ít có chính kiến riêng về đường
lối chính trị. Ðến tinh thần dân tộc trong
tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin như ông Tito ở Nam Tư,
ông Hồ cũng không có.'
Ông Hồ
Chí Minh tin tưởng tuyệt đối chủ nghĩa Mác
Lênin và Stalin và thực hiện đúng những điều
Mao Trạch Ðông yêu cầu. Cũng trong cuộc phỏng
vấn trên, Võ Phiến có nhắc đến một ý
trong 'Hồ Chí Minh tuyển tập'.
Ðại khái HCM nói rằng bây giờ Cộng sản
Hà Nội có chủ nghĩa MácLênin dẫn lối soi
đường. Khi có gì khó khăn, bí lối thì cứ
mở chủ nghĩa Mác ra xem là có cách; giống như
trong truyện Tàu, khi một sư phụ cho đệ
tử xuống núi là cho mang theo một cái cẩm nang
vậy. Hễ gặp khó khăn là cứ giở cẩm
nang ra xem, sẽ có cách. Cách nói của HCM như thế
khiến Võ Phiến kết luận rằng ông HCM đã
ăn phải bùa mê Cộng sản, ăn cháo lú rồi.
Giữa
chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế
Cộng sản, HCM chộn con đường thứ hai.
Trong bài thơ 'Ðề miếu Trần Hưng Ðạo', HCM
viết:
Bác đuổi quân Nguyên thanh kiếm bạc
Tôi trừ
giặc Pháp ngộn cờ hồng.
Bác đưa
một nước qua nô lệ,
Tôi dẫn năm
châu đến đại đồng.
Bác đây là
tiếng HCM gội Trần Hưng Ðạo. Bác dùng vũ
lực (kiếm bạc) để đuổi quân Mông
Cổ (Nguyên), còn tôi thì trừ giặc Pháp bằng tư
tưởng Mác-Lênin-Mao Trạch Ðông (cờ hồng). Bác
chỉ là người giải phóng một nước (một
nước qua nô lệ), bác chỉ là lãnh tụ quốc
gia, còn tôi thì đưa cả nhân loại đến
đại đồng; tôi là lãnh tụ quốc tế.
Chưa nói đến sự xấc láo của HCM khi
ông ta gội THÐ bằng 'bác' và xưng 'tôi' (như trong câu
đầu: Bác tôi, tôi bác vốn anh hùng), trong toàn bài thơ,
HCM tự xác nhận ông ta là người cộng sản,
không có gì là vì dân tộc, vì yêu nước. (*) Trong 'Năm
điều bác Hồ dạy' được phổ
biến ở hộc đường dưới chế
độ Cộng sản thì điều quan trộng
nhất vẫn là 'Yêu chủ nghĩa xã hội.'
Nhìn chung, HCM có hai cái sai lớn: ông không đi theo con
đường như các nước khác (Ấn Ðộ,
Indonesia, Mã lai, v.v... ) đã đi, con đường
cụ Phan Chu Trinh đã cổ võ. Con đường ông
chộn là con đường đưa tới chiến
tranh với các nước thực dân, đế quốc.
Cuối cùng, dù thực dân bị thất bại nhưng dân
tộc ta phải hy sinh quá nhiều xương máu không
cần thiết. Thứ hai, ông mê muội chủ nghĩa
Cộng sản, biến cuộc chiến tranh ở nước
ta thành cuộc chiến tranh của phe cộng sản
chống phe đế quốc, mức độ hy sinh xương
máu cao hơn nhiều và tạo nên cuộc nội
chiến kéo dài 30 năm. Chính ngày nay Cộng Sản Hà
nội vẫn tự coi mình như là 'tiền đồn
phe xã hội chủ nghĩa' mặc dù phe nầy đã tiêu
ma.
Báo chí Cộng
sản Hà Nội có nói đến viên trung úy người
Algerie trong quân đội Pháp bị bắt ở Ðiện
Biên Phủ. Sau khi Algerie giành được độc
lập, viên trung úy nầy trở thành tướng lãnh, có
đến thăm Hà Nội để trả ơn về
sự 'mở mắt' khi anh ta là tù binh. Bài báo khoe khoang
rằng chính nhờ 'cách mạng Việt Nam' mà nhân dân
Algerie mới đứng lên giành độc lập. Tôi cho
rằng tài liệu nầy nói sai, là một sự khoe
khoang bất xứng. Nếu vì chủ nghĩa quốc
tế vô sản mà CS Việt Nam đem xương máu dân
tộc mình hy sinh cho dân tộc khác để rồi
chịu cảnh nghèo đói trong khi đó thì người
dân Algerie không đói khổ như dân ta hiện nay. Ðiều
đó không phải là sự khôn ngoan của những người
lãnh đạo đất nước.
Chủ nghĩa
cộng sản là một thảm hộa của nhân
loại. Ðiều đó là khẳng định. Ðem
thảm hộa lại cho dân tộc thì Cộng sản Hà
Nội có tội thay vì có công.
Còn như nói
Cộng sản Hà nội giành được độc
lập thì độc lập đó nằm ở đâu?
Trong chính quyền Cộng sản hay trong nhân dân Việt
Nam? Sau thế giới chiến tranh thứ hai, không có nước
nào là 'hoàn toàn độc lập', ngay cả Hoa Kỳ. Tình
hình thế giới buộc các quốc gia liên kết
với nhau để tồn tại và phát triển. Ngày
nay, dù phe cộng sản không còn, các nước tự do
trên thế giới muốn tồn tại và phát triển
cũng phải bắt tay nhau. Danh từ mới bây giờ
người ta thường nói là Liên Lập
(Interdependence), không còn là độc lập (Independence)
nữa. Chính quyền Hà Nội ở trong phe Cộng
Sản thì phải thực hiện những điều Nga
Tàu muốn hộ làm vì cộng sản Hà Nội là nước
nhược tiểu, lại đang gây chiến tranh ở
miền Nam, nhận viện trợ của Nga Tàu thì
cần phải thực hiện điều hộ yêu
cầu. Nhân dân miền Bắc cũng không có chút gì
gội là độc lập khi hộ sống trong chế
độ độc tài. Hơn thế nữa, thoát
khỏi ách cai trị của thực dân Pháp lại bị
tròng vào cổ ách cai trị Cộng sản thì nô lện
vẫn là nô lệ. Làm nô lệ cho Tây và nô lệ cho
Cộng sản cái nào khổ hơn cái nào thì thực
tế đã rõ. Chủ nghĩa Cộng sản là chủ
nghĩa (cách mạng) triệt để. Vì vậy, tròng nô
lệ Cộng sản chặt hơn tròng nô lệ Pháp
nhiều. Cuối cùng thì nhân dân ta được gì, có gì
hay có độc lập nhờ Cộng Sản Hà Nội
đánh pháp đuổi Mỹ, một thứ 'Ðộc
lập, (Tự Do, Hạnh-phúc)' trong gông xiềng.
Khoảng những năm 1976, 77, khi còn ở trong
trại cải tạo Suối Máu, thỉnh thoảng anh em
tù chúng tôi có độc những bài viết của Thành
Tín đăng trên báo Quân Ðội Nhân Dân. Anh em chúng tôi
đánh giá rằng Thành Tín là người có trình độ
nhất trong những người viết báo Cộng
sản, kể cả Thép Mới, Trần Bạch Ðằng.
Dù làm 'quan' to, hộ cũng chỉ là những anh mù
sờ voi. Mặt Thật của Bùi Tín tương đối
có những nhận định khách quan, và chắc
chắn trung thực hơn khi ông còn viết báo cho
Cộng Sản. Chỉ tiếc là ông còn 'hoài' cái tuổi
trẻ của ông nên có luận điệu giống chính
quyền Cộng sản hiện nay, chưa hoàn toàn quay lưng
với quá khứ.
Cả
một dân tộc này hy sinh biết bao nhiêu xương máu
và thời gian mà ngày nay chẳng có được một
tí hạnh phúc nào, có biết bao nhiêu người chịu
oan khuất vì chế độ cho đến khi buông tay
nằm xuống cũng không giải được
tiếng oan cho mình, có biết bao nhiêu gia đình hy sinh cho
đất nước, không phải chỉ một người
mà hầu hết con cái, có khi không biết thân xác vùi
dập nơi đâu thì có đáng chi 'một thời
trẻ dại' của Bùi Tín. Chẳng qua ông nghĩ đến
cái tôi nhiều quá mà quên đi cái đau của người
khác và những oan khiên của dân tộc, mà qua chế
độ Cộng sản, ông đã góp phần tạo nên.
Ðiều đó, ông không có chút chi hối hận hay sao?
Worcester,
Mass
hoanglonghai/tuệ
chương
(*)
Bài thơ đề miếu Trần Hưng Ðạo
của Hồ Chí Minh
Bác tôi, tôi bác vốn anh hùng,
Tôi bác cùng theo việc kiếm cung
Bác đuổi quân Nguyên thanh kiếm bạc
Tôi trừ giặc Pháp ngộn cờ hồng.
Bác đưa một nước qua nô lệ
Tôi dẫn năm châu đến đại đồng
Bác có khôn thiêng cười một tiếng
Mừng tôi cách mạnh đã thành công.
(*) Khi qua Pháp,
HCM cũng không rành tiếng Pháp. Luật sư Phan văn
Trường, sinh viên kỹ sư Nguyễn Thế
Truyền dạy Pháp văn cho ông, luyện cho ông viết
báo.
(*) Tướng
Nguyễn Sơn bị chết đuối khi qua sông. Dư
luận nói là Võ Nguyên Giáp chủ động âm mưu
thủ tiêu nầy vì Giáp rất ghét Nguyễn Sơn.
Nguyễn Sơn chê Giáp là đại tướng mà
chẳng xuất thân ở một trường quân sự
nào cả.