Cộng Sản Việt Nam và Tự Lực Văn Đoàn
Trích từ Diển Đàn Dân Chủ -
From:
knguyen@nrn1.NRCan.gc.ca (Kim Nguyen)
Date: 1997/12/04
-
Bộ Biên tập Tự Lực Văn Đoàn gồm
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Khái Hưng Trần Khánh
Giư, Tứ Ly tức Hoàng Đạo Nguyễn Tường
Long, Thạch Lam tức Nguyễn Tường Lân (mất vì
bịnh lao ngày 28/6/1942 tại làng Yên Phụ, ven Hồ Tây
Hà Nội, hưởng dương 33 tuổi). Sau đó
Bộ biên tập được tăng cường thêm
bởi thi sĩ Thế Lữ, văn sĩ Thanh Tịnh,
Đỗ Đức Thu, Vũ Đình Liên, họa sĩ
Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Cát Tường.
Nhất
Linh tên thật là Nguyễn Tường Tam. Ở tuổi
thanh xuân, ông thi vào trường Đại Học Y Khoa nhưng
sau đó lại bỏ để thi và đỗ vào trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương khóa 1924.
Rồi sau đó ông sang Pháp du học vào năm 1927.
Nhất
Linh về VN năm 1930 sau khi đã qua trường học
làm báo ở Paris và đỗ bằng cử nhân khoa
học (Lý và Hóa). Năm 1932, ông đứng ra làm chủ
bút tờ Phong Hoá và năm 1933 tuyên bố thành lập nhóm
Tự Lực Văn Đoàn với các văn nghệ sĩ
cộng sự
-
Sau 1945, Tự Lực Văn Đoàn công khai hoạt động
với lập trường rõ rệt : chống Cộng, bài
phong, đả thực. Trong giai đoạn này, nhóm Tự
Lực Văn Đoàn dùng tờ báo "Việt Nam" và
tờ tuần báo "Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới" để
làm cơ quan tuyên truyền. Hoạt động được
một thời gian nhóm này bị Việt Minh -- tức CS
theo CS Quốc Tế và văn hóa Mácxít -- khủng bố nên
tan rả.
-
Sau khi chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ chỉ
được vài tháng thì Khái Hưng, một trong
những sáng lập viên của Tự Lực Văn Đoàn,
đã bị Công an CS bắt và giam tại "Trại
Hối thất Chính trị phạm" ở Liên khu 3
ở Lạc Quần, Trực Ninh . Sau đó, ông bị CS
thủ tiêu bằng cách nhốt ông vào bao bố và dìm
chết tại bến đò Cựa Gà thuộc Phủ Xuân
Trường vào năm 1947.
CS
và Tự Lực Văn Đoàn
Theo
Thái Việt (Quốc Gia, 15/1/96)
Đọc
mấy lời phát biểu của Bộ trưởng Văn
hóa Trung Quốc Lưu Đức Trung trên báo Toàn Cảnh,
số 61, 8/1995 về vấn đề văn hóa với giáo
sư VNCS Lương Ngọc Toản có đoạn :
"Cần
phải thấy rằng Trung Quốc tiến hành cải cách
thể chế kinh tế chứ không phải tiến hành
cải cách thể chế XHCN. Chế độ XHCN về
cơ bản không thay đổi bản chất của nó.
Văn hóa là kiến trúc thượng từng của
chế độ xã hội XHCN lại càng không thể thay
đổị Vì vậy Trung Quốc vẫn thực
hiện các phương châm sau :
-
Văn hóa, nghệ thuật phải phục vụ thể
chế chính trị.
-
Trăm hoa đua nở. trăm nhà đua tiến theo định
hướng XHCN.
-
Dương vi trung dụng, cổ vi kim dụng (Lấy ngoài
phục vụ trong, lấy cổ phục vụ kim).
Nguyên
tắc đặt XHCN lên đầu trong nền văn hóa
nghệ thuật là không thay đổi, vì bản chất
của XHCN là không thay đổi". Nghe lạ tai quá vì
theo học thuyết Mác-Lê :"Cơ sở hạ tầng
quyết định kiến trúc thượng tầng",
"Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả
cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng
bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng".
Đúng
như Mác nói, khi có cải cách kinh tế (hạ tầng)
thì thượng tầng (văn hóa, nghệ thuật...) cũng
bị đảo lộn.
Trước
đây, về sáng tác văn nghệ người ta lấy
chủ nghĩa hiện thực xã hội làm gốc. Nói
theo lối nói của các văn nghệ sĩ thời
kỳ "đổi mới" là theo chủ nghĩa
"đỏ hồng", cái gì của XHCN thì phải
khen; còn thuộc đế quốc phong kiến thì tô đen
. Do đó khi nhận định về nhóm Tự Lực Văn
Đoàn, tất cả các nhà phê bình, các giáo sư đều
phải dựa vào khuôn của Đảng mà viết mà
giảng cho sinh viên, học sinh.
Trong
bản báo cáo đọc tại hội nghị văn hóa
toàn quốc lần thứ nhất (1948), Trương Chinh,
Tổng bí thư Đảng CSVN đã nhận định
về nhóm Tự Lực Văn Đoàn như sau :
"Sau
cơn khủng bố trắng 1930-1931, 1 sự buồn
rầu u uất tràn ngập tâm hồn dân VN. Văn chương
lãng mạn của Tự Lực Văn Đoàn ra đờị
Tầng lớp tư sản không dám đấu tranh
bằng chính trị và quân sự chống đế
quốc nữa, bèn chuyển sang đấu tranh bằng văn
hóa chống phong kiến (các báo Phong Hóa, Ngày Nay, tủ sách
Tự Lực,...)
"Tiểu
thuyết lãng mạn Tự Lực Văn Đoàn, về
bản chất, mang màu sắc tiêu cực và thóat lỵ Cũng
như mọi khuynh hướng lãng mạn tiêu cực khác,
tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn càng ngày càng
xuống dốc. Thế giới quan, nhân sinh quan ngày càng
lạc hậu suy đồi thì tác phẩm cũng không tránh
khỏi đi vào con dường bế tắc của
nghệ thuật tư sản. Đó là qui luật chung
của văn học công khai thời kỳ dó" ("Chủ
Nghĩa Mác và Vấn đề Văn Hóa VN", 1949).
Tể
tướng về văn hóa Trường Chinh phán như
trên, nên Thế Lữ (1 trong những cột trụ
của Tự Lực Văn Đoàn) trong lớp Chỉnh
huấn hồi tháng 6/1953 phải phụ họa:
"Chủ
trương của Tự Lực Văn Đoàn không
những không tiến bộ mà còn phản tiến bộ.
Nó không có công mà còn có tội với nhân dân. Sau thất
bại cách mạng tư sản, nhân dân càng bị áp
bức và mê muội, Tự Lực Văn Đoàn tung ra
khẩu hiệu yêu đời, vui vẻ, trẻ trung và nêu
nhãn hiệu cải cách để lôi kéo tầng lớp
thanh niên tiểu tư sản đang hoang mang trước
thời cuộc. Văn thơ, tiểu thuyết của nó
đề cao những tư tưởng phi vô sản,
đưa thanh niên vào con đường lãng mạn, buông
thả tự do cá nhân, thoát ly đấu tranh, trốn tránh
thực tế,...
"Cùng
với Hồn Bướm Mơ Tiên, Đời Mưa Gió,
Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, văn thơ của tôi
đã góp pần vào cái thế độc tôn của
Tự Lực Văn Đoàn và tăng thêm liều
thuốc độc hại vào đầu óc thanh niên
từ 1932 đến 1945... Ảnh hưởng đến
nay vẫn chưa hết hẳn". ("Việt Nam Máu
Lửa", Nghiêm Kế Tổ).
Phan
Cự Đệ trong cuốn "Tiểu Thuyết VN
Hiện Đại", tập I, nxb Đại học và
Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội, 1978 cũng lên án :
"Tiểu
thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng hiện nay còn gây
tác hại với học sinh và sinh viên ở các đô
thị miền Nam và không phải không có ảnh hưởng
đến 1 bộ phận nhỏ nào đó của độc
giả miền Bắc. Tự Lực Văn Đoàn là 1 món
nợ tinh thần cần phải được thanh toán và
là 1 vấn đề văn học sử chưa được
giải quyết triệt để .
"Không
phải tự nhiên mà Khái Hưng và Nhất Linh tước
hết mọi vũ khí đấu tranh về mặt tinh
thần của con người, bắt con người
quỳ mọp trước tôn giáo và mọi qui luật
tự nhiên của xã hộị Tất cả những cái
đó phản ảnh tâm lý bi quan, đầu hàng, thỏa
hiệp của 1 tầng lớp đàn em, những người
tiểu tư sản từng đi theo Ký Con, Nguyễn Thái
Học và đã thất bại đau xót trong cuộc
khởi nghĩa Yên Bái .
"Về
phương diện mỹ học, Tự Lực Văn
Đoàn đề cao những quan điểm nghệ
thuật suy đồị.. Quan điểm nghệ
thuật thuần túy của nhóm Tự Lực Văn Đoàn
đã bộc lộ 1 cách toàn vẹn trong 2 cuốn
tiểu thuyết cuối cùng Đẹp và Thanh Đức
của Khái Hưng.
"Những hoạt động
của nhóm Tự Lực Văn Đoàn rất có lợi
cho đế quốc. Âu hóa, vui vẻ, trẻ trung
đưa thanh niên vào con đường trụy lạc
sống gấp. "Yêu nhau đi trời hôm tối
rồị..". Thực dân Pháp cũng chỉ mong thanh niên
có thế ! Còn Hội Ánh Sáng, Hướng Đạo
chỉ đánh lạc hướng thanh
niên vào con đường
cải lương tư sản. Trong thời kỳ mặt
trận dân chủ, những tổ chức này đã tranh
chấp quần chúng với Đảng, làm cho quần chúng
xa rời cuộc đấu tranh giai cấp. Không ít
những trí thức, văn nghệ sĩ, những thanh niên
học sinh đầy thiện chí nhưng ngây thơ đã
đi vào con đường cải lương phản
động. Truyện và tiểu thuyết Tự Lực Văn
Đoàn thời kỳ đó cũng tập trung phục
vụ đường lối chính trị của họ. Ngày
13/12/1936, Tự Lực Văn Đoàn hô hào lập Hội
Ánh Sáng thì năm 1937 tiểu thuyết Gia Đình của
Khái Hưng và năm 1938, tiểu thuyết Con Đường
Sáng của Hoàng Đạo và Nhất Linh đã lý tưởng
hóa những địa chủ tân học như cặp
Hạc Bảo, Duy Thơ đang thi hành những cải cách
như đào giếng, làm nhà ánh sáng, mở trường
học, phát thuốc,
cứu tế cho nông dân !
Những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn
đã xuyên tạc cuộc đấu tranh giai cấp,
chủ trương điều hòa mâu thuẫn giai cấp,
đề cao bọn địa chủ tư sản.
"Tiểu
thuyết lãng mạn Tự Lực Văn Đoàn có
nhiều độc tố và điều nguy hiểm là
những độc tố đó lại được
bọc bởi 1 hình thức nghệ thuật khá quyến rũ
và hấp dẫn.
"Đó
là lý do cắt nghĩa tại sao bọn Nhân Văn Giai
Phẩm chủ trương tái bản tiểu thuyết
của Nhất Linh và Khái Hưng..."
Đó
cũng là cách đánh giá của Phan Cự Đệ
hồi năm 1974, hồi mà nhà văn CS Nguyễn Minh Châu
gọi là "nền văn học minh họa", vì
"Các nhà văn ta trong mấy chục năm qua được
chăm sóc, chăn dắt kỹ lưỡng quá và
phần đông (nếu không nói là tất cả) đều
bị coi là có tì vết trong lịch sử đời
cầm bút, do đó đã xảy ra tình trạng "né tránh,
che chắn, rào đón, đối phó". Trong mỗi nhà
văn hình như có 2 ngòi bút : một ngòi bút cho dân chúng
đọc, 1 ngòi bút cho lãnh đạo đọc, mà ngòi
bút thứ hai đã trở nên tài hoa và có kinh nghiệm"
.
Nhưng...
Khi
có "cuộc đổi mới tư duy", thì Phan
Cự Đệ lại thú nhận:
"Chúng
ta đang nhìn nhận lại 1 hiện tượng văn
học mà trước đây do điều kiện
lịch sử, việc đánh giá có chỗ khe khắt
hoặc chưa toàn diện.
"Đó
là những hiện tượng như Tự Lực Văn
Đoàn, Vũ Trọng Phụng... Chuyên luận về
Tự Lực Văn Đoàn của chúng tôi nhằm đánh
giá lại những đóng góp của Tự Lực Văn
Đoàn đối với văn học thời kỳ
1932-1940 nói riêng cũng như đối với nền văn
học VN hiện đại nói chung".
Cũng
theo "Tự Lực Văn Đoàn, Con Người và Văn
Chương", nxb Văn Học, Hà Nội 1990, Phan Cư
Đệ khen ngợi hết lời và cho rằng Tự
Lực Văn Đoàn rất đáng để học
hỏi :
"Trong
phạm trù ý thức hệ tư sản, Tự Lực Văn
Đoàn đã phần nào nói lên khát vọng của dân
tộc dân chủ của đông đảo quần chúng,
chủ yếu là của tầng lớp tiểu tư
sản trí thức và viên chức thành thị. Tự
Lực Văn Đoàn không đặt vấn đề
giải phóng xã hội nhưng đã đấu tranh đòi
giải phóng bản ngã, đặc biệt đấu tranh
cho tự do hôn nhân, cho quyền sống của người
phụ nữ chống lại sự ràng buộc khắt
khe của lễ giáo phong kiến ."
"Các
nhà "thơ mới" trong Tự Lực Văn Đoàn
đã góp phần làm phong phú hơn thế giới nội
tâm của con người, mở ra trước bạn
đọc 1 thiên nhiên, 1 đất nước quê hương
đầy cảm xúc và thanh sắc, mang đến 1 cái tôi
cá thể hóa trong cách cảm thụ thế giới
của thi cạ Tự Lực Văn Đoàn cũng
đả kích gay gắt
bọn phong kiến quan liêu, nhất là bọn quan lại
ôm chân thực dân Pháp và biểu lộ 1 thái độ
cảm thông chân thành đối với đời sống
nghèo khổ của dân quệ
"Một
số tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn đề
cao tinh thần dân tộc : những khách chinh phu trong thơ
Thế Lữ, trong tiểu thuyết Đôi Bạn, Đoạn
Tuyệt có tinh thần yêu nước, yêu dân, có thái
độ phủ nhận cái xã hội thối nát
đương thời, tuy lý tưởng của họ còn
mơ hồ yếu ớt và đượm màu sắc
cải lương chủ nghĩạ
"Tự
Lực Văn Đoàn có hoài bão về 1 nền văn hóa
dân tộc và thực sự đã có đóng góp lớn
cho nền văn học dân tộc. Hoạt động văn
chương lúc đó là chuyện sang trọng, thiêng liêng,
là lý tưởng sống của 1 lớp ngườị
Không làm được cách mạng thì làm văn chương,
gửi tâm sự yêu nước vào lòng yêu nước, quê
hương, yêu tiếng Việt.
"Cho
nên bgười ta đã đi vào văn chương
với tất cả niềm say mê và tâm huyết của mình.
Tự Lực Văn Đoàn đã góp phần rất quan
trọng vào việc canh tân văn học, xây dựng văn
học VN hiện đạị
"Nhờ
tiếp thu được những ảnh hưởng
của nền văn học hiện đại phương
Tây, Tự Lực Văn Đoàn đã đẩy các
thể loại báo chí, tiểu thuyết, thơ kịch,
truyện ngắn tiến lên 1 bước về phía trước.
Về phương diện văn học sử, Nhất
Linh, Khái Hưng đã có những đóng góp quan trọng
trong
việc xây dựng 1 nền
tiểu thuyết hiện đại .
"Tự
Lực Văn Đoàn đã tiếp thu được
những ảnh hưởng của cả phương Tây
và phương Đông, của truyền thống văn
học dân tộc để xây dựng nền tiểu
thuyết VN hiện đạị
"Một
điểm nữa cũng đáng biểu dương là
tổ chức gọn nhẹ của Tự Lực Văn
Đoàn chỉ có 7 người mà tập hợp được
1 lực lượng cộng tác đông đảo, gây 1
phong trào văn học rộng lớn trong toàn quốc.
"Chỉ
trong 7 người mà quản lý 1 tờ báo hằng
tuần, 1 nhà xuất bản, 1 nhà in lớn và làm nên cơ
ngơi, sự nghiệp, giữ 1 vai trò gần như là
chủ chốt trên văn đàn trong suốt 10 năm
trời ! Thật là 1 kinh nghiệm về tổ chức
đáng để cho chúng ta nghiên cứu học tập".
Sợ
ý kiến của mình bị lẻ loi, Phan Cự Đệ
có nhắc lại ý kiến của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn
: "Nhóm Tự Lực Văn Đoàn không phải là nhóm
duy nhất nhưng là nhóm quan trọng nhất và là nhóm
cải cách đầu tiên của nền văn học
hiện đại". (Sông Hương, số 37, 4/1989).
Ngoài
ra 1 tác giả khác như Chu Giang Nguyễn Văn Lưu còn
đi xa hơn nữa :"Sau thơ mới, sau Tự
Lực Văn Đoàn, đến nay chưa có 1 cuộc cách
mạng văn học nàọ..".
Qua
trên ta thấy, nếu CS không "cởi mở tư duy"
thì Phan Cự Đệ đã không dám viết lại
nhận định của mình về nhóm Tự Lực Văn
Đoàn, quay 180 độ với các ý kiến theo minh
họa, làm vừa lòng cấp trên.
Mấy
năm nay, sau cuộc đổi đời của các nước
CS phương Tây, CS phương Đông lại run sợ
ra lệnh bịt miệng các trí thức nói chung và nhà văn
nhà báo nói riêng.
Bộ
trưởng Văn hóa Trung Quốc Lưu Đức Trung
tuyên bố :
"Trung
Quốc không cho phép lập nhà xuất bản tư nhân,
không có hãng phim tư nhân, chỉ có thể cho phép 1
số đoàn nghệ thuật tư nhân. Cả nước
Trung Quốc có 2200 tờ báo, 500 nhà xuất bản. Trung
ương chỉ nắm những báo lớn và nhà
xuất bản lớn, còn phần cấp tỉnh và thành
phố các báo địa phương, phân cho các ngành
quản lý báo của ngành, nhà xuất bản của ngành.
"Các
xuất bản phẩm và văn hóa phẩm được
qui định chặt chẽ việc thẩm định.
Đối với phim và băng hình, phải được
Hội đồng Thẩm định thuộc Bộ Phát
thanh, Truyền hình, Điện ảnh của Trung Quốc
lập ra thẩm định trước khi phát hành; còn các
xuất bản phẩm thì giám đốc nhà xuất
bản phải chịu trách
nhiệm về nội dung.
"Trung
Quốc có thái độ rất nghiêm khắc đối
với nhà xuất bản. Xuất bản phẩm của
nhà xuất bản phải đạt được 100%.
Nếu xuất bản được 99 cuốn sách
tốt, song để 1 cuốn sách xấu lọt ra
thị trường thì nhà xuất bản bị đóng
cửa". (Toàn Cảnh số 61).
Chánh
quyền CSVN áp dụng y chang kinh nghiệm khóa mồm khóa
miệng trí thức bằng cách trên, nên vài năm gần
đây số sách xuất bản rất ít so với
thời kỳ mới "đổi mới", đa
số là các sách khảo cứu về thời xưa vô thưởng
vô phạt, chính vì vậy quần chúng cũng không thèm
để ý vì không đáp ứng được lòng mong
mỏi về các vấn đề bức xúc của xã
hội, nên số lượng in thật khiêm tốn, thường
là 1000 cuốn, có khi 500 cuốn trên tổng số cả
chục triệu dân, trong đó có hàng triệu người
đã học qua bậc trung học, hàng trăm ngàn sinh viên
đã tốt nghiệp đại học.
Đúng
như 1 nhà văn đã nói văn hóa, văn nghệ
của nước ta dưới ách CS cũng nghèo nàn như
đất nước chúng ta vậỵ