Trich
tu Dan Chu - G.
S. NGUYỄN ÐĂNG THỤC
LTS.
Sau khi hiệp định Genève 20-7-1954 ký kết, đất
nước Việt Nam chia hai, gần một triệu người
dân miền bắc đã di cư vào nam, cùng với dân
miền nam xây dựng một quốc gia Việt Nam không
Cộng sản.
Bài Dân Tộc Tính sau đây là diễn văn của
Giáo sư Nguyễn Ðăng Thục đọc ngày 9 tháng
Ba năm 1955, trong một buổi diễn thuyết tại Sài
Gòn, được coi như một tuyên ngôn về Lập
Trường Dân Tộc của miền Nam Việt Nam lúc
đó.
*
* *
Chúng ta đang
đòi hỏi một ý-thức để thống-nhất
quan-niệm và hành-động. Cái hệ-thống ý
thức ấy không phải tìm trong sách vở xa lạ, mà
ở tại chính trong bản thân thực nghiệm của
dân-tộc, một dân tộc đã dám ngẩng đầu
lên phương Bắc để tuyên-bố: "Nam-Việt
Chi Quốc, Văn-hiến chi bang" (Bình Ngô Ðại-cáo).
Bởi vì
hệ-thống ý-thức mà chúng ta đang đòi hỏi
không phải là bất cứ một ý-thức-hệ
ngoại-lai nào, mà chính là cái ý-thức-hệ của dân-tộc
này, đã sống và đã nhiều phen tranh-đấu
để sống là một dân tộc.
Bởi vậy
mà tôi phải bắt đầu bằng vấn đề
Dân tộc tính, trước khi nói về dân-tộc-tính
Việt-Nam.
Trước khi
vào đề,tôi xin cung kính mà tâm-niệm vong linh các
bậc anh-hùng liệt-nữ, đã ngót một thế
kỷ nay kể từ Phan Ðình Phùng đã hăng hái
hy-sinh hạnh-phúc hay tính mạng cho dân -tộc. Song sự
kính phục có ở trong lòng mà tôi cũng không đừng
nhận chân một sự thực này là tất cả
những vận-động giải phóng dân-tộc, cách
mệnh quốc-gia ở Việt-Nam từ trước
tới nay, đã tỏ ra thiếu một lý thuyết
vững vàng để hướng dẫn hành-động
và chống cự với các chủ-nghĩa ngoại-lai mà
các ngài cảm thấy không thích- hợp cho dân-tộc.
Một chủ-nghĩa gây được lòng tin và đáng
được tin cậy , thì cần phải dựa vào
một lý-thuyết xác-thực vững vàng. Bằng không
thì chủ-nghĩa có thể rơi vào không tưởng vì
quá chủ quan. Ðã không tưởng thì dễ thất
bại. Sự thất-bại liên tiếp của phong trào
dân-tộc Việt-Nam thực đã chứng tỏ điều
ấy vậy. Và cũng nhờ có một lý thuyết có
hệ-thống chặt -chẽ mà phong-trào cộng-sản
đã bành trướng trong khoảng 30 năm từ Âu
sang Á .
Ðây, chúng ta
muốn kiến-thiết một ý-thức hệ dân-tộc,
trước hết chúng ta hãy hỏi xem dân-tộc là gì
về phương diện khoa học, nghĩa là xã-hội-học.
Ðối với
xã-hội-học, dân-tộc-tính có thực hay không?
Phải chăng vì ta quá yêu nước ta, quá yêu tiếng
ta mà chúng ta đã tạo ra chữ dân-tộc tính? Có người
hoài nghi sự thực-tại Dân-tộc-tính, cho là một
danh-từ trừu tượng viển-vông của một
bọn trí-thức ngồi rồi đã nặn ra trong lúc
"trà dư tửu hậu."
Bởi
vậy mà trước khi trình bày ý-thức-hệ của
dân-tộc Việt-Nam về phương diện
sinh-hoạt kinh-tế, chính -trị và văn-hóa, chúng tôi
cần xác định ở quan-điểm xã-hội-học
cái thực tại dân-tộc. Ðấy là đầu đề
câu truyện bữa nay: Các yếu tố tạo ra dân
tộc tính.
Dân
tộc là gì?
Trước
hết nó là một sự cộng đồng chung đụng
của một số người. Giữa tất cả các
người trong một dân tộc, nếu không có một
cái gì chung đụng cộng đồng với nhau thì dân
tộc ấy bất thành dân-tộc.
Nhưng sự
cộng đồng chung đụng ấy, phải là môt
sự cộng đồng bền vững. Một buổi
họp chợ đông người hội họp không
phải là một cộng-đồng bền vững nay
họp mai tan, như thế không có thể là một dân
tộc dược.
Người ta
còn cho rằng một dân tộc là một cộng đồng
về giòng dõi về huyết thống hay về gia-tộc.
Nhưng các quốc-gia dân tộc hiện nay trên
thế-giới đều pha màu chủng loại khác nhau,
huyết tính khác nhau nghĩa là lai giống đi nhiều.
Vậy cộng-đồng chủng tộc không cần
thiết lắm cho sự thành lập của một dân
tộc . Dân-tộc là một cộng đồng của
một số người do lịch-sử đã cấu
kết nên. Dân-tộc là một sản phẩm của
lịch sử. Những đế-quốc ngày xưa như
đế-quốc của Tần-thủy hoàng, đế
quốc Thành-cát Tư hãn, đế-quốc Nã-phá-luân,
đế quốc La-Mã, tuy có sự cộng đồng mà
không có thể thành một dân tộc. Bởi vì sự
cộng-đồng ấy là một cộng-đồng ô
hợp bất thường do những cuộc chinh phục
chiến-thắng nhất thời, chỉ chờ sự
thất bại của một chiến sĩ là sẽ tan rã.
Vậy một
quốc-gia Dân-tộc không phải là một biến
ảo bất thường mà là một cộng đồng
bền vững của một số người đã cùng
nhau sinh tử cộng tồn.
Nhưng
một cộng đồng bền vững chưa đủ
tạo ra quốc gia dân-tộc ví như nước Trung
Quốc, nước Ấn Ðộ, nước Nga của
Nga hoàng. Cái gì phân biệt một cộng-đồng dân-tộc
với một cộng-đồng chính thể?
Lãnh
thổ và giống nòi
Khi ngươì
ta nói đến một dân-tộc, một quốc-gia,
ở Việt ngữ thông thường hai tiếng
Quốc-gia hay Dân-tộc đi dôi với giang-sơn hay xã-tắc.
Giang sơn là núi sông, tượng trưng cho khu vực
đất đai, hoàn cảnh địa-lý khí-hậu. Xã-tắc
vốn nghĩa xưa là đất với lúa, mà dân nông-nghiệp
đã thần thánh hóa để thờ phụng. Phải
chăng giang-sơn hay xã-tắc đã là cái hoàn cảnh
địa-lý khí-hậu, có biên-giới nhất-định
nó đã ảnh-hưởng vào cá tính dân-tộc.
- Thời
kỳ mà nhân-loại hãy còn là những bầy dân
du-mục, những bộ lạc sống lang thang nay đây
mai đó, thì ở giai-đoạn ấy con người
đã nhận định được một cái linh
hồn chung là cái ý-thức chung của đoàn thể. Cái
linh-hồn chung ấy đối với họ lúc bấy
giờ có một tính cách thiêng-liêng bao trùm tất cả
những ý thức cá-nhân còn chìm trong toàn-thể và hoàn-cảnh.
Nhưng vì chưa sống nhất định ở một
chỗ nào, cho nên các đoàn thể du mục phải phóng
đại ra một đối tượng là con Rồng,
là Mặt Trời, là con Gà Trống... để tượng
trưng cho cái hồn chung ấy và để phân biệt
đoàn thể mình với các đoàn thể khác. Ngay
từ thời kỳ này, các bộ lạc du-mục đã
ý-thức được cá-tính của mình và đã
cố-gắng bảo-vệ lấy. Thời kỳ này
hẳn là huyết tính hay chủng-tộc-tính, gia-tộc-tính
có đóng vai một yếu-tố để cấu
tạo ra cá-tính, đoàn-thể.
Lạc Long Quân
với Âu Cơ, một trăm trứng nở ra một trăm
con trai, năm mươi theo cha lên núi, năm mươi
theo mẹ xuống biển, hay Sơn-Tinh với
Thủy-tinh tranh đấu đều là những thần
thoại lưu truyền về sự phân-biệt cá tính
theo huyết tính, theo giống nòi. Và nếu giống nòi
hay huyết tính ngày nay trên thế giới, không còn là
một yếu tố quan-trọng trong sự cấu-tạo
ra dân-tộc nữa, nhưng ở Việt Nam hai tiếng
đồng-bào còn mang nặng tình yêu nước thương
nòi, tỏ rằng đối với dân Việt ta,
huyết tính vẫn còn là một yếu tố đáng
kể trong dân-tộc-tính.
Rồi nhân
loại bắt đầu định cư vào một khu
vực đất đai nhất định. Ở đấy
có những điều kiện thuận tiện để
sinh tồn như đất đai phù sa trồng cấy, sông
ngòi để giao thông, núi non, biển cả hay sa mạc
là những thành trì tự-nhiên để bảo vệ
sự an cư lạc nghiệp và từ đấy bắt
đầu có văn minh, vì có định cư mới có
thể tích lũy và tiến bộ. Từ đấy thì
quốc-gia dân-tộc mới bắt đầu lấy biên-
giới đất đai để hoạch định lãnh
thổ. Và lãnh thổ hay quốc-gia đã dược
thần-thánh hóa để biểu thị cụ thể cho
cái ý thức đoàn thể, cái ý thức dân-tộc- tính.
Ðấy là giang-sơn xã-tắc.
Và bắt đầu
từ khi ngưòi ta lấy khu vực đất đai
định cư, để làm vũ đài tranh-đấu
thì loài người cũng bắt đầu phân chia ra
từng đoàn-thể biệt-lập. Sự sinh-hoạt
biệt lập trong một khu vực địa-lý đã
ảnh-hưởng rất sâu vào tinh-thần của các
đoàn-thể, khuôn đúc cho cá tính quốc-gia, cho dân-tộc-tính
mỗi ngày một rõ rệt, từ tính cách vật-tổ
mơ màng, dân-tộc-tính tiến tới tính cách văn-hóa,
chính-trị, kinh- tế.
Bởi vì hoàn-cảnh
địa-lý đã đặt cho các phần tử
của một đoàn thể định-cư những
vấn-đề thực-tế chung phải giải
quyết. Muốn lợi-dụng đất phì nhiêu ở
các trung nguyên chẳng hạn để trồng cấy thì
ít nhất cũng phải đem tất cả tài năng
để khai khẩn, biến chỗ đất hoang vu thành
đồng ruộng. Rồi chúng ta còn phải đào kinh,
dẫn thủy để cho nước thủy triều ra
vào tùy theo ý muốn. Tất cả những vấn đề
thực tế ấy đòi hỏi ở chúng ta phải
thi thố tài ba, nào tổ-chức, nào phát- minh, nào phân-công
và hợp-tác với nhau chặt-chẽ góp sức với
nhau một cách lâu bền, có sự điều khiển
chung công việc cho nhất trí. Luôn luôn sống trên
một giải đất có sự xúc-tiếp với nhau
trong công việc sinh-nhai, cũng như trong khi nhàn rỗi,
chia vui sẻ buồn với nhau, do đấy mà
tinh-thần sinh-tử cộng-tồn ngày càng nẩy
nở, liên-kết các phần tử thành một khối
trăm người như một, muôn người như
một.
Do đấy mà
người ta có thể hy-sinh được tính-mạng
để bảo-vệ lấy giang sơn, nghe theo tiếng
gọi của sông núi. Vậy lãnh thổ thực là
một yếu-tố trọng-đại để cấu
tạo ra một dân-tộc, để hun đúc nên
một dân-tộc-tính.
Nhà sử
học Michelet viết: "Không có một nền tảng
địa-lý thì dân-tộc vẫn là động cơ
của lịch-sử hầu như đi trên không trung, lơ
lửng như trong bức tranh tầu không đất đứng.
Và chúng ta nên nhận thức rằng đất đai không
chỉ là sân khấu cho hoạt động của đoàn-thể
vì những thức-ăn, vì khí-hậu thủy-thổ mà
thôi, nó còn ảnh hưởng người ta bằng trăm
đường ngàn lối. Tổ nào chim ấy."
Gần đây
nhà sử học Camille Julian cững viết: "Sự
khai thác một khu rừng rậm, việc làm khô ráo
một cánh đồng lầy, cũng quan-trọng cho
sự định đoạt của một xã-hội,
quan-trọng ngang với một cuộc cách-mạng chánh-trị
hay là một tác-phẩm văn-chương."
Trên đây
mới nói tới hai yếu-tố cấu-tạo ra dân
tộc tính là yếu-tố huyết-tính hay là chủng
tộc và yếu tố lãnh thổ hay địa-lý. Nhưng
cả hai yếu-tố ấy cũng chưa đủ
tạo nên dân-tộc-tính, tuy đều là yếu -tố
cần thiết.
Thực vậy,
chủng-tộc không đủ làm cho dân-tộc Việt-Nam
nay còn là Việt-Nam vì rằng trong số hàng trăm
giống Việt ở phía nam sông Dương Tử cùng
thờ chung một vật Tổ là con Rồng, thì hầu
hết đã bị đồng hóa với dân Tầu,
đều đã bị Tầu hoá hoàn toàn, riêng chỉ có
giống Lạc-Việt này là còn tồn tại cho tới
ngày nay.
Còn yếu
tố địa-lý, cộng đồng lãnh-thổ, tuy là
điều kiện căn-bản để tạo nên
tinh-thần quốc-gia , hay một dân-tộc-tính, và riêng
đối với dân-tộc Việt Nam yếu-tố địa-lý,
cộng-đồng lãnh thổ, khởi kỳ-thủy
ở lưu vực sông Nhị Hà, Thái Bình ngoài Bắc
Việt thực đã đóng góp một vai trò quyết-định
cho sự bảo tồn nền độc-lập của dân-tộc
Việt-Nam đối với các cuộc xâm-lược
của quân Nguyên, quân Tống, quân Minh, quân Thanh.
Nhưng lãnh thổ cũng không đủ để quyết-định dân-tộc tính. Yếu-tố lãnh thổ chỉ mới là điều kiện cho dân-tộc hoạt-động, xây-dựng, biểu-hiện dân-tộc-tính ở các cách thức tổ chức sự cộng-đồng sinh-hoạt về thực-tế và tinh-thần. Lãnh thổ không phải là một vật thần bí. Nó chỉ tượng trưng cho một cái gì cao-siêu hơn, ấy là tinh thần đoàn kết và thống nhất.
Tổ
chức kinh tế chánh trị
Thực vậy,
lãnh-thổ cộng-đồng mới chỉ là điều
kiện cho một hệ thống kinh- tế chung thống
nhất. Sự liên-hệ về sinh-hoạt kinh tế
phần lớn do điều kiện giao thông thuận
tiện. Giao-thông bắt đầu là đường
thủy, là sông ngòi, cho nên ở xã-hội định-cư
nông-nghiệp phần nhiều người ta họp
chợ bên sông, cũng như người ta lập làng,
lập ấp ở hai bên bờ sông. Có lãnh-thổ
rồi mới có phân công trong sự sản xuất và tích
lũy. Có tích lũy rồi mới có tiến bộ, câu
phương ngôn: "Có an cư rồi mới lạc
nghiệp" rất xác đáng. Nhưng quốc-gia dân-tộc
không phải là một mớ người ô hợp. Và lãnh-thổ
hay chủng-tộc không phải là một định
mệnh thần bí thiêng liêng. Chúng ta nên nhớ bao giờ
loài người cũng đóng vai chủ-động trên
mặt đất, cũng tự làm lấy lịch-sử
của mình. Sở dĩ loài người khác với
bầy cầm thú, là vì ở chỗ ta tuy cũng phải
thích-ứng điều-hoà với hoàn cảnh địa-lý,
khí hậu để sinh-hoạt, nhưng người ta dã
tiến-bộ từ bầy cầm thú đến
bộ-lạc, đến quốc-tộc dân-tộc. Sự
tiến-bộ ấy là nhờ sự biết sáng tác ra công-cụ,
kỹ-thuật, biết tổ-chức đời sống
chung, biết phân công hợp tác. Trong sự tổ-chức
đời sống, về tinh thần cũng như
thực tế, loài người tỏ ra khác với
cầm thú ở chỗ biết ý thức, đã tự mình
làm chủ được hoàn cảnh, tự mình làm
lấy lịch-sử và tiến bộ không ngừng. Ðấy
là văn-hoá tính của nhân loại.
Các dân tộc
muốn phát triển, muốn sống còn trên mặt địa-cầu
này thì hẳn rằng đời sống kinh-tế không có
thể để cho lộn xộn ô hợp, kẻ nọ
tranh cướp kẻ kia, vô trật-tự, vô
kỷ-luật, công tư lẫn lộn.
Một thời
xa xăm trong những bộ lạc công-cộng nguyên-thủy
thì đoàn thể chỉ mới là một gia-tộc
vật-tổ hay là một thị tộc nhà Lang trong đó
những tác dụng chính của đoàn thể như chánh
trị, văn hóa, kinh-tế còn lẫn lộn với nhau
chưa phân-hóa, và chủ quyền bấy giờ còn có tính
cách mơ màng, thần-bí.
Nhưng rồi
chẳng bao lâu những đoàn thể đó càng ngày càng
bành-trướng, chủ-quyền cũng phân hóa dần
dần, đời sống kinh tế cũng được
tổ chức, và quyền lợi công với
quyền-lợi tư đã có những luật lệ nghiêm
chỉnh định-đoạt. Cái lịch trình tiến-hóa
ấy đã được quan niệm phân-minh từ hơn
hai ngàn năm nay ở quyển sách Hệ từ, mà
rất phù hợp với ý kiến của các nhà xã
hội học hiện đại.
"Có
trời đất rồi muôn vật mới nẩy nở.
Có muôn vật rồi mới có phân biệt nam nữ.
Rồi
mới có vợ chồng. Rồi mới có cha con, gia đình.
Rồi mới có lệ vua tôi Rồi mới có giai cấp
trên dưới.
Từ
đấy người ta mới đặt ra lễ nghĩa
kỷ luật."
Vậy
kỳ-thủy trong sinh hoạt kinh-tế chung đụng
đã nẩy ra có sự phân công để tăng gia
sản-xuất. Tuy sự phân công ấy đà bắt
đầu có từ thời-kỳ du-mục nhưng
mới chỉ phân công theo Nam giới và Nữ giới,
rất sơ sài. Chỉ khi nào bắt đầu định-cư
vào một lãnh thổ, một khu vực đất đai
nhất định thì sự phân-công và tổ chức
mới trở nên phức-tạp. Nhưng sự phân-công
vốn để trả lời cho nhu cầu đoàn-thể,
chứ không có ngụ ý phân chia giai cấp, quí tiện,
để rồi tranh đấu một mất một còn.
Nếu thực
sự có sự tranh-đấu giữa người với
người để tiêu diệt lẫn nhau theo đúng
nghĩa: "Người là lang sói với người"
thì nhân loại còn làm sao mà trưởng thành
quốc-tộc, dân-tộc? Thì đâu còn là dân-tộc-tính?
Trái lại dân
tộc đã luôn luôn biểu dương cái ý thức và
sứ-mệnh lịch-sử của nó. Bên trên sinh
hoạt kinh tế cộng đồng càng ngày lễ-nghĩa
càng phát-triển, càng ngày tổ-chức chính-trị càng
trở nên phức tạp và cần thiết. Khi nói đến
cái ý-thức của một quốc-gia dân-tộc thì người
ta nghĩ ngay đến cách thức tổ chức đời
sống chung, tức là chế độ chính-trị và xã-hội
kinh-tế của nó. Vậy điều kiện thiết
yếu của một dân-tộc là điều kiện
tổ-chức đời sống chung. Ðiều-kiện này
đòi có sự tổ-chức chủ-quyền để
điều hành nhất-trí quyền lợi kinh tế.
Tổ chức chủ-quyền chính-trị và kinh tế là
chế độ và triều đại.
Chế-độ
và triều đại đã dóng một địa vị
trọng-yếu trong việc củng-cố cho cái ý-thức
quốc-gia dân-tộc. Nhà xã-hội-học Frazer, trong
cuốn tìm hiểu về nhừng nguyên-do thần-bí
của quân-chủ có viết :
"Sự trung
thành với nhà vua là một liên-hệ chính-trị cơ
bản ở nước Pháp dưới chế-độ
xưa, cũng như tất cả các dân-tộc Âu-tây. Dân-tộc
đồng nhất với chế-độ quân-chủ,
bởi một hiện-tượng tương-tự như
hiện-tượng đã chuyển-dịch cho các đế-vương
đầu tiên ở Ai Cập tất cả thế lực
do các tín ngưỡng cổ xưa đã biểu lộ
tất cả thế-lực thần-bí của
vật-tổ." Frazer (Les origines magiques de la royauté).
Hẳn rằng
chế-độ sinh-hoạt kinh-tế, chánh-trị đều
là những yếu-kiện, những động-cơ thúc-đẩy
nhân-loại trong lịch-trình tiến-hóa. Nhưng phải
chăng đấy là nguyên-lý tạo ra dân-tộc ? Nước
Gaulle lẫn lộn nhiều thị-tộc đã thống
nhất thành một quốc gia sau cuộc chinh-phục và
đô-hộ của Ðế-quốc La-Mã. Song phải chăng
cuộc chinh-phục và thống-nhất ấy chỉ
tựa vào võ-lực và sức mạnh thống trị? Ngoài
sức mạnh thống trị, phải chăng cuộc
đô hộ của La Mã không mang lại cho đất
Gaulle một nền văn-hóa La Hy làm nguyên-lý thống
nhất của dân-tộc Pháp.
Cũng như
đất Giao Chỉ đã bị nhà Hán đô-hộ hàng
mười thế kỷ. Các bộ-lạc thị-tộc
sống trên đất Giao Chỉ bấy giờ dưới
quyền thống trị của nhà Hán đều đã
đoàn-kết lại thành một khối thống
nhất. Nếu sức mạnh thống-trị và chế-độ
có thể thống-nhất được thì sao Giao
Chỉ không thấy sát-nhập vào bản đồ Trung
Quốc, như Quảng Ðông, Quảng Tây, Vân Nam chẳng
hạn và dân Giao Chỉ sao không đồng hóa vào với
dân Tầu như Mãn, Mông, Hồi, Tạng mà lại
thống nhất thành một khối là dân tộc Việt-Nam
ở trên một quốc-thổ biệt lập với
Trung Quốc là Ðại Cồ Việt?
Vậy chế-độ
chánh trị với sức mạnh võ-lực không đủ
để tiêu-diệt được cá-tính độc-lập
của dân-tộc Việt Nam. Bởi vậy mà sau những
cuộc khởi nghĩa kế-tiếp tuy thất bại luôn,
nhưng nuôi được cái tinh-thần bất-diệt
của một đoàn-thể, muốn sống riêng
biệt, độc-lập, tự-do để tự mình
tổ-chức lấy đời sống chung của mình.
Rồi mãi tới Ðinh Bộ Lĩnh, người đã
thống nhất được thập nhị sứ-quân,
nước Việt Nam mới trưởng thành là một
quốc-gia độc lập. Nhưng cũng chính vì cái
tinh-thần văn-hóa Trung Hoa nó đã dạy cho dân
VIệt biết cách tổ chức nền thống-nhất
của mình. Xem thế đủ biết chế-độ
chính-trị biểu-thị cho ý chí sống chung của
đoàn-thể hơn là một nguyên lý cấu tạo ra dân
tộc.
Nhưng cái
tinh-thần quốc-gia dân-tộc ấy, trải qua các giai
đoạn lịch sử về trước, nếu có
biểu-thị ra dưới hình-thức trung-quân và
trung-thành với triều-đại thì chỉ vì các nhà
vua ấy, các triều-đại ấy đã tượng
trưng ở thời đại ấy cho cái ý chí của
đoàn-thể như là hiện-thân của những
nguyện-vọng chung, như thế-lực của tâm
hồn chung hợp thành cái nguyên-lý chính-thức của
chủ-quyền quốc-giaa dân-tộc. "Duy thiên âm
trất hạ dân": Chỉ có trời ngầm xuống
ở nhân-dân.
Hội-nghị
Diên-Hồng dưới triều Trần đã
chứng-minh nhà vua không dám vũ đoán tự-quyết
về vận-mệnh đoàn-thể. Nhà vua lưỡng
lự muốn hàng địch, mà nhân-dân thì quyết
đánh, kết cục ý-chí của nhân dân đã vạch
đường cho triều-đại phải tuân theo.
Như vậy
thì nhà Nước với chế-độ chính-trị
kinh-tế không tạo nên được tinh-thần dân-tộc.
Quyền lợi kinh-tế có thể là một động-cơ
để đoàn-kết, để bảo vệ lấy
quyền sống thực tế. Nhưng nó cũng lại là
động-cơ để chia rẽ, bởi vì lòng ích-kỷ
bản nhiên của con người "Giầu ghen khó ghét."
Cộng đồng
quyền-lợi thực không phải nguyên lý tạo nên các
phong-trào giải phóng dân-tộc liên tiếp diễn ra trên
thế giới kể từ sau cuộc thế-giới
đại-chiến 14-18 đến nay. Năm 1923, đã
xẩy ra một việc chưa từng thấy ở
lịch-sử chính-trị và ngoại giao quốc-tế.
Hội-nghị quốc-tế Lausane chính phủ Thổ Nhĩ
Kỳ đã ký với chính phủ Hy Lạp một
hiệp ước trao đổi từng khối lớn nhân-dân
của nhau. Dân Hy Lạp ở Thổ trở về đất
Hy và Thổ ở Hy trở về đất Thổ. Sau
đấy thì từng vạn người dân Cơ Ðốc
vốn sinh sống ở đất Thổ từ trước
năm 1914 đã trở về Hy Lạp hết. Nền kinh
tế ở Thổ do đấy mà bị đảo
lộn, vì tất cả nền nội-thương ở
Thổ và một phần lớn ngoại thương
nữa, trước năm 14-18 vốn ở trong tay
khối dân Hy Lạp ấy cả. Các nhà lãnh đạo
Chính-phủ Quốc-gia Thổ lúc ấy tuy biết trước
sự tai hại về quyền lợi kinh tế sẽ
xẩy ra như thế, nhưng vì tinh thần dân-tộc
đòi hỏi, bắt-buộc họ phải quyết-định
sự trao đổi ấy bất cứ bằng một giá
nào, để kiến thiết lại một quốc gia
độc-lập hoàn-toàn. Do đấy chúng ta thấy
sự cộng-đồng quyền-lợi kinh-tế
phải ở sau sự cộng-đồng ý-thức
quốc-gia dân-tộc.
Và sự
cộng-đồng quyền-lợi kinh tế không đủ
khiến cho dân Ấn Ðộ từng khối lớn nhân dân
nổi lên phong trào bất hợp tác. Trong hàng ngũ có
đủ các tầng lớp người bất phân giai
cấp, nào là trí-thức, nào là vô-sản, lao-động,
nông-dân, thương gia, công chức, học-sinh, nam
phụ lão ấu, một lòng đoàn-kết đứng trên
quyền-lợi vật-chất để hưởng-ứng
tiếng gọi thiêng liêng của Tổ-quốc.
Lại như
ở Việt Nam trải qua ngót một thế kỷ nay,
sự cộng-đồng quyền-lợi không thể
giải thích cho bao nhiêu hiện tượng hy-sinh tính
mạng cho Tổ Quốc, bị tù tội, bị lao-lung
của khắp các từng lớp xã-hội Việt Nam
kẻ giầu cũng như người nghèo, kẻ
học-thức cũng như người thất học.
Vậy thì ngoài
sự cộng-đồng quyền-lợi kinh-tế còn có
những yếu-tố tâm lý, động-cơ tinh-thần
phức-tạp tập hợp lại để cấu
tạo ra cái thực tại xã-hội là dân-tộc, cái ý-thức
quốc-gia đứng ở trên ý-thức giai-cấp.
Những nhà chủ-trương giai-cấp đấu tranh
vì quyền-lợi kinh-tế cộng-đồng cũng
phải thừa nhận cái thực tại Dân-Tộc-Tính,
như Horrabin chẳng hạn, tác-giả cuốn "Ðịa
lý kinh-tế sử đại quan" xuất bản 1929
ở Luân-đôn: "Chúng tôi thừa nhận thực
tại của Dân-tộc tính. Và nếu không có bằng
chứng gì khác nữa, thì những biểu thị của
dân Ái Nhĩ Lan và dân Ấn Ðộ cũng xác nhận cho
cái thực tại ấy vậy." (La Revol. Prol. Ed tr. 67)
Và
đứng trước cái sự kiện lịch-sử
hiếm có ngày nay đang diễn ra ở trước
mặt là từng khối người bất phân tín-ngưỡng
hay giai-cấp, gần một triệu lũ lượt
bỏ mồ mả tổ tiên để mạo hiểm vào
đây. Ðể tìm cái chi? Quyền lợi chăng?
Quyền lợi còn phải có công trình khai-thác. Vả chăng
có ngu chi mà bỏ quyền-lợi sẵn có để
đi tìm một quyền lợi viển vông ở phương
xa đất lạ? Không, cái việc di dân khổng lồ
còn đang tiếp diễn chỉ vì một lý-do, một
động cơ giản-dị là: Dân-tộc-tính
truyền thống của dân Việt, vượt lên trên
tất cả quyền-lợi nhỏ nhen.
Ngôn
ngữ và tâm lý chung
Ngoài nhừng
yếu-tố kể trên như huyết-thống, lãnh-thổ,
chế-độ kinh-tế và chánh-trị, đều là
những yếu tố thiết yếu để tạo-thành
cái thực tại xã-hội là Dân tộc, còn một
loại yếu-tố đặc-biệt thiết-yếu
nữa là yếu-tố tâm-lý chung và ngôn ngữ. Muốn
cùng nhau chung sống trong một đoàn thể thì ít
nhất cũng phải cảm-thông được với
nhau; ngoài tình đồng-bào còn phải giao-dịch trao
đổi với nhau về tư tưởng và tình
tự. Nào phải chỉ có sự trao đổi tinh
thần giữa người sống mà thôi. Còn phải
truyền tử nhược tôn, thế hệ này
truyền lại gia-bảo tinh-thần cho thế hệ sau
nữa. Ðây là sứ mệnh của văn-tự ngôn-ngữ.
Ngôn-ngữ quả thật là một lợi khí để
cho người nọ người kia hiểu nhau. Có
hiểu nhau rồi mới hợp-tác, mới có sự
đồng-tình nhất trí trong hành động của
đoàn thể. Các nhà xã-hội-học thuộc về
lập trường Duy-tâm hay Duy-vật, thảy đều
công-nhận ngôn ngữ là một điều-kiện
tối thiết-yếu cho sự sinh-hoạt và tiến hoá
của xã-hội nhân-loại. Ðối với dân tộc,
tiếng nói mẹ đẻ lại càng thiết-yếu
để thống nhất ý-chí, thông-nhất nhân-tâm. Nhưng
tiếng nói mẹ đẻ có phải là yếu tố
quyết-định cho sự tồn-tại của dân-tộc
hay không ? Ðây là vấn-đề đã gây lên hai bên
bờ sông Rhin một cuộc khẩu chiến
kịch-liệt giữa lý thuyết Quốc-gia Ðức
với lý thuyết Quốc-gia Pháp. Nhà tư-tưởng
Ðức là Fichte, lên tiếng lấy ngôn ngữ làm tiêu-chuẩn
của dân-tộc-tính. Ông căn-cứ vào những
triết-gia như Bacon, Vico và Leibnitz đều chủ-trương
cái yếu-tố giản-tiện của lịch sử
một dân-tộc là tiếng nói. Trong những bài
diễn-thuyết cho dân-tộc Ðức, ông định-nghĩa
một dân-tộc-tính như sau:
"Những
kẻ nói cùng một thứ tiếng là một đoàn
thể mà tạo-hóa đã liên-kết với nhau bằng
những sợi giây phức tạp và vô hình."
Cùng một
chủ-trương ấy, Rohr trong Hàn lâm viện Ðức,
về tiếng nói mẹ đẻ có trả lời câu
hỏi "Một dân tộc là gì?": -- "Chúng tôi
gọi một dân-tộc cái bản ngã chung mà tính cách riêng
biệt thì căn cứ vào tiếng nói, vào chính cái phương-tiện
tinh-thần nó đã tạo ra cái quan-niệm của chúng
ta về thế-giới và về nhân-loại, sự tranh
đấu của dân-tộc Ðức là sự tranh-đấu
cho ngôn-ngữ. Những biên-giới dân-tộc ngày nay trước
hết đi theo với biên giới ngôn-ngữ. Kẻ nào
cho con cái mình trưởng-thành ở một tiếng nói
ngoại-quốc thì ấy là đã làm quà con cháu mình cho
một dân-tộc khác. Vận-mệnh của ngôn-ngữ
chính là vận-mệnh của dân-tộc."
Theo nhà lãnh-tụ
quá-khích quốc-gia thì tiếng mẹ đẻ, thứ
tiếng mà chúng ta suy-nghĩ, thứ tiếng mà chúng ta dùng
để phản-ứng lại một cách tự nhiên
với những việc xẩy ra hàng ngày ra bên ngoài,
tiếng nói ràng buộc chúng ta vào một nền văn-hóa
và tục-lệ truyền thống, tiếng nói nó khuôn
đúc tâm-hồn chúng ta hẳn là một tiêu chuẩn
quyết-định dân-tộc-tính. Sự thực thì luôn
luôn và bất cứ ở nơi nào, hễ công dân có trường
hợp tỏ bầy ý muốn một cách tự-do thì nó
sẽ phát biểu về vấn đề dân-tộc-tính
bằng tiếng mẹ đẻ. Chính tiếng mẹ
đẻ hơn là tiếng sinh ngữ khác đã tạo
ra ý-thức dân-tộc, cái ý-thức nó quyết định
ý-chí của người ta muốn làm công-dân của
một dân-tộc nhất-định nào. Phải chăng
cũng vì một ý-tưởng động-cơ ấy mà
cách đây 30 năm học-giả Việt-Nam ngoài Bắc
trong bầu không khi thất vọng về chính-trị
đã phải đề-cao truyện Kiều để
cố bảo-vệ lấy quốc-hồn, quốc-túy:
"Truyện
Kiều còn tiếng ta còn
"Tiếng ta còn nước ta còn."
Ðấy là
đề cao triệt để ngôn-ngữ vậy. Nhà xã-hội
học tuyên-bố về ngôn-ngữ rằng: "Không
thể có ở đâu một tiếng nói thống
nhất, ngoài nơi nào đã có một dân tộc, hay là
ngoài nơi nào đã thấy có một dân-tộc có ý
thức về sự thống nhất quốc-gia dân-tộc."
Nhưng ở
thế-giới hiện nay có những dân nói cùng một
thứ tiếng mà hợp thành hai dân-tộc như Anh
Mỹ chẳng hạn, lại cũng có thể như nước
Thụy-Sĩ gồm bốn thứ tiếng nói khác nhau. Và
tiếng nói là sản-phẩm của lịch sử xã-hội
như Meillet đã nhận xét: "Mỗi một tiếng
nói là một sản-vật của một lịch trình
tiến hóa trong ấy có những ảnh hưởng
phức tạp. Tiếng nói, hơn là một chế độ,
tập tục xã-hội khác, đòi phải giải-thích
bằng lịch sử."
Vậy thì
tiếng nói thay đổi tùy theo thời đại và
địa-phương. Nó không phải là nguyên-lý đẻ
ra sinh hoạt dân-tộc. Nó phải dựa vào sinh-hoạt
để chứng minh và nó phát-xuất tự cuộc
sinh-hoạt của dân-tộc.
Bởi vì ngôn-ngữ
không có miên-tục tính, thay đổi với thời gian
và không-gian như thế, cho nên ở bên này sông Rhin, nhà
triết-gia Renan đại-diện cho tinh thần dân-tộc
Pháp đã lấy thuyết tâm-linh về dân-tộc-tính
để trả lời thuyết ngôn-ngữ về dân-tộc-tính
của thuyết gia Ðức như sau:
"Một
dân tộc là một linh hồn,
một nguyên lý tâm linh."
Cái linh-hồn
ấy thuộc về quá-khứ và hiện-tại. Quá
khứ là của chung dân-tộc gồm cả một gia-tài
kỷ-niệm vinh-quang hay tủi-nhục. Hiện tại là
một nguyện vọng chung, một mối đồng tâm
cùng nhau sinh tử cộng tồn, một ý-chí chung để
tiếp tục làm vẻ vang rạng tỏ cái hương
hỏa bất phân tổ-tiên để lại. Một dân-tộc
cũng như một cá thể là kết quả của
một dĩ-vãng xa-xăm của bao nhiêu sức
cố-gắng, bao nhiêu nỗi hy-sinh, bao nhiêu lòng tận
trung báo quốc. Thờ phụng tổ tiên là một trong
những hành vi chính-đại để ghi nhớ công
ơn người đã tạo tác cho ta. Một quá
khứ vẻ vang, những danh nhân lịch sử, một
vinh-quang chân-chính, đấy là tất cả vốn
liếng xã-hội làm nền móng cho cái ý-tưởng
quốc-gia dân-tộc.
Lấy
linh-hồn chung của dân-tộc như Renan đã tuyên
bố, kể thì cũng quá trừu tượng thật,
nhưng dân tộc mà sở dĩ tồn tại, và
biết bao con dân đất nước trên thế
giới đã nỗ lực hy-sinh tất cả để
bảo-vệ Tổ-Quốc tự-do độc-lập là
vì người ta tin vào Tổ-quốc như một cái gì
thiêng-liêng, bất diệt, vô cùng linh động vượt
quá giới hạn của không gian và thời gian.
Cho dân tộc có
một linh-hồn mà bảo là chủ-quan không xác thực
thì tức là muốn phủ nhận địa-vị
chủ-động của loài người trên mặt
đất.
Non cao
ai đắp mà cao
Sông sâu ai bới ai đào mà sâu ?
Vô ý-thức
hay ý-thức, nhân-loại cũng tự làm lấy
lịch-sử của mình, cho nên dù thuyết tâm-linh
của Renan có quá trừu-tượng đi nữa, chúng
ta cũng không có thể phủ-nhận được
yếu-tố tâm-linh về Dân-tộc-tính.
Giữa hai
thuyết Dân-tộc-tính trên đây , một của Ðức,
một của Pháp, một đằng căn cứ vào
điều kiện khách quan là ngôn-ngữ, một đằng
căn cứ điều kiện chủ quan là tâm-linh, thì
có thuyết thứ ba là thuyết truyền-thống
của dân-tộc Việt mà người anh-hùng nhà Lý
đã thu vào bốn câu thơ bất hủ :
Nam
quốc sơn-hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư .
Núi Sông
Nam có Vua Nam-Việt
Trên sổ trời riêng biệt phân minh
Sao người xâm phạm, nghịch binh ?
Chớ coi người sẽ tan tành hư không.
Ðây Lý Thường
Kiệt đã lấy Sơn-Hà Xã-Tắc làm yếu-tố
quyết-định cho dân-tộc -tính. Sơn Hà Xã
Tắc đây không phải là Núi Sông vật hình mà là Sông
Núi có hồn, theo tin tưởng truyền-thống của
dân Việt. Và Xã-Tắc không phải chỉ là
tổ-chức hình-thức lễ-nghi mà là cả một
biểu tượng về đất đai lúa thóc
tức là thần thánh hóa tổ-chức cộng đồng
sinh-hoạt kinh-tế của dân nông-nghiệp. Như
vậy Sơn-Hà Xã-Tắc thực biểu-thị cái ý-niệm
Dân-tộc-tính do sự tổng hợp yếu-tố tâm
linh với yếu-tố vật-thể, điều-kiện
chủ-quan với điều-kiện khách-quan đã
tạo nên.
Họ Lý tin vào
Sơn-Hà do mệnh Trời ngầm định, nhưng không
quên "Có trời mà cũng có ta."
Không quên cái ý-chí
quật-cường, cái vai trò chủ-động của
nhân-dân Việt, cho nên Ông tin chắc đánh tan những
quân xâm-lược. Bắc cự Tống, Nam phạt Chiêm-Thành,
tây chinh Mường mán.
Nhờ có
một tin tưởng thần-bí vào Sơn-Hà Xã-Tắc, vào
Dân-tộc-tính linh-động, vào chủ-quyền
Quốc-gia như vậy, nên tướng sĩ nhà Lý đã
mở một thời kỳ võ công oanh-liệt của nước
nhà. Và hơn thế nữa, binh pháp Việt-Nam lại còn
được người Tầu qua học hỏi,
bắt chước. P. Pasquier trong sách "L'Annam d'autrefois"
phải khen rằng: "Nước Nam biết dùng lính làm
ruộng trước nước La-Mã thủa xưa."
Vậy Dân-tộc-tính
đâu phải một vật không linh-động? Dân-tộc
ý-thức sứ-mạng lịch sử của nó, ý-thức
vai tuồng chủ-động của nó biểu-hiện ra
thời gian và không gian bên ngoài, nào vật tổ, nào lãnh
thổ, nào văn hóa, nào quốc học, nào kinh-tế chính-trị.
Cái ý-thức ấy tồn-tại như André Siegfried trong
Hàn Lâm Viên Pháp đã nhận định:
"Trong tâm lý
các dân-tộc có một căn bản bất biến nó luôn
luôn biểu hiện ra. Về nhiều điểm chúng ta còn
giống với tổ-tiên Gaulois của chúng ta, và
những đặc tính mà sử-gia Tacite thời La-Mã
đã ghi nhận được ở các dân Man-di hay các dân
Do-Thái đương thời thì cũng còn nhận
thấy được ở dân Ðức, dân Do-Thái ngày
nay. Tuy nhiên phải có những sự thích ứng." (L'Âme
des peuples)
Cái ý-thức
ấy manh-nha nẩy nở tự bên trong sâu thẳm tâm-hồn
các phần-tử nhân-dân để phóng đại ra bên
ngoài ở các biểu hiện. Rồi lại từ các
biểu hiện cụ thể ấy phản-chiếu vào
trong tâm-hồn để lại phóng đại ra
những chiến-công oanh liệt của tướng sĩ,
những chí-khí dũng-mãnh của sĩ-phu, những hành-động
phi thường, khảng khái của tất cả anh-hùng
dân-tộc.
"Thà
làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất
Bắc."
Như vậy dân-tộc
nào phải vô hồn?
Hồn của
nó nằm trong Dân-tộc-tính, mọi sợi giây
truyền-thống bất tuyệt, nối quá khứ
với hiện-tại, kể từ vật tổ Rồng
Tiên đến Hồn Sông Núi, đến Sơn Hà Xã
Tắc, cho đến hồn nước ngày nay ở
miệng nhà cách-mệnh Quốc Gia Phan Bội Châu:
"Chứa
chan Máu-Quốc, Nước vẩn vơ hồn."
Hồn nước,
cái ý-thức truyền-thống khi tiềm-tàng khi
biểu-lộ, từ cá-nhân thông với núi sông vũ-trụ,
một dòng bất đoạn bất phân nối quá-khứ
với hiện-tại và tương lai, đây là Dân-tộc-tính,
và Dân-tộc-tính ấy có thật.
G.
S. NGUYỄN ÐĂNG THỤC