|
|
| Hồi Ức Nguyễn Thị
Bình
Trích từ Diển Đàn Dân Chủ - Lâm Lễ Trinh (Tiến
sĩ Lâm Lễ Trinh nguyên là Ðại sứ Việt Nam Cộng
Hòa tại Thổ Nhĩ Kỳ, Liban, Syria, Jordan, Irak và
Iran, Bộ trưởng Nội Vụ dưới chính quyền
Ngô Ðình Diệm. Trước năm 1975 Ông là giáo sư
Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Sài Gòn và Phân khoa
Chính Trị và Kinh Tế Ðại Học Ðà Lạt. Từ
năm 1996 ông chủ trương tạp chí Nhân Quyền
bằng Anh và Pháp ngữ, phát hành tại California hằng
tam cá nguyệt). Cách
đây vài tháng Nhà Xuất bản Chính trị Quốc
gia Hà nội cho phát hành, với nhiều hình ảnh, quyển
hồi ức 700 trang Mặt trận Dân tộc Giải
phóng, Chính phủ Cách Mạng Lâm thời tại Hội
nghị Paris về Việt Nam của Nguyễn Thị
Bình và tập thể tác giả Nguyễn Văn Hiếu,
Dương Ðình Thảo, Lý Văn Sáu, Hà Ðăng, Ðoàn
Huyên, Nguyễn Ngọc Dung, Nguyễn Bình Thanh, Phan Nhẫn,
Phạm Văn Ba, Lê Mai, Trương Tùng..v..v.., một
danh sách khá dài binh tôm tướng cá còn sống sót
của Phong trào Dân tộc Giải phóng Miền Nam (GPMN) bị
Ðảng CS khai tử sau 1975. Ban Biên tập gồm có Nguyễn
Thị Bình (cựu Ngoại trưởng và Trưởng
đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời
tại Hội nghị Paris), Lý Văn Sáu (nguyên Ủy
viên và phát ngôn viên của đoàn), Hoàng Phong tức
Hoàng Huy Châu và Hà Ðăng tức Ðặng Ninh Ðăng ( cả
hai là chuyên viên). Sánh
với hồi ký 1982 Kết thúc cuộc chiến tranh
30 năm của Thượng tướng Trần Văn
Trà (do Nhóm Nghiên cứu Việt sử xuất bản năm
1987 ở Houston, Texas vì bị cấm tại Việt Nam)
và bộ sách dày 980 trang Chung Một Bóng Cờ- Mặt
trận Dân tộc GPMN của Nguyễn Hữu Thọ, Trần
Nam Trung, Trần Bạch Ðằng và Công ty (Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia Hà nội, 1993), hồi ức muộn
màng của Nguyễn Thị Bình và một số đồng
chí - viết 28 năm sau ngày ký kết Hiệp định
Paris - tiết lộ một số suy tư và tài liệu
chưa ai biết. Những
lời căn dặn và xúi bẩy của Hồ Vì
chủ trương đánh cho Mỹ cút, đánh cho
Ngụy nhào lâm vào thế bí cuối 1959 cho nên Hồ và
các đồng chí xoay qua kế hoạch khác. Ðể bịp
thế giới rằng dân chúng Miền Nam nổi loạn
chống chính quyền của họ, Cộng sản Hà nội
triệu tập đêm 19.12.1960 tại một khu rừng
thuộc xã Tân Lập. huyện châu thành, Tỉnh Tây Ninh
một Ðại hội và cho ra đời Mặt trận
Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) với lời
hiệu triệu đánh đổ ách thống trị
của đế quốc Mỹ và Ngô Ðình Diệm.. Lá cờ
của Mặt trận nửa xanh, nửa đỏ với
ngôi sao vàng năm cánh. Trước khi công nhận tổ
chức bù nhìn này, chính phủ Bắc Việt vận
động ráo riết với một số quốc gia
thuộc xã hội chủ nghĩa hay thân CS trao đổi
đại diện (như Cuba, ngày 25.7.1962) hay lên tiếng
ủng hộ Mặt trận (như Algérie, Tiệp khắc,
Nam Dương,Liên Xô, Trung quốc, Ðông Ðức, Roumanie,
Mông Cổ, Lào, Miên, Thụy Ðiển, Na Uy, Phần
Lan..v..v..). Ngày 12.12.1966 - sáu năm sau khi xuất hiện -
Mặt trận mới chính thức đặt Phòng
đại diện tại Hà nội, Nguyễn Văn Tiến
làm trưởng đoàn và Nguyễn Phú Soại, phó trưởng
đoàn. Nguyễn
Thị Bình - Phó trưởng đoàn từ 16.12.1968 đến
6.6.1969, lên thay Trần bửu Kiếm trong chức vụ
Trưởng đoàn tại hòa đàm Paris, từ
10.6.1969 cho đến khi ký kết - khoe Mặt trận có
đại diện tại trên hai chục nước tính
đến cuối 1967. Hà nội dàn cảnh để Quốc
tế tưởng Mặt trận là một thực thể
chính trị riêng rẽ với Dân chủ Cộng hòa Miền
Bắc (VNDCCH) và chiến tranh dưới vỹ tuyến
17 là một cuộc nội chiến. Ngày
22.3.1965, Mặt trận ra tuyên cáo 5 điểm. Vài hôm
sau - ngày 8.4.1965 - Hà nội tung nhịp nhàng tuyên cáo 4
điểm. Ðại cương, cả hai đòi Hoa Kỳ
rút quân khỏi Miền Nam. CS tổng tấn công Tết
Mậu thân đầu 1968 và cuộc đàm phán Paris mở
màn ngày 13 tháng 5 năm đó. Hoa Kỳ đã phủ nhận
MTGPMN tám năm nhưng cuối cùng, do thủ đoạn
ma giáo của Hồ và vì nhu cầu chấm dứt chiến
cuộc, phải chấp nhận tập đoàn cò mồi
này ngồi vào bàn hội nghị ngang hàng với Chính phủ
Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Theo
Nguyễn Thị Bình, trong phiên họp ngày 15.7.1971, Trưởng
đoàn Sài gòn Phạm Ðăng Lâm tuyên bố lần
đầu tiên, chính quyền Nguyễn văn Thiệu sẵn sàng trực tiếp nói chuyện riêng với
MTGPMN. Nơi trang 36 của Hồi ức, Nguyễn Thị
Bình thú nhận: Việc đề cao vị trí quốc
tế của MTDTGP có ý nghĩa lớn. Vị trí quốc
tế vững chắc của Cách mạng miền Nam là một
trong những nhân tố bảo đảm thắng lợi.
Mỹ buộc phải nói chuyện với MTDTGP tại
Hòa nghị bốn bên và đoàn đại biểu MTDTGP
tham gia Hội nghị bốn bên với tư cách một
đoàn độc lập là một thắng lợi ngoại
giao to lớn của Cách Mạng miền Nam.. Tuy nhiên, về
cách làm việc Nguyễn Thị Bình cũng không dấu
diếm (HU, trang 40): Hai đoàn chúng ta tại Hội
nghị Paris - VNDCCH và MTGPMN (trở thành Chính phủ Cách
Mạng Lâm thời Miền Nam ngày 8.6.1969 do Huỳnh Tấn
Phát làm chủ tịch, Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch
Hội đồng cố vấn và Nguyễn Thị Bình,
Bộ trưởng Ngoại giao) - tuy hai mà một, tuy một
vẫn là hai: cùng chịu sự chỉ đạo chung từ
trong nước, nhưng là hai đoàn độc lập
giữ sắc thái riêng của mỗi đoàn, luôn luôn
có sự phối hợp chặt chẽ giữa hai đoàn.
Hàng tuần hai đoàn dựa vào sự chỉ đạo
của bên nhà, trao đổi, bàn bạc về nội
dung đàm phán, thông báo các cuộc gặp riêng, khi tại
Choisy-le-Roi, (trụ sở đoàn miền Bắc), khi tại
Verrières-le-Buisson (trụ sở đoàn miền Nam. Một
điều nên ghi: trong thời gian Hội nghị, Bộ
trưởng Ngoại giao Xuân Thủy - trưởng
đoàn miền Bắc - và đặc biệt, cố vấn
Lê Ðức Thọ luôn luôn kềm chặt Nguyễn Thị
Bình và chỉ vẽ đường lối. Xuân Thủy
thường nhắc lại với các cộng sự
viên lời nhắn nhủ (thâm sâu) của Bác: Hai
đoàn như một nhưng mỗi đoàn có đặc
điểm riêng; các anh chị em miền Nam rất tốt,
rất thẳng thắn, có sao nói vậy, nên cần chủ
động công tác nhưng lại phải hết sức
chú ý khiêm tốn, chan hòa với anh chị em, cái gì về
miền Nam mà mình không biết thì phải hỏi cho biết
(HU, trang 505).. Nguyễn Thị Bình ví von: Ðoàn Mỹ
đã lần lượt thay bốn trưởng đoàn:
Harriman, Cabot Lodge, Bruce và Porter, còn ta trước sau đoàn
miền Bắc chỉ có một trưởng đoàn là
anh Xuân Thủy và đoàn miền Nam, chủ yếu là
tôi.. Về
chiến thuật chung tại bàn hội nghị, Nguyễn
Thị Bình nói trắng: ..Từ giữa năm 1968, tôi
cùng một số anh chị em được chỉ
định vào một trận địa mới vừa
đánh vừa đàm. Lúc bấy giờ tôi cũng
chưa hình dung ra được cuộc đấu tranh này
như thế nào và kéo dài bao lâu, mà chỉ nghĩ thầm
rằng phải cố gắng làm hết sức mình theo
yêu cầu của cách mạng. (HU, trang 36). Nguyễn Thị
Bình nhắc thêm nơi trang 37: Bác Hồ từng căn
dặn: trong đấu tranh phải giữ lập trường
vững vàng để ứng phó với mọi tình huống.
Dĩ bất biến ứng vạn biến. bác còn căn
dặn; vạch trần tội ác của nhà cầm quyền
Mỹ, nhưng phải tôn trọng nhân dân Mỹ. Ngày
2.9.1969, Hồ về chầu Các Mác sau một cơn bạo
bệnh. Nguyễn Thị Bình và Xuân Thủy trở lại
Hà nội để chịu tang. Trong
bài Những kỷ niệm không bao giờ quên, (HU,
trang 477), Lê Mai, cựu thành viên đoàn đại biểu
CS tại Hội nghị Paris, từng phụ trách đàm
phán 18 năm (1977-1995) với Hoa Kỳ để bình thường
hóa ngoại giao giữa hai nước, kể lại: Năm 1983, anh Lê Ðức Thọ, Ủy viên Bộ
Chính trị, người trực tiếp đối thoại
với Kissinger, bảo tôi viết cho anh một bài để
kỷ niệm 10 năm ký Hiệp định Paris. Tôi hỏi
nên viết cái gì và liều lượng ra sao. Anh bảo:
Cậu viết sao để độc giả trong
nước và nước ngoài nhận thức được
thắng lợi có ý nghĩa nhất của Hiệp định
Paris là quân Mỹ phải rút ra khỏi miền Nam Việt
Nam, còn quân miền Bắc thì vẫn ở lại miền
Nam, dẫn đến việc thay đổi so sánh lực
lượng có lợi cho ta, cho phép ta đánh nhào quân ngụy
để giải phóng miền Nam Việt Nam, thống nhất
đất nước. Nói tóm tắt, Hoa Kỳ đã bị
bịp. Hà nội quyết tâm vi phạm Hiệp định
bằng võ lực, sau đó giải tán con cờ thí
MTGPMN khi đạt mục tiêu, bất chấp giải thưởng
Nobel Hòa bình dâng cho Lê Ðức Thọ. Sự
giúp tay đắc lực của cánh tả quốc tế
đối với CSVN Có
ba loại thuộc khối Xã hội chủ nghĩa và Thế
giới Tự do (mù quáng), đã giúp nhiệt tình Bắc
Việt và MTGPMN trong giai đoạn thương thuyết
tại Paris: quần chúng, chính phủ và giới truyền
thông. a)
Trong nhiều đoạn của hồi ức, Nguyễn
Thị Bình đề cao vai trò chủ yếu của phong
trào phản chiến tại Hoa Kỳ trong việc gây áp
lực kết thúc gấp chiến tranh. Khi cuộc đàm
phán tại Paris dẫm chân tại chỗ hay Tòa Bạch
Ốc cho dội bom Bắc Việt thì các thành phần vừa
nói - có khi đông chút triệu người - rầm rộ
xuống đường trước ống kính các đài
truyền hình, phát thanh và báo chí trong và ngoài nước.
Thí dụ, Nguyễn Thị Bình ghi lại ảnh hưởng
có lợi cho Hà nội của những vụ biểu
tình xẩy ra tháng tư và tháng năm 1971 tại Hoa Thịnh
Ðốn và San Francisco, có Coretta King (vợ của cố
Martin Luther King), George McGovern và vài chục Nghị sĩ Mỹ
khác tham dự. (HU, trang 68). Sự trở mặt đối
với Saigon của Thượng nghị sĩ William
Fulbright và Wayne Morse gây chú ý. Ngày 28.4.1968, mười vạn
người (một số mang cờ MTGP) phản đối
chiến tranh ở New York, Thị trưởng Lindsay dẫn
đầu. Ðể gây sức ép, báo New York Times cuối
1967 đăng trên trọn một trang bản mang chữ
ký của 2500 mục sư và 54.000 giáo sư đại học
Mỹ hiệu triệu Tòa Bạch ốc chấm dứt
ngay chiến tranh Việt Nam. Nguyễn
Ngọc Dung, thành viên đoàn đại biểu GPMN tại
Paris, kể với nhiều chi tiết trong bài Một
thời để nhớ của Hồi ức (trang
335-389) những cuộc tiếp xúc thường xuyên,
ngoài phòng đàm phán giữa đoàn này và hàng nghìn
người công dân Mỹ, ở nhiều vị trí khác
nhau, trên đất Pháp và nhiều nước khác, nhưng
có cùng mục dích, tìm kiếm hòa bình. Thành phần phản
chiến gồm đủ hạng người: trí thức,
đấu tranh nhân quyền, đại diện công
đoàn, báo giới, sinh viên, lãnh đạo tôn giáo, gia
đình chiến binh, chính trị gia, văn nghệ sĩ,
tài tữ điện ảnh... Phản chiến là khuynh hướng
thời đại ăn khách! Những cơ hội tiếp
xúc như thế cũng thường được tổ
chức tại Canada để giúp cho các công dân Mỹ
di chuyển dễ dàng, tụ họp và biểu diễn
show off. b)
Hầu gây uy thế quốc tế cho Chính phủ lâm thời
GPMN, các lãnh tụ hàng đầu của Nga Sô, Trung quốc,
Ấn Ðộ, Nam Dương, các quốc gia Ðông Âu, Cuba
và một vài nước Phi châu, bắc Âu..v..v.. tiếp
đón trang trọng Ngoại trưởng Thị Bình.
Nguyễn Thị Bình khoe: đầu tháng 3.1973, để
thi hành Hiệp định Paris, Hội nghị 12 Chính phủ
và Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kurt Waldheim nhóm tại
Kléber. Waldheim đến thăm Nguyễn Thị Bình tại
Verrières-le-Buisson trước phiên nhóm và gợi ý Việt
Nam DCCH và Chính phú Cách mạng lâm thời miền Nam cần
có - như Saigon - quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc.
Theo Hà nội, việc Mỹ không phản đối
điều này là bằng chứng Mỹ có thâm ý dùng
Liên Hiệp Quốc ngăn chặn khả năng (của
Bắc Việt) tiếp tục chiến đấu vũ
trang và đi vào giải pháp chính trị theo ý đồ
của Mỹ (HU,trang124). Bởi thế, CS từ chối
LHQ chủ trì Hội nghị và chỉ đồng ý coi
K.Waldheim như khách mời. Ðiều này lật tẩy
ý đồ của Bắc Việt không tôn trọng Hiệp
định Paris. Nguyễn
Thị Bình nêu ra một thắng lợi khác: Vì có sự
phản đối Tòa thánh Vatican tiếp TT Nguyễn Văn
Thiệu nên ngày 12.5.1973, Giáo hoàng Paul VI nhận tiếp
Quốc Vụ Khanh Nguyễn Văn Hiếu. Bản đề
nghị 6 điểm của Chính phủ lâm thời GPMN về
Hội nghị hiệp thương La Celle- Saint Cloud
được trao cho Ðức Giáo hoàng. (HU, trang 128) c)
Giới truyền thông và trí thức quốc tế thiên
vị. Tại Hoa Kỳ, bằng những bài điều
tra và bình luận, các tờ báo lớn như The New York
Times, the Washington Post... chỉ trích dài dài chính sách Việt
Nam hóa chiến tranh của Nixon, đả phá vai trò của
Quân đội Mỹ và không bỏ qua dịp bôi nhọ
chính phủ Sài gòn. Thí dụ, nhà báo Don Luce được
NGUYễN THị BỉNH ca tụng như người
đã góp phần quan trọng vào việc phanh phui tội
ác của Mỹ và chính quyền Saigon đối với
những người yêu nước bị nhốt trong các
chuồng cọp Côn Ðảo và sau đó, ông lại
cùng một người bạn dịch và in một tuyển
tập thơ Việt Nam, từ Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du.. đến Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Huy Cận,
Giang Nam... (HU,trang 118). Jane Fonda, Barbara Dane và Joan Baez ra tận
Bắc Việt viết bài về những vụ dội
bom của Mỹ và ủy lạo chiến sĩ CS. Phóng
viên Seymour Hersh, cuối 1969, công bố trong New York Times một
loạt ảnh chụp cuộc thảm sát tù Mỹ Lai tại
Quảng Ngải ngày 16.3.1968. Giáo sư sử học
Gabriel Kolko phân tách tỉ mỉ sự tất thắng của
CS và sự tất bại của Hoa Kỳ trong tác phẩm
Giải phẫu một cuộc chiến tranh (được
dịch ra tiếng Việt). Dave Dillinger và Cora Weiss họp
báo ở New York ủng hộ kế hoạch 7 điểm
của MTGPMN đòi Mỹ rút quân. Tại
Âu châu, U¨c châu và Phi châu, hoạt động phản chiến
của giới trí thức và truyền thông như Jean
Paul Sartre, Madeleine Riffaud, Sara Lidman, Jean Lartéguy, Léopold Senghor,
Geneviève Tabouis, Wilfred Burchett cũng tai hại không ít. Ðầu
năm 1966, học giả Huân tước Bertrand Russell gởi
thơ cho Hội nghị đoàn kết A¨-Phi-Mỹ Latinh
ở La Havane ca ngợi MTGPMN và kêu gọi thành lập
Tòa án Quốc tế xử tội ác chiến tranh của
Hoa Kỳ ở Việt Nam. Tháng 5.1967, Tòa án này họp
phiên đầu ở Stockhom gồm 15 thẩm phán Pháp,
Anh, Mỹ, Nhật, Cuba, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan,
Philippines..vv... Tháng 11.1968, tại Roskilde, Ðan Mạch, Tòa
án tuyên Hoa Kỳ tiến hành chiến tranh xâm lược
và ném bom hủy diệt các mục tiêu dân sự (HU,trang
32). Vụ kiện củ khoai này tuy không đi đến
đâu về pháp lý nhưng tạo cơ hội tốt
cho Hà nội tuyên truyền rậm đám. Một
hành động phản chiến ồn ào khác - lần
này phát động từ khối Bắc Âu - là việc
Bertil Svanstrom, chủ tịch Việt Nam - Swedish Committee tổ
chức Hội nghị Stockhom về Việt Nam với sự
tham dự của lối 300 cơ quan và ủy ban đoàn
kết ủng hộ MTGPMN. (HU,trang 30). Và một Trung tâm
quốc tế tố cáo tội ác chiến tranh ra đời
ở Paris 6. Phê
bình đối phương Mỹ và đại diện của
Việt Nam Cộng Hòa Hòa
đàm Paris bắt đầu ngày 13.5.1968 và kết thúc
thực tế ngày 23.1.1973, khi Cố vấn đặc biệt
Lê Ðức Thọ cùng Cố vấn Henry Kissinger ký tắt
vào văn bản Hiệp định. Lễ ký kết
chính thức được tổ chức vào ngày
27.1.1973 tại hội trường Kléber. Trên 6 năm
thương thuyết, các phái đoàn trao đổi nhiều
đề nghị và phản đề nghị, mặc cả
sít sao về nhiều điểm: rút quân, đình chiến,
buộc ê kíp Thiệu-Kỳ-Khiêm ra đi.v..v. Ngày
8.1.1973, Hà nội bỏ điều kiện vừa kể
vì Hoa Kỳ hủy việc đòi Mỹ và CS cùng rút
binh.... Nối tiếp là Hội nghị hiệp thương
La Celle-Saint-Cloud, từ đầu năm 1973 đến giữa
1975. Theo
Nguyễn Thị Bình, Nixon là một con người
mưu lược, tráo trở, ngoan cố, điêu ngoa, lật
lọng - đủ thứ danh từ! - và luôn luôn hù dọa
ỏỏdội bom rải thảmõõ Bắc Việt nhưng
Bác Hồ sẵn sàng đáp ứng (Từ đầu
năm 1968, Bác Hồ đã dặn: Sớm muộn gì
thì đế quốc Mỹ cũng đưa B52 ra đánh
Hà nội, rồi có thua nó mới chịu thua, HU, trang
100).. Nguyễn Thị Bình ví von: Ngày 19.12.1972, nhận
tin Hà nội hạ được chiếc B52 đầu
tiên, chúng tôi đều reo mừng sung sướng đến
khóc lên được... Rồi liên tiếp được
biết ta hạ chiếc thứ hai, thứ ba đến
chiếc thứ 33... Chiến thắng lớn trong chiến
dịch Ðiện Biên Phủ trên không kéo dài 12 ngày
đêm, từ 18 đến 30.12. 1973 ở Hà nội đã
tạo thế vững mạnh cho hai đoàn đàm phán của
ta. (HU,trg 103). Nhắc đến vụ Nixon viếng Mao tháng
2. và Liên Xô tháng 5.1972 để cầu cứu, Nguyễn
Thị Bình viết: Ðiều này không ngăn
được bước tiến của các lực lương
kháng chiến Việt, Lào, Miên... Ông ta (Nixon) càng cay cú,
tuyên bố: Thà thất bại trong cuộc bầu cử
Tổng thống Mỹ còn hơn thua cuộc chiến
tranh Việt Nam. Dù sao, - Nguyễn Thị Bình thú nhận
- chiến thuật vừa bom vừa xoa của Nixon có
lúc đã gây nản chí cho nhiều người phản
chiến đấu tranh ở Mỹ (HU, trg 83). May thay, ngày
9.8.1974, Nixon từ chức vì vụ Watergate. Nguyễn
Thị Bình nói: Lê Ðức Thọ và Xuân Thủy đã gặp
Kissinger 24 lần. Kissinger tỏ ra mềm dẻo, rất
ngán Lê Ðức Thọ, coi thường Chính phủ Saigon,
luôn luôn lo ngại dàm phán tan vỡ và biết xã giao nịnh đầm. Khi báo phỏng vấn nghĩ sao về
bà Bình tại hòa đàm, Kissinger trả lời tán tỉnh
Tôi ớn bà ấy!. (HU, trg 89). Ðối
với các nhân vật trong chính quyền miền Nam, NGUYễN
THị BỉNH nhận xét như sau: TT
Nguyễn Văn Thiệu gian ác, lì lợm, luôn luôn thọc
gậy bánh xe và tìm cách cản chân Nixon..., có lúc (Thiệu)
đã tuyên bố với Kissinger đồng ý từ
chức và tiên đoán với báo giới Việt Nam
sẽ tắm máu khi CS chiếm Saigon. Rốt cuộc, trong giờ phút hấp hối của Saigon, (Thiệu)
mau chân rút chạy và không tiếc lời nguyền rủa
Mỹ bỏ rơi (HU,trg 88, 93, 135). Còn Ngoại trưởng
Trần Văn Lắm thì lúc nào cũng... tròn vo, khi
thì chối không vi phạm Hiệp định, khi lại
tố đối phương vi phạm 4.595 lần, và
trong buổi tiệc rượu mừng Hiệp định
ký kết, đã nhờ Nguyễn Thị Bình chuyển
lời thăm anh Phát, tức Huỳnh Tấn Phát, Chủ
tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời.(HU,trg 112). Ðại
sứ Phạm Ðăng Lâm, trưởng đoàn VNCH,
được bà Bình xem như có tật nói dai, trả lời lúng búng lúc kẹt lý hay bị
đồng
minh Kissinger gài vào thế khó. Nguyễn Triệu Ðan, phát
ngôn viên bao sân cho đoàn VNCH, nói năng nhỏ
nhẹ nhưng bị nhà báo Richard Eder quạt (một
cách thiên vị) như sau, ngày 10.11.1972 trên tờ New York
Times: Trong phần lớn thời gian 4 năm qua, có mấy
ai để ý đến ông này đâu, có cần biết
ông ta nói gì đâu, trừ cái lần ông ta vừa mở
miệng định nói gì đó thì nhân viên kỹ thuật
truyền hình đã gỡ mất cái micro trước mặt
(HU, trang 522) Nhận
xét về Dương Văn Minh,Thành phần thứ ba và
các chuyên viên đi đêm Ðây
là phần tiết lộ khá thích thú, cho thấy bộ mặt
thật của một số nhân vật dưới
vĩ tuyến 17. Sẽ trở lại để phân tích
trong một bài riêng. Nhiều đoạn của quyển
hồi ức, dưới ngòi bút của Nguyễn Thị
Bình và đặc biệt, của hai đại diện
khác của MTGPMN: Phạm Văn Ba (tác giả bài Nước
mắt của Niềm vui và Hạnh phúc), và Phan Nhẫn
(trong bài Thêm vài hiểu biết về hoạt động
của Ðoàn), bật mí các chính khách này tìm cách móc
nối với MTGP khi tình thế xoay chiều, trước
và sau hòa đàm Paris. Thành phần nhân vật vừa nói
gồm có: a)
các tai to mặt lớn lưu vong tại Pháp như Âu Trường
Thanh, Hồ Thông Minh, Nguyễn Hữu Châu, Bửu Hội,
Bửu Lộc, Trần Văn Hữu, tướng Nguyễn
Khánh... b)
nhóm cựu sĩ quan Pháp hay Quốc gia phản thùng: Trần
Ðình Lan, Ðỗ Khắc Mai, Nguyễn Hữu Khương,
Nguyễn Văn Châu, Vương Văn Ðông,... c)
nhóm tôn giáo thân cộng tại Âu châu và Việt Nam: Thượng
tọa Thích Thiện Châu, Linh mục Nguyễn Ðình Thi, Lm
Trương Bá Cần, Lm Vương Ðình Bích (tây Ðức),
Lm Trần Tam Tỉnh (Canada), Ni sư Mạn Ðà La, TT Thích
Thiện Hoa, TT Thích Thiện Hào, Thích Ðôn Hậu, Ni sư
Huỳnh Liên,.. d)
nhóm tự xưng đứng giữa hay Lực lượng
thứ ba, đa số là dân biểu khối xã hội tại
Hạ viện Saigon quan hệ mật thiết với tướng
Dương Văn Minh: Ngô Công Ðức, Hồ Ngọc Nhuận,
Hồ Văn Minh, Dương Văn Ba, Lý Quý Chung, Nguyễn
Hữu Chung, Nguyễn Văn Bình... e)
Văn phòng đại diện tại Paris của
Dương Văn Minh do người con trai là Dương
Minh Ðức đảm nhiệm. f)
một nhóm khác, tại Việt Nam, gồm có Ls Trần
Ngọc Liễng, Châu Tâm Luân, Lý Chánh Trung, Lm Chân Tín,
Nguyễn Ngọc Lan, Ðinh Văn Ðệ, tướng Nguyễn
Hữu Hạnh, Ls Triệu Quốc Mạnh, Nguyễn
Ðình Ðầu.., từng cộng tác với Mặt trận
trước 1975 mặc dù sống trong vùng quốc gia. CS
cho rằng việc lập một Hội đồng hòa
giải hòa hợp ba thành phần không còn có lý do. Chính
phủ Cách mạng Lâm thời ngưng nhóm ngày 15.5.1974,
sau 47 phiên, tại La Celle- Saint - Cloud vì Bắc Việt quyết
định tổng tấn công bằng chiến dịch Hồ
Chí Minh để nuốt trọn miền Nam. Kết
luận: Ngày
27.3.1973, lúc 17 giờ 45, tại sân bay Tân Sơn Nhất,
các sĩ quan Mỹ cuối cùng rời Việt Nam duới
sự giám sát của Tổ Liên hợp quân sự bốn
bên và Ủy ban quốc tế. TT Thiệu ra đi cuối
tháng 4.1975. Trần Văn Hương nhậm chức Tổng
thống được 5 bữa thì giải pháp Dương
Văn Minh thành hình. Ðể tồn tại không đầy
hai hôm! Qua trung gian Bộ Ngoại giao Pháp, Ðại sứ
Mỹ tại Paris đến gặp Phạm Văn Ba, giám
đốc Thông tin của chính phủ cách mạng lâm thời,
tại Văn phòng, nhờ can thiệp ngưng bắn mấy
hôm để Hoa Kỳ rút hết quân khỏi Việt
Nam. Trưa
29.4.1975, Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền gởi
ba lần liên tiếp - lần chót lúc 14 giờ 30, mới
được tiếp - một phái doàn gồm có Trần
Ngọc Liễng, Châu Tâm Luân và Lm Chân Tín vào trại
Davis, Tân Sơn Nhất, để cầu khẩn phái
đoàn CS trong Ban Liên hợp quân sự dàn xếp cho việc
đánh chiếm Saigon không đổ máu và bớt tổn
hại vật chất. Ngày 30.4.75, lúc 11 giờ 30, xe tăng
và bộ binh Bắc Việt tiến chiếm Dinh Ðộc
Lập. CS
Việt Nam thành công vì biết đấu tranh trực diện
trên bàn đàm phán và biết hoạt động nhiều
phương diện trên mặt trận dư luận, báo
chí. Nói cách khác, họ đã kết hợp tốt đấu
tranh ngoại giao, đấu tranh quân sự và đấu
tranh chính trị, Trong khi đó, Hoa Kỳ bị áp lực
nội bộ và quốc tế kết thúc bằng mọi
giá một cuộc chiến dằng dai, không quyết thắng. Nguyễn
Thị Bình nhắc lại lời của cố Nguyễn
Hữu Thọ, Chủ tịch Hội đồng cố vấn
Chính phủ CMLT, để kết thúc hồi ức: Lịch sử của MTDTGPMN là lịch sử một
giai đoạn hợp thành của toàn bộ lịch sử
dân tộc, quốc gia. Ðúng ra, Thọ và Nguyễn Thị
Bình phải nói một giai đoạn lót đường
để nô lệ hóa đất nước. Ðúng vậy,
MTGPMN chỉ là công cụ xích hóa Việt Nam. Nguyễn Thị
Bình dư biết Thọ đã bị thất sủng và
chết trong tâm trạng ngao ngán xã hội chủ nghĩa,
qua những lời than trách đắng cay của Thọ,
khi bị đẩy ra khỏi Mặt trận Tổ quốc,
nơi dung thân cuối cùng. Nguyễn Thị Bình cháu ngoại
của Phan Chu Trinh - hiện là Phó Chủ tịch Nhà nước,
một hư vị do CS ban bố để thưởng
công đã để cho chúng dùng tên tuổi và giựt
dây tại Hòa đàm Paris. Bà là nhân vật chót của
MTGPMN còn lạc lõng ở lại - vì cái bả danh lợi
- để làm kiểng cho guồng máy tuyên truyền Hà
nội. Nhiều người hẳn còn nhớ tại
Paris, bà từng dõng dạc tuyên bố với báo giới
bà chỉ là một người yêu nước, không
chính thức gia nhập Ðảng CS. Sự thật ra sao?
Ðiều này lại càng làm tủi hổ thêm vong linh của
nhà cách mạng quốc gia Phan Chu Trinh! Trong
số cựu thành viên đoàn đại biểu Chính phủ
Cách mạng lâm thời cùng chung viết trong quyển hồi
ức được bình phẩm, có lẽ Lê Mai, tác giả
bài Những kỷ niệm không bao giờ quên, là người
duy nhất có nhận xét khách quan khi y phát biểu nơi
trang 479: Chúng ta đều biết rằng các thế
hệ cầm quyền ở Mỹ không dễ dàng quên
đi thất bại trong cuộc chiến tranh ở Việt
Nam. Rồi đây, họ sẽ còn gây nhiều trở ngại
trong quan hệ về thương mại; họ còn tiếp
tục xử dụng con bài nhân quyền, đặc
biệt là chiến lược diễn biến hòa
bình để ít nhất cũng làm chậm trễ sự
phát triển của đất nước ta. Dẫu sao,
thiết lập được quan hệ ngoại giao là
một thắng lợi quan trọng. Nhóm
cầm quyền trong Chính trị bộ Hà nội có ý thức
được chăng điều này để sửa
đổi kịp thời trước khi bị Lịch sử
đào thải? LÂM
LE‚ TRINH Ngày
18.8.2001 Thủy
Hoa Trang, Huntington Beach, Californie |