Lê
Văn Lân
Ba làng người
"Trung Hoa gốc Việt tộc" đang sinh sống
phát triển trong nội địa nước Tầu
hiện nay không phải là một điều bí mật hay
rất ít người biết nữa như trước
đây. Trái lại, nó được chính thức kể
như một trong số hơn 50 sắc dân thiểu
số tại Trung Hoa, chiếm cứ khoảng 6.6% toàn
thể của dân số của quốc gia này là 1.3 tỉ
nhân khẩu.
Riêng về Việt tộc - còn gọi chính thức là Kinh
tộc (the Jings) - có con số nhân khẩu khiêm tốn
gồm khoảng hơn 15,000 người, tụ cư sinh
sống trong ba hòn đảo nhỏ là Vạn Vĩ (Wanwei),
Ô Ðầu (Wutou) và Sơn Tâm (Shanxin) trong vùng tỉnh
Quảng Tây. Hình ảnh cô gái Việt hay Kinh tộc xinh
đẹp với cái nón lá hình chóp đã được
tài liệu hay bích chương du lịch của Trung Hoa trưng
lớn lên như mời mọc du khách quốc tế.
Tôi tự hỏi tại sao người Việt mình ngày
nay sẵn sàng đi du lịch Trung Quốc một cách
dễ dàng lại không tạo dịp đi thăm ba làng
Việt tộc nói trên. Trước hết là tỏ
một mối tình thâm trầm man mác đối với
những người vốn là đồng bào đồng
tộc với chúng ta nhưng vì hoàn cảnh lịch
sử xa xưa lại không còn ở chung một địa
bàn địa lý với chúng ta; sau là chúng ta có dịp sưu
tầm lại những di sản quí báu về tinh thần
mà những người Việt tộc này vẫn còn lưu
giữ sau gần 500 năm xa lìa quê hương gốc như
30 điệu hát đúm vào ngày hội Tết đầu
xuân và những tài liệu viết bằng chữ Nôm
của họ.
Mục tiêu vấn đề du lịch thăm ba làng
Việt tộc ở Trung Quốc là như thế nhưng
muốn thực hiện chúng ta cần phải thu thập
những yếu tố dữ kiện nào trên thực
tế.
Sau đây là những điều cụ thể mà tôi đã
tra cứu cẩn thận nên trình bày ra để chia
xẻ cho những ai đồng chí hướng thích
sự ngao du thích thú sưu tầm:
Tài liệu về lịch sử và sự phát triển,
sinh hoạt của những người Kinh hay Việt
tộc (mà tôi tạm dùng chữ Kinh Việt viết
tắt là KV trong bài này) được mô tả rất
đầy đủ trong những sách của Trung Hoa như
Dân Tộc Tri Thức Thủ Sách (Dân tộc
Xuất bản xã năm 1982) viết bằng Hoa ngữ
- China's Minority Nationalities (Foreign Language Press năm
1989) bằng Anh ngữ.
Qua hai tài
liệu trên, chúng ta được đọc về Kinh
Việt tộc như sau:
Nguồn
gốc Kinh Việt tộc
Kinh tộc - ngày xưa xưng là Việt tộc - là một trong những dân thiểu số của Trung Hoo. Kinh Việt tộc chủ yếu nằm rải ra ở các địa khu của những dân tộc tự trị ở vùng duyên hải thuộc khu Phòng Thành của tỉnh Quảng Tây. Theo thống kê 1982, Kinh Việt tộc có 11,995 nhân khẩu. Hồi trước Kinh Việt tộc là một bộ phận của nòi Lạc Việt thời xa xưa, nhưng vào đầu thế kỷ thứ 16, họ đã từ vùng Ðồ Sơn của Việt Nam hiện giờ lục tục di cư đến địa điểm bây giờ, tụ cư trên ba hòn đảo nhỏ gọi là ba làng là Vạn vĩ, Vu đầu và Sơn Tâm thuộc huyện Giang Bình nên người ta quen gọi là "Kinh tộc tam đảo."
Tiếng
nói và Văn tự của người Kinh Việt thế
nào?
"Dân Kinh
Việt tộc tam đảo vốn nói tiếng Kinh hay
Việt và có một văn tự gốc gọi là "chữ
Nôm, nhưng từ lâu họ cũng nói tiếng địa
phương Quảng Châu và xử dụng Hán tự."
Tiếng
nói Kinh Việt
"Nguồn gốc Kinh ngữ (hay Việt ngữ) theo Dân tộc Từ điển của Thượng hải (1987) có thể thuộc vào hai giả thuyết trên ngữ hệ: thứ nhất là thuộc Hán Tạng ngữ hệ, thứ hai là thuộc Nam Á ngữ hệ. Theo sự phân tách của sách này, Kinh (hay Việt) ngữ rất gần tiếng các dân tộc Choang (Tráng) và Ðồng được phân bố tại các huyện tự trị lân cận. Kinh Việt ngữ có 28 thanh mẫu, 106 vận âm. Nguyên âm KV chia thành nguyên âm dài và nguyên âm ngắn. Phụ âm vận ở cuối từ có 6 vận là: (-k), (-m),(-n),(-ng), (-p), (-t), ví dụ như cac(k), nam, man, mang, map, mat. Thanh điệu có năm bực là: trung bình, đê giáng, khúc triết, cao thăng, đê bình, tức là năm dấu giọng. Về ngữ pháp, dân KV không nói ngược như dân Hán như họ gọi Ông Thôn để chỉ chức trưởng thôn xã, Ông Kiểm để chỉ chức kiểm soát an ninh trật tự.
Chữ
Nôm Kinh Việt
"Viết về chữ Nôm của ba làng KV này, tài liệu Anh ngữ ChinaỖs Minority Nationalities (CMN) nói thật rõ như sau: "Người Kinh có một thứ văn tự ghi chép riêng của họ gọi là chữ Nôm (chữ Hoa ghi là Tự Nam, chữ Anh phiên âm là Zinan). Ðược cấu tạo dựa trên căn bản của Hán tự vào cuối thế kỷ 13, chữ Nôm nay được lưu truyền trong những sách thi ca cũ và những bộ kinh tôn giáo." Chúng ta chưa thấy tự dạng và cấu trúc của nó ra sao, nhưng chắc chắn nó phải là chữ Nôm của Việt Nam vào cuối đời Hậu Lê chắc chắn nó phải cổ và chính thống hơn chữ Nôm của ta từ nhà Nguyễn về saụ Nếu ta sưu tầm được chữ Nôm Kinh Việt này, chúng ta có thể hiểu nhiều tiếng Việt thời cổ hơn.
Diễn
biến quá trình định cư của dân Kinh Việt
"Tổ tiên
người Kinh di cư từ Việt Nam sang Trung Quốc vào
khoảng đầu thế kỷ 16. Thuở ban đầu
thì họ định cư trên ba hòn đảo không người
ở vì các vùng lân cận đã có người Hán và người
Choang (Trang tộc) chiếm cứ sinh sống rồị
Tuy sống chen vai thích cánh với người Hán và người
Choang, người Kinh đã tạo dựng nên một khu lãnh
giới riêng cho mình nhưng qua nhiều thế kỷ,
họ đã hàn chặt nhiều mối liên lạc
mật thiết với dân tộc láng giềng. Theo tài
liệu bằng chữ Nôm mà người Kinh còn lưu
giữ trong một ngôi đình của họ, tổ tiên
của Việt tộc tam đảo đã từ bãi Ðồ
Sơn (tỉnh Hải Phòng Việt Nam) đến vùng
đất này vào năm Hồng Thuận. Theo Việt Nam
Sử Lược của Trần Trọng Kim, Hồng
Thuận vào cuối đời Hậu Lê tức là đời
vua Lê Tương Dực (1510 - 1516), như vậy dân Kinh
hay Việt tộc đã sinh sống lập nghiệp trên
đất Trung Hoa gần như tròm trèm 500 năm.
Hiện nay, chúng ta chưa rõ tại sao dân Kinh Việt
lại di cư qua Trung hoa? Vì vùng đất của họ
nằm gần như sát biên thùy Việt Hoa tức là
huyện Móng Cáy tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam ngó
qua Ðông Hưng của Trung Hoa, nên chúng ta có thể phóng
đoán rằng ngày xưa giữa Trung Hoa và Việt Nam không
có con đường phân định rõ ràng về biên
giới có tọa độ rõ ràng. Do đó, đám người
Kinh Việt cứ thấy vùng nào không có ai ở thì
tới cắm dùi lập nghiệp sinh sống, chẳng chính
quyền nào kiểm soát. Lằn biên giới Hoa Việt
mới chính thức vạch ra sau Hiệp ước
Fournier-Lý Hồng Chương, chạy dọc theo kinh
tuyến 108 độ 3 phút 13 giây, vùng nào về phía tây
của kinh tuyến thuộc về Việt nam (thời
ấy do Pháp đô hộ), còn vùng nào ở phía đông
kinh tuyến thì thuộc về lãnh thổ Trung Hoa. Do đó,
vùng đất mà dân Kinh Việt chiếm cứ định
cư trong bao nhiêu thế kỷ bỗng nằm lọt vào
lãnh thổ Trung Quốc. Rồi trải bao nhiêu thời
gian, dân Kinh Việt cứ yên thắm sống trong vùng mà
nhà nước Trung Hoa gọi là "Tự trị khu"
chung với những sắc dân thiểu số như Choang,
Dao trong tỉnh Quảng Tây. Cho đến cuối 1952 - sau
năm 1949 khi chính quyền Trung Cộng chiếm toàn
lục địa Trung Hoa thì mới bắt đầu thành
lập ba thôn làng là Vạn Vĩ, Vu Ðầu và Sơn Tâm
để rồi 1958 thì ba làng Kinh Việt này hợp cùng
các làng khác của dân Choang và Dao để làm thành
huyện tự trị Ðông Hưng. Vào cuối năm 1979
thì các huyện tự trị này họp thành trấn Phòng
Thành tự trị cho đến nay.
Phong
tục tập quán của dân Kinh Việt
"Ta thử xem 500 năm qua xa xứ người Kinh Việt còn giữ dấu tích gì của quê hương mẹ không?
Họ
mặc áo quần ra sao?
"Y phục
của người Kinh rất đơn giản và
thực tế. Phụ nữ ăn mặc theo cổ
truyền với những chiếc áo ngắn, không cổ,
chẽn bó vào thân mình, cài nút phía trước, trên đầu
đội quấn một cái khăn rằn, dưới
mặc những tấm quần rộng nhuộm đen hay nâu.
Khi ra ngoài, phụ nữ thường mặc thêm áo dài tay
chật nhuộm màu sắc nhạt hơn. Họ đeo bông
tai. Tóc phụ nữ phần lớn rẽ ngôi ở
giữa và tóc xỏa hai bên, phía sau lại dùng vải
đen hay khăn đen buộc lại. Dân quê còn đi chân
đất. Còn đàn ông thì thường mặc áo
cộc để làm việc, cổ quấn khăn, nhưng
khi có hội hè thì họ mặc những áo dài chùng
tới gối, hai vạt trước sau đối nhau và
có giải quấn ở eo lưng.
Bây giờ người Kinh ăn mặc giống như người
Hán láng giềng, mặc dù còn một số ít bà cụ
già còn giữ lối ăn mặc theo cổ tục và
một thiểu số phụ nữ trẻ còn búi tó và
nhuộm răng đen vì vẫn còn tục ăn trầu,
còn đàn ông thì đương nhiên ăn mặc
thực tế theo hiện đại như những dân lân
cận khác.
Một điểm về mầu sắc là phụ nữ
Kinh Việt khoái mầu vàng và mầu nâu non, vì hàng năm
vào ngày quốc khánh của Trung Quốc thì có đội
nữ dân quân Giang Bình "chít khăn vàng, mặc áo nâu
non, quần đen, vai đeo súng, lưng thắt băng
đạn đi diễu binh trước khán đài" (Làng
Việt biên thùy - báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 20 tháng Tám
năm 1995).
Họ
ăn uống thế nào?
"Về
ẩm thực, dân Kinh Việt ăn cơm là chính, ngoài ra
còn ăn khoai sắn, khoai sọ, thích ăn cá tôm cua. Ngày
Tết, họ thích ăn xôi chè (hỉ hoan cật nhu
mễ phạn hòa nhu mễ đường chúc). Họ
làm nước mắm cá để chấm và nêm thức
ăn.
Một điểm lý thú là dân Kinh Việt thích ăn hai món
sau, ăn hoài không ngán: Ðó là "bánh đa" bằng
bột gạo có rắc mè nướng trên than hồng mà
sách Tầu gọi là Phong xuy hỉ - bánh phồng do gió
thổi! - và "bún riêu, bún ốc" mà sách Hán tự
ghi là Hỉ ty tức là sợi bún nấu với canh cua và
ốc.
Phong
tục, tín ngưỡng và văn hóa Kinh Việt ra sao?
"Nhà cửa
của dân Kinh Việt thì thấp, làm bằng gỗ hay tre
đan thành phên.
Phong tục hôn nhân thì một vợ, một chồng,
thuở trước thì thường do cha mẹ hai bên
xếp đặt bao biện. Trai gái cùng họ và anh em cô
cậu cấm lấy nhau.
Về tang ma thì chôn dưới đất.
Trừ một thiểu số theo đạo Thiên chúa,
phần lớn dân Kinh Việt theo Phật giáo, cúng vái
đủ thứ thần thánh và sùng bái tổ tiên.
Sinh
hoạt văn hóa và văn nghệ Kinh tộc ra sao?
Dân tộc Kinh
rất ưa thích lối hát đối đáp giao tình
(antiphonal songs) nghe du dương và trữ tình, kiểu như
hát Quan họ hay hát đúm quen thuộc ngoài Bắc ta bây
giờ. (Tài liệu Anh ngữ CMN của Trung hoa về
Kinh tộc đã dùng chữ rất đúng để
dịch chữ hát đối hay hát đúm vì
"Antiphon" là lối hát chia thành nhiều phần
đối đáp và xen kẽ luân phiên - Antiphon is a hymn,
psalm etc... chanted or sung in responsive and alternating parts - Webster's New
World Dictionary). Lối hát đúm hát đối này thường
được dân Kinh long trọng diễn vào ngày Tết
của họ mà họ gọi là "Hát Tết." Hát
đúm, hát đối là do những cô gái gọi là "Hát
muội" (Muội là em gái).
Tài liệu Hoa ngữ DTTT về Kinh tộc trang 91 đã
đặc biệt khen rằng: "Người Kinh trên phương
diện sinh hoạt phấn đấu trường kỳ
đã sáng tạo một nền văn hóa rực rỡ muôn
màu, nội dung của nền văn học truyền
khẩu thật phong phú, ca khúc và khúc điệu đạt
đến 30 loại. Ðàn bầu là một nhạc khí
chỉ riêng Kinh tộc có mà thôi. Phê bình về âm
nhạc và dân ca của Kinh tộc, sách Hoa ngữ nói
rằng: "Lời ca thuần phác, khúc điệu bình
dị ít biến hóa."
"Về phương diện nghệ thuật, tài
liệu Anh ngữ CMN nói thêm thật rõ về Kinh tộc
như sau: "Nhạc cụ cổ truyền của người
Kinh gồm có đàn nhị (two-stringed fiddle), sáo trúc,
trống, cồng và cây độc huyền cầm
(single-stringed fiddle) là cây đàn đặc thù của
họ. Những truyện dân gian và cổ tích của
họ rất nhiều. Những điệu múa ưa
chuộng củ a người Kinh là múa đèn, múa gậy
sặc sỡ nhiều màu, múa rồng và múa y phục thêu
thùa.
Theo sách Dân Tự Trị Thủ Sách của Trung hoa, câu
chuyện cổ tích mà dân Kinh hay kể là Truyện chàng
Thạch sanh (mà cái tên Lý Thông phản phúc trong
truyện được gọi và cải lại là
Nguyễn Thông).
Ðàn
kêu tích tịch tình tang,
Ai đem công chúa trên hang mà về!
Cái đàn
"tích tịch tình tang" gẩy bằng que tre chính là
cây đàn bầu nói trên.
Kinh
tế của ba làng Kinh Việt
Dân Kinh Việt
sống trong một vùng bán nhiệt đới, có mưa
nhiều và lắm tài nguyên khoáng sa. Vịnh Bắc Bộ
ở phía nam là một nơi lý tưởng cho ngư
nghiệp. Trong 700 loại cá đánh ở đây thì hơn
200 loại có giá trị kinh tế cao và thu hoạch
nhiều. Ngọc trai, cá ngựa và sea otters sinh sản
lắm ở đây và thường quí về phương
diện dược liệu. Nước biển của
vịnh Bắc Bộ tốt cho sự làm muối. Mùa màng
chính ở đây là gạo, khoai lang, đậu phọng,
khoai sọ, và kê. Những loại trái cây bán nhiệt
đới như đu đủ, chuối, nhãn thì rất
nhiều. Những khoáng sản dưới đất
gồm sắt, monazite, titanium, magnetite và silica. Những
giải rộng của rừng tràm mọc trên vùng nước
lợ là một nguồn lợi phong phú về chất
tannin dùng làm nguyên liệu tất yếu cho kỹ nghệ
thuộc da.
Dân Kinh Việt sinh nhai chính bằng ngư nghiệp, còn nông
nghiệp là thứ yếu, ví dụ ở làng Sơn Tâm
thì 70% lợi tức của làng do ngư nghiệp, 27% do nông
nghiệp còn lại 3% do các hoạt động khác. Trước
đây, ngư nghiệp không phát đạt vì trang bị
của ngư dân còn nghèo, phươngpháp còn vụng
về chậm tiến và nhất là không thể đánh cá
ở biển sâu. Nông nghiệp cũng kém, mỗi mẫu
tây chỉ thâu hoạch 750 kg thóc, chỉ đủ dự
trữ ăn trong ba, bốn tháng. Do đó, dân Kinh Việt
phải sống chật vật, đổi cá lấy
gạo và các thứ nhật dụng hoặc làm thêm
thủ công nghệ như đan đát tre hay nghề
mộc.
Hiện nay, tình trạng thay đổi nhiều trên ba làng
dân Kinh Việt. Dự án ý nghĩa nhất để chuyên
trị những cù lao đất bồi nghèo nàn là xây
đắp 11 con đê để lấn đất ra
biển và nối các hòn cù lao với đất liền.
Một diện tích khoảng 400 mẫu đất
được tạo dựng tương đương
với bốn lần diện tích đất canh tác cụ
China's Minority Nationalities đã khoe. Về ngư nghiệp,
những ghe thuyền gắn động cơ và nhiều
dụng cụ đánh cá mới trang bị làm tăng gia
sự có thể đánh cá ở biển sâu. Ngành nuôi
ngọc trai đã thành một kỹ nghệ phát triển
từ năm 1958 khi những trại nuôi trai sản
xuất ngọc được thiết lập vào
những vũng biển nước sâu lý tưởng cho
loài trai tăng trưởng. Cũng từ năm 1958, cây
cối được trồng trên một diện tích 433
mẫu đã tạo thành một bờ đai hàng rào
chắn gió và cát di chuyển. Qua nhiều năm, trái cây
như chuối, đu đủ, dừa, nhãn di thực
từ vùng khác đã mọc sum xuê trên các vùng hải
đảo.
Làm
sao thực hiện một chuyến du lịch vào vùng Kinh
Việt Tam đảo?
Trước
đây, Trung Quốc đã có chánh sách đóng kín bức
màn tre nên chuyện du lịch Trung Hoa là một vấn
đề khó khăn thiên nan vạn nan với bao thủ
tục và gần như mạo hiểm như chúng ta có
thể phối kiểm những bài viết du khảo
về Trung Quốc của nguyệt san tạp chí National
Geographic. Nhưng cho đến cuối tháng Giêng năm
1986, thì 244 đô thị của Trung Quốc được
mở ra để du khách ngoại quốc có thể thăm
với thông hành có chiếu khán và giấy phép hợp
lệ. Kể từ đó, cơ quan Dịch Vụ Du
Lịch Quốc Tế của Trung hoa - China International Travel
Service - cùng nhiều công ty khác đã phối hợp
chặt chẽ với công ty China Focus Inc. hay Ritz Tours...
tổ chức thường xuyên nhiều chuyến tuần
du Trung Quốc với giá cả tương đối
rẻ bao gồm bao nhiêu thứ nào là vé phi cơ, vé xe
lửa, vé xe buýt, vé thăm thắng cảnh, vé coi show cùng
với những bữa ăn. Ðiều này chứng tỏ
chính quyền Trung Quốc rất hoan nghênh sự thăm
viếng của du khách để thâu ngoại tệ. Riêng
về du lịch vùng Tam Ðảo ở tỉnh Quảng Tây
thì tôi chưa thấy phổ biến rộng rãi mặc dù
trên nhiều tài liệu và bích chương du lịch
của Trung Hoa thường in hình cô gái Kinh Việt đội
nón lá rất tươi với dáng vẻ mời mọc.
Tôi nghĩ họ đang cần quảng cáo cho nhiều
đô thị hay thắng cảnh nổi danh trước
đã, để thu vào nhiều lợi từ khách
quốc tế mà họ gọi là nguồn lợi big
spenders. Tuy nhiên, theo sự dọ hỏi của tôi với
vài hướng dẫn viên du lịch địa phương
ở Trung Hoa thì công ty của họ sẵn lòng phối
hợp với China Focus tổ chức những chuyến du
lịch nhỏ kiếm ăn kiểu cò con phụ thêm
(extension trip) vào những tours chính mà chỉ cần trả
phụ trội một phí tổn tương ứng. Ví
dụ chúng tôi vừa đi một chuyến 15 ngày du
lịch trả khoảng 1,550 mỹ kim để đi
một vòng qua các nơi như Bắc Kinh, Tây An, Quế Lâm,
Nam Kinh, Hàng, Tô Châu, Thượng Hải, nhưng lại
muốn đi thăm hai ngày ở Hàng Châu (gần Thượng
Hải) nên chỉ trả thêm mỗi người 350
mỹ kim thôi. Tính ra mỗi ngày chỉ trả 150 mỹ
kim. Vùng Kinh Việt Tam Ðảo thuộc tỉnh Quảng Tây
nên tôi nghĩ có thể dàn xếp với công ty du
lịch cho chúng ta thăm phụ thêm khi cái tour chính
của chúng ta đi qua gần đấy như thăm
Quế Lâm, Quảng Châu hay Hồng Kông miễn là chúng ta
có ít nhất là 10 người cùng đi.
Nếu chúng ta cố tình muốn thăm ba làng Việt
tộc, thì vấn đề không khó mà có thể tổ
chức một thuận lợi nếu có nhiều người
cùng thích đi.
Lê
Văn Lân