Những cuộc thanh trừng của Cộng sản
Hà Nội
Nguyễn
Minh Cần
- trích
từ Dân Chủ- Trích trong sách "Mặt Thật" của
Bùi Tín
Vào
những năm từ 1963-1967, Cục bảo vệ quân
đội theo lệnh
của
Bộ Nội vụ và Trưởng ban tổ chức
trung ương đảng bắt
giữ
hàng loạt cán bộ ở Bộ Quốc phòng, Bộ tổng
tham mưu, được
coi là thân cận nhứt của Giáp.
Tất
cả số ấy đều xuất thân từ học
sinh, sinh viên, gia
đình
tiểu tư sản thành thi.. Không ai xuất thân từ
bần cố
nông
cả đó là những sĩ quan xuất sắc. Đại tá Đỗ
Đức
Kiên
nguyên là kỹ sư canh nông, sang Liên-xô học trường
quân
sự
cấp cao, được bằng đỏ, là cục trưởng
tác chiến tài bạ.
Dại
tá cục trưởng quân báo Nguyễn Trọng Nghĩa
vốn là sinh viên
luật khoa, rất thông minh tài bạ Họ không đụng
được
đến
Giáp vì ông tỉnh táo, chặt chẽ, cẩn thận, giữ
rất "kín
vỏ", không để "hở sườn", lại
được Hồ Chí Minh quý
và
tin cậỵ
Không
đụng đdược Giáp thì họ cắt tay chân
của Giáp. Từ sau
1975,
đặc biệt là mấy năm gần đây, những
cận thần thân
tín
của Giáp thưa thớt dần. Số đông về hưu,
một số đã
chết.
Cái chết của Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn
làm Giáp
đau
buồn khôn xiết. Thái ở gần Giáp từ dạo
còn ở bên
Trung
Quốc, và sau đó ở căn cứ Việt Bắc từ
cuối năm 1944. Về
Hà Nội, chính Giáp đã chọn Thái làm Tổng tham mưu
trưởng.
Thái ở Bộ Tổng tham mưu cho đến khi chết
đột
ngột
vào 6/1986.
Trong
30 năm liền ở Bộ Tổng tham mưu, Thái hàng
ngày làm
việc
với Giáp với lòng quý mến không suy suyển. Văn
phòng
Bộ
Quốc phòng ở ngay sát Bộ Tổng tham mưu, cùng
chung một Sở
chỉ huy tác chiến. Từ năm 1957 trở đi, tuy
lui xuống làm
Tổng
tham mưu phó thứ nhất, "nhường" cho
Văn Tiến Dũng làm
Tổng
tham mưu trưởng nhưng trên thực tế Thái vẫn
là linh hồn
của Bộ Tổng tham mưu, cán bộ tham mưu
được đào tạo
lớp
nầy đến lớp khác đều công nhận vai
trò không thể
thiếu
được của Thái trong sự trưởng thành của
mình.
Dúng
nửa năm sau, Giáp khóc một lần nữa sau cái chết
bất
thần
khác, không rõ nguyên nhân, của Lê Trọng Tấn, một
cán
bộ
quân sụ có tàị Trong toàn quân, Tấn có uy tín cực
lớn, là
một lão tướng xông xáo, có mặt ở nơi nóng
bỏng nhất.
Là
sư trưởng sư đoàn Công Pháo (Công binh - Pháo
binh) ở
chiến
dịch Ịiện Biên Phủ, Tấn còn có mặt
ở chiến trường
Lào,
ở chiến dịch Sầm Nứa, rồi năm 1966
ở Trung ương cục miền
Nam, rồi tư lệnh một cánh quân Duyên Hải
đánh Đà
Nẳng,
qua Cam Ranh, Bà Rịa, Biên Hoà, dinh Dộc Lập vào 1975.
Tấn
nhớ hết mọi diễn biến, đặc điểm
của các trận đánh lớn.
Tấn không uống rượu, bia, luôn suy nghĩ về
các trận
đánh.
Biết rằng ông xuất thân từ một "anh
đội tàu bay" ở
sân
bay Bạch Mai thời Pháp, lên đến đại
tướng, sắp nhận chức
Bộ trưởng Quốc phòng chỉ 10 ngày trước
khi khai mạc
I.a.i
hội đảng lần thứ 5 (12/86), ta sẽ hiểu
rằng Tấn phấn
đấu
ra sao.
Giáp
và Tấn rất quý mến nhau vì rất hợp rơ
nhau trên các
bản
đồ quân sư.. Giáp đã có lần nói : ở trận
nào mà anh
Tấn
có mặt để đốc chiến là mình có thể
yên tâm đến hơn
50%.
Tôi
đã kể về "dại hội đảng toàn
quân" diễn ra 3 tháng
trước
dại hội đảng toàn quốc lần thứ 5, tại
đó bất ngờ
cực
lớn đã diễn ra, làm cho Duẩn, Lê dức Thọ,
Chu Huy Mân, Văn
Tiến Dũng, Dặng Vũ Hiệp, Mai Chí Tho....giật
mình như bị
điện
giật ! Bất chấp sự lãnh đạo trên cơ
sở "dân chủ
tập
trung", bất chấp sự hướng dẫn của
đoàn Chủ tịch đại hội,
đông đảo đại biểu dù đã được
tuyển lựa kỹ từ
cơ
sở đã dứt khoát không bầu Văn Tiến
Dũng, Chu Huy Mân,
Dặng
Vũ Hiệp, 2 đại tướng và một trung tướng
vào danh sách đại
biểu chính thức đi dự đại hội đảng
toàn quốc. Giáp
và
Tấn được số phiếu cao nhất. Dũng
chỉ trúng là đại
biểu
dự khuyết, trước khi đại hội khai mạc
đúng 10 ngàỵ Tấn
đột nhiên chết nên Dũng mới được
bổ xung vào đoàn
đại
biểu vừa hân hoan vừa ngượng ngùng lọt
vào hội
trường
Ba Dình!
========================
Đảng-CSVN
qua những biến động
trong
phong trào CS Quốc Tế (Nguyễn Minh Cần)
Đôi
điều về ĐCSVN
Ở
đây, chúng tôi không trình bày lịch sử ĐCSVN, mà
chỉ phác
qua
đôi điều nhận xét về ĐCSVN.
1.
Khách quan mà xét, trong sự xuất hiện của Đảng
cộng sản
Việt Nam.
Đảng cộng sản Đông Dương (xin viết
gọn là ĐCSVN)
trên
sân khấu chính trị nước ta, những yếu tố
bên ngoài đóng
vai trò chính yếụ Cố nhiên, không có những yếu
tố
trong
nước - tình hình kinh tế, xã hội, đấu
tranh của dân
chúng
- thì không thể xuất hiện được đảng,
nhưng phải nói
thẳng
rằng khi lập ĐCSVN và trong buổi đầu tồn
tại của
đảng,
những yếu tố bên ngoài thực tế đã đóng
vai trò chủ
yếụ
Cả ý thức hệ, tức là tư tưởng, chủ
nghĩa, cả đường
lối cụ thể, tức là chiến lược, sách
lược, cả
các
quan điểm về ĐCS... đều du nhập từ
nước ngoàị Các
chỉ
thị cụ thể về xây dựng đảng đều
được đề ra bởi người
nước ngoàị Tiền tài, phương tiện vật
chất ...
đều
do nước ngoài cung cấp. Thậm chí cán bộ cũng
do nước
ngoài
tuyển lựa, nuôi dưỡng, đào tạo rồi
đưa về Việt Nam.
Đó là một thực tế kéo dài trong nhiều năm
tồn tại của
ĐCSVN.
Để
minh họa điều vừa nói, xin nêu vài tài liệu cụ
thể.
Trong
tác phẩm " Việc đào tạo những nhà cách mạng
Việt Nam
trong
các trường đại học của nước Nga
xô-viết trong những năm
20-30" của nhà Việt học Ạ Sokolov, có
đưa ra con số 67
người
Việt Nam đã được nước Nga xô-viết
đào tạo từ
năm
1925 đến khoảng năm 1936 (trong bài của Ạ
Sokolov tính đến năm
1938, đó là trường hợp của Lin, hay Linov, tức
là Nguyễn
A’i
Quốc, nhưng điều đó chỉ là trên giấy
tờ mà thôi, thực
tế
hồi đó, Lin, hay Linov không còn học ở Moskva nữa).
Con số này
tác giả đã sưu tập rất công phu khi nghiên cứu
ở kho
lưu
trữ của QTCS, cộng số học viên Việt Nam
đến học ở Trường
đại học cộng sản của những người
lao động phương
Đông
(tiếng Nga viết tắt là KUTV), Trường quốc
tế Lenin
(MLSH)
và Học viện nghiên cứu khoa học các vấn
đề dân tộc và
thuộc địa (NIINKP). Con số này chắc chắn
là chưa đầy
đủ,
vì tác giả không thể biết hết các bí danh học
viên
Việt
Nam đã dùng, không biết được số học
viên các trường đặc
biệt rất bí mật của ngành quân sự và mật
vụ, cũng
như
có một số người Đông Dương do ĐCS
Pháp cử đến học
ở
các trường nói trên lại mang tên Pháp nên không thể
đoán được
(xem sách: -Nước Việt Nam truyền thống, Quyển
2,
Moskva,
1996, tr. 143-177).
Còn
để bạn đọc biết rõ phần nào nguồn
tài chính QTCS đã
chi
ra cho việc chuẩn bị thành lập ĐCSVN, chúng
tôi chỉ xin
dẫn
một trong nhiều tài liệu về vấn đề này
còn lưu trữ tại
RSKHIDNỊ Đó là biên bản cuộc họp ngày
3.3.1927 tại Canton
(Quảng
Châu) của ba người là Doriot, Voline (đại diện
cho Phân
bộ)
và Lee (ghi theo biên bản, có lẽ đọc là Lý, hồi
đó Lý, hay
Lý Thụy, làm việc cho Borodin - trong văn bản tiếng
Nga có
chú
thêm: Nguyễn A’i Quốc) để bàn về vấn
đề: chính trị,
tổ
chức và ngân sách. Biên bản có ghi rõ: -giao cho Doriot viết
tuyên
ngôn gửi thanh niên Đông Dương, còn Lee làm dự
chi để
gửi
lên QTCS. Đồng thời ở đây cũng kèm luôn
-tờ trình về
các
dự chi trong năm:
a/
đưa đến Canton 100 tuyên truyền viên: 200 $ X 100
người = 20
000
$ (đô la Trung Quốc);
b/
tối thiểu 10 tuyên truyền viên tự do (chúng tôi
không hiểu
chữ
-tự do ở đây nghĩa là gì - NMC): 150 $ X 10 = 1 500
$;
c/
nhà in, giấy, việc in ấn = 1 500 $; chi phí về tổ
chức =
7000
$; d/ đưa 100 người đến học viện
quân sự Wampoa (Hoàng
Phố)
= 5 000 $; e/ chi phí bất thường = 5 000 $; tổng cộng
= 40 000
$ (đô la Trung Quốc) (RSKHIDNI, Kho 495, Bảng kê 154, Hồ
sơ
555,
tr. 5).
Chắc
cái dự chi này về sau không được thực hiện
tất cả,
vì
phái bộ Borodin quá lợi dụng sự thân thiện của
Quốc Dân
Đảng
Trung Quốc đã mở rộng hoạt động mạnh
mẽ để gieo cấy
các tổ chức cộng sản và gián điệp xô-viết
vào các
nước
châu Á và ngay cả ở Trung Quốc, nên cuối cùng cả
phái
bộ
đã bị chính phủ Trung Hoa Dân quốc trục xuất
hồi cuối năm
1927.
Cố
nhiên, ngày nay, ban lãnh đạo ĐCSVN không thích nói
đến
những
điều này, họ muốn đ-ề cao "tính chất
đ-ộc lập"
của
đảng. Nhưng đ-ộc lập như thế nào
được, khi chính Nguyễn
Ái Quốc đã nói trong bài giảng cho cán bộ hồi
năm
1926:
-... Đệ Tam Quốc tế là một ĐCS thế giớị
Các đảng
các
nước như là chi bộ, đều phải nghe theo
kế hoạch và quy tắc
chung. Việc gì chưa có mệnh lệnh và kế hoạch
của Đệ
Tam
Quốc tế thì các đảng không được làm.
(xem: Hồ Chí Minh.
T.1)?
Việc
ra đời của ĐCSVN hồi năm 1930 cũng là
theo chỉ thị QTCS.
Sau
khi đại hội -Việt Nam cách mạng thanh niên
đồng chí hộị
(1929)
xin gia nhập QTCS, BCH QTCS có gửi thư trả lời,
phê phán những
sai lầm hay thiếu sót trong đường lối
cũng như trong
điều
lệ và chỉ thị cụ thể về cách thức
xây dựng ĐCS. Sau
đó,
QTCS còn ra một chỉ thị nữa vào ngày 27.10.1929 -về
việc thành
lập một ĐCS Đông Dương với những
hướng dẫn cụ
thể
về nhiều mặt. Những chỉ thị này kèm theo
những sự giúp
đỡ về vật chất và cán bộ đã tạo
điều kiện cho
sự
ra đời của ĐCS trên bán đảo Đông Dương
hoàn toàn theo
đúng
tiêu chuẩn của QTCS.
Không
thể phủ nhận rằng nhiều người Việt
Nam đã đến
với
QTCS vì lòng yêu nước. Nhưng khi họ đã tiếp
thụ say mê
chủ
nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin thì chủ nghĩa quốc tế
vô sản (cụ
thể là giành chuyên chính vô sản trên phạm vi thế
giới)
đã
trở thành mục tiêu tối thượng của họ,
và họ theo sách
lược
của Lenin-Stalin khéo léo lợi dụng lòng yêu nước
của dân
tộc để cướp chính quyền, thiết lập
chuyên chính vô
sản
trên đất nước mình nhằm tiến tới mục
tiêu tối
thượng
của họ và QTCS. Cho nên việc theo -mệnh lệnh
và kế hoạch
của Đệ Tam Quốc tế "là điều
dĩ nhiên đối với ho..
Nói
chung, những người cộng sản trên thế giới
đều coi
việc
giành chuyên chính vô sản ở nước mình, cũng
như mở rộng
chuyên chính đó ra các nước khác đều là -làm
nghĩa vụ
quốc
tế".
2.
ĐCSVN ra đời hồi năm 1930 đúng vào lúc chủ
nghĩa Stalin đã
hoàn
toàn thống trị ở Liên Xô và trong toàn bộ PTCSQT.
Do đó
từ
thời ấu thơ đã tiếp thụ sâu đậm
lý luận và thực
hành
chẳng những của chủ nghĩa Lenin, mà cả của
chủ nghĩa
Stalin.
Chủ nghĩa Lenin mà ĐCSVN tiếp thụ từ đầu
là qua sự lý
giải, diễn dịch của Stalin, qua các sách của
Stalin, như
-Nguyên
lý chủ nghĩa Lenin (1924), -Những vấn đề của
chủ nghĩa
Lenin
(1926). Vì thế có thể nói không sai rằng ĐCSVN tiếp
thụ chủ
yếu là chủ nghĩa Stalin. Theo quyết định của
QTCS, trong
thời
gian đầu khá dài, hai ĐCS Trung Quốc và Pháp
được giao
nhiệm
vụ đ-ỡ đầu ĐCSVN. Vì vậy, ĐCSVN còn
chịu thêm ảnh
hưởng
trực tiếp và sâu sắc của chủ nghĩa Maọ
Việc Nguyễn
Ái
Quốc vốn là đảng viên của ĐCSTQ, từng
phục vụ trong Hồng quân
Trung Quốc, và việc Stalin thỏa thuận với Mao
Trạch Đông
hồi
năm 1950 giao cho Trung Quốc phụ trách Việt Nam càng
làm sâu
đậm
thêm ảnh hưởng chủ nghĩa Mao đối với
Việt Nam.
Cái
tinh thần sùng bái Stalin và Mao Trạch Đông trong
ĐCSVN đã
có
một thời gian dài rất nặng, chủ yếu là
do các lãnh tụ
và
bộ máy tuyên truyền của đảng gieo rắc cho
cán bộ, đảng viên,
rồi truyền ra dân chúng. Chính kẻ viết bài này
đã
nhiều
lần chứng kiến hiện tượng đó. Chẳng
hạn, hồi năm
1950,
lúc còn làm ủy viên Thường vụ tỉnh ủy
Thừa Thiên, đã được
TƯ ĐCS (lúc bấy giờ là ĐCS Đông Dương)
triệu tập
ra
chiến khu Việt Bắc dự hội nghị cán bộ
để chuẩn bị cho
đại
hội 2 của đảng vào năm saụ Tại hội
nghị đó, Hồ Chí Minh
đã giải thích về chủ trương đổi
tên ĐCS Đông Dương
thành
Đảng lao động Việt Nam. Sau khi giải thích
lợi ích của
việc
đổi tên đảng là để đảng dễ
dàng gần gũi, lôi kéo
nhiều
tầng lớp dân chúng, nhất là các tầng lớp
trên, cả
miền
Bắc lẫn miền Nam đang còn nghi ngại đảng,
ông giơ cao
nắp
hộp thuốc lá thơm Craven -A của ông lên về
phía có nhãn
hiệu
thuốc và nói: Đây là Đảng cộng sản, rồi
ông quay
phía
trong nắp không có nhãn hiệu và nói: -Còn đây là
Đảng lao
đô.ng. Ông lại lớn tiếng hỏi: -Thế thì
các cô, các chú
thấy
có khác gì nhau không? Cả hội trường đồng
thanh đáp
vang:
Dạ không ạ!. Ông nghiêm nghị nói: -Các cô, các chú
nên biết
rằng việc đổi tên đảng ta, Bác đã
xin ý kiến các
đồng
chí Stalin và Mao Trạch Đông rồi (chúng tôi được
biết
hồi
đó ông vừa đi Moskva về), các đồng chí
đã đồng ý. Các
cô, các chú nên biết rằng: "ai đó thì có thể
sai, chứ
đồng
chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể
nào
sai được". Cả hội trường vỗ
tay rầm rầm. Tại đại hội
2 của đảng (1951), Hồ Chí Minh cũng đã có
những lời
tuyên
bố tương tư.. -Ai đó thì có thể sai, chứ
đồng chí
Stalin
và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể nào
sai được".
Bạn đọc có thấy không, cái đó là cái gì, nếu
không
phải là sự sùng bái Stalin và Mao Trạch Đông
đến độ
mù
quáng? Đây là một chuyện thật 100%, những người
cùng
thời
với chúng tôi đều biết rõ và nhớ kỹ những
chuyện
như
thế, tiếc rằng không mấy ai chịu viết sự
thật lên giấy
trắng mực đen!
Để
chứng minh bằng -giấy trắng mực đen là Hồ
Chí Minh đã
hết
sức đề cao Stalin và Mao Trạch Đông như thế
nào, chúng
tôi
đành phải dẫn ra vài câu trong -Tuyển Tập Hồ
Chí Minh xuất
bản bằng tiếng Pháp hồi năm 1962 (chúng tôi
dùng chữ
đ-ành
phải vì lần xuất bản này xảy ra sáu năm
sau đại hội
20
ĐCSLX, là đại hội đã vạch trần những
tội ác của Stalin, nên
nhiều câu ông Hồ ca ngợi Stalin có thể đã bị
xóa bỏ
từ
lâu rồi): - "La révolution vietnamienne doit apprendre et a beaucoup
appris
de lY.expérience de la révolution chinoisẹ LY.expérience de la révolution
chinoise et la pensée de Mao Tsé Toung nous a permis de mieux
comprendre
la doctrine de Marx-Engels-Lénine-Stalinẹ Les révolutionnaires vietnamiens
doivent en garder le souvenir et se montrer reconnaissants" -
Cách
mạng Việt Nam phải học và đã học nhiều
kinh nghiệm của cách
mạng Trung Quốc. Kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc
và tư
tưởng
Mao Trạch Đông đã giúp cho chúng tôi hiểu thấu
đáo
hơn
học thuyết của Marx-Engels-Lenin-Stalin. Những
người cách
mạng
Việt Nam phải luôn luôn ghi nhớ và biết ơn Mao
Trạch
Đông
về sự cống hiến to lớn đó (xem: Hồ
Chí Minh. Oeuvres Choisies,
t.2, Ele, Hanoi, 1962, p. 221-222). Như vậy là những
người
cộng sản Việt Nam lĩnh hội chủ nghĩa
Marx-Engels-Lenin-Stalin
qua sự lý giải và thực hành của Mao Trạch Đông,
qua tư tưởng Mao Trạch Đông. Tại đại
hội 2 ĐCSVN
(2.1951),
đại hội đã quyết định rằng
cơ sở tư tưởng của
Đảng
lao động Việt Nam (tức là ĐCSVN) là chủ
nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin
và tư tưởng Mao Trạch Đông. Cũng xin nói
thêm,
đến năm 1986, khi xuất bản -Toàn Tập Hồ
Chí Minh bằng tiếng
Việt - tức là sau khi ĐCSVN và ĐCSTQ đã mâu thuẫn
nhau
cao
độ, thậm chí đem quân đánh nhau dữ dội
ở biên giới
Viê.t-Trung
- thì trong bài này -người ta đã cố tình cắt
bỏ một
đoạn, trong đó có những câu vừa nói trên
(xem: Hồ Chí
Minh.
Toàn Tập. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1986, t.6, tr. 12)!
Và đây
chẳng
phải là trường hợp duy nhất của lối
làm việc không trung
thực khi xuất bản -Toàn Tập Hồ Chí Minh.
Trong
-văn học nghệ thuật cung đình Việt Nam, một
thời gian
dài
đã vang lên bao nhiêu bài thơ, bài ca tôn vinh Stalin, Mao
Trạch
Đông, Hồ Chí Minh như những bậc thánh sống.
Tố Hữu, người
cai quản văn nghệ -xã hội chủ nghĩa một
thời, là nhà
thơ
chuyên làm những bài tụng ca các vị thánh sống
đó:
...Bữa
trước mẹ cho con xem ảnh
Ông
Stalin bên cạnh nhi đồng
A’o
Ông trắng giữa mây hồng
Mắt
Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười...
...Hoan
hô Stalin!
ĐờI
đời cây đại thọ
Rợp
bóng mát hòa bình
Đứng
đầu sóng ngọn gió!
Hoan
hô Hồ Chí Minh!
Cây
hảiđăng mặt biển
Bão
táp chẳng rung rinh
Lửa
trường kỳ kháng chiến!...
...Stalin!
Stalin!
Yêu
biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng
đầu lòng con gọi Stalin!
Hôm
qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng
loa xé ruột xé lòng biết bao
Làng
trên xóm dưới xôn xao
Làm
sao, Ông đã... làm sao, mất rồi!
Ông
Stalinơi, Ông Stalin ơi!
HởI
ơi, Ông mất! Đất trời có không?
Thương
cha, thương mẹ, thương chồng,
Thương
mình thương một, thương Ông thương
mười
Yêu
con, yêu nước, yêu nòi
Yêu
bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu!...
Còn
Đỗ Nhuận, tổng thư ký Hội âm nhạc, hết
lời ca tụng
các
-lãnh tụ kính yêu trong ca khúc của mình:
...Việt
Nam Trung Hoa,
Núi
liền núi, sông liền sông,
Chung
một biển Đông,
Mối
tình hữu nghị sáng như vừng Đông.
Anh
ở bên ấy, tôi ở bên đây,
Sớm
sớm chung nghe tiếng gà gáy rộn,
....
Chung
một ý, chung một lòng,
Đường
cách mạng thắm màu cờ hồng
A!
A...
Nhân
dân ta ca muôn năm
Hồ
Chí Minh, Mao Trạch Đông!...
Tóm
lại, trong một thời gian rất dài, trong thời kỳ
bí mật
cũng
như sau khi cướp được chính quyền,
Stalin và Mao Trạch
Đông
là những mặt trời, những ngôi sao, những ngọn
cờ vẫy
gọi
ĐCSVN, còn ĐCSLX và ĐCSTQ thật sự là mẫu mực
cho ĐCSVN
rập
khuôn cả về tư tưởng, cả về lề
lối sinh hoạt lẫn về
kiểu cách tổ chức bộ máy đảng-nhà nước...
3.
ĐCSVN vốn là một phân bộ của QTCS.
Một
bộ phận của
PTCSQT.
Mà QTCS xây dựng trên những nguyên tắc tập trung
dân
chủ,
cho nên ĐCSVN, cũng như tất cả các ĐCS khác,
phải tuyệt đối
phục tùng một trung tâm, trung tâm đó về hình thức
là
BCH
QTCS, về thực chất là tập đoàn thống trị
ĐCSLX. Đúng
như
Nguyễn Ái Quốc đã nói: -Việc gì chưa có mệnh
lệnh và kế
hoạch của Đệ Tam Quốc tế thì các đảng
không được
làm.
Điều này nói lên sự lệ thuộc chặt chẽ
của ĐCSVN vào
tập
đoàn thống trị ĐCSLX (và ĐCSTQ) trong một
thời gian dàị
Trong
thời gian đó, sự sùng bái cá nhân Stalin và Mao Trạch
Đông
trong ĐCSVN làm cho sự lệ thuộc này càng trầm
trọng thêm.
4.
Các lãnh tụ cộng sản Việt Nam thường quả
quyết rằng với
sự
ra đời của ĐCSVN, từ năm 1930, -quyền lãnh
đạo (cách mạng
Việt Nam - NMC) hoàn toàn về giai cấp vô sản (xem:
Lê Duẩn.
-Một vài đặc điểm của cách mạng Việt
Nam. Hà Nộị
1956),
vì giai cấp vô sản là giai cấp tiên tiến nhất
như Marx đã
nóị Cứ cho rằng -phát kiến của Marx là một
định đề
(postulat)
không cần phải chứng minh nữa (dù trên thực tế,
-phát
kiến đó đã bị thực tế bác bỏ), thì
thử hỏi: khi ra đời,
ĐCSVN có phải là đảng của giai cấp vô sản
không? Hồi
đó,
ở Việt Nam/Đông Dương đã trải qua
cách mạng công nghiệp
chưả Đã có giai cấp vô sản chưả Nếu
không có thì
làm
sao có thể coi ĐCSVN là đảng của giai cấp
vô sản được?
Và
nếu nó không có tính chất vô sản thì nó mang tính chất
gì?
Giải đáp những câu hỏi này rất cần thiết,
vì xây dựng
đảng
cũng giống như xây cất một ngôi nhà, cái nền
móng giai cấp
đầu tiên vô cùng quan trọng - trong những giai
đoạn sau,
khó
mà thay đổi bản chất của nó được.
Theo
những tài liệu công bố của nhà nghiên cứu
mác-xít Trần
Văn
Giàu, vào năm 1929, ở Đông Dương có 220 ngàn
công nhân,
trong
đó đông nhất là công nhân và viên chức trong các
ngành công
nghiệp và thương nghiệp 86 ngàn người (39%)
, công nhân
đồn
điền 81 ngàn người (độ 36,8%), công nhân mỏ
53 ngàn người
(24%). Trần Văn Giàu lưu ý người đọc rằng
đó chưa
kể
thợ may, thợ cạo, thợ giặt, chèo thuyền,
đánh xe ngựa,
kéo
xe tay, bồi bếp, v.v... rất đông, lại chưa
kể thầy giáo trường
công, trường tư, trường đạo (xem: Trần
Văn Giàụ
-Giai
cấp công nhân Việt NamẪ. Hà Nội 1958, tr.169). Chẳng
riêng
gì Trần Văn Giàu, nói chung giới -học giả
mác-xít của
Hà
Nội đều có khuynh hướng cố vơ vào
giai cấp vô sản
nhiều
lớp người khác để chứng minh là ở Việt
Nam/Đông Dương
đã có một giai cấp vô sản đ-àng hoàng trước
khi
thành
lập ĐCS, từ đó chứng minh -quyền lãnh
đạo hoàn toàn về
giai cấp vô sản đã được xác lập vững
chắc. Họ
thường
cố ghép bừa các lớp người không thuộc về
giai
cấp
vô sản vào một chữ chung chung là -công nhân, mà lờ
đi khái
niệm rõ ràng của Marx và Engels về giai cấp vô sản
-là
giai
cấp những người công nhân làm thuê hiện
đại, do cách
mạng
công nghiệp đẻ rạ Phải nói rằng về
mặt này, tiếng
Việt
trước đây đã khá chính xác: trước
năm 1945, trong từ
vựng
của dân tộc đã phân rõ các lớp người
trong xã hội bằng
những từ -thợ, -phu và -thầy.... Người ta
nói -thợ,
-thợ
máy, -thợ thủ công, v.v... (từ tập hợp là thợ
thuyền),
-phu,
-phu đồn điền, -phu mỏ, -phu khuân vác, v.v...
(từ tập hợp
là -phu phen), -thầy, -thầy ký, -thầy thông, -thầy
giáo,
v.v...
một cách rất bình thường, hoàn toàn không có tinh
thần kỳ
thi.. Nhưng sau tháng 8 năm 1945, những người cộng
sản chỉ
cho
dùng một chữ -công nhân cốt làm cho sự phân biệt
đó bị
xóa
nhòa, làm tăng số lượng -giai cấp công nhân.
Xét
về bản chất giai cấp vô sản theo đòi hỏi
của Marx, thì
phải
nhận thấy rằng ngay cả thợ thuyền trong
nhà máy ở
Đông
Dương hồi những năm 20, 30 phần đông vẫn
còn quan hệ kinh
tế chặt chẽ với nông thôn, nhiều người
có ruộng đất
ở
làng quê, như thế theo Marx, Lenin, là có sở hữu tư
nhân.
Thợ
thuyền, phu mỏ, phu đồn điền, phu khuân
vác... hồi đó,
phần
đông xuất thân từ nông dân, lớp nghèo thành thị
và
lớp
đ-áy xã hội mà Marx gọi là -lumpen-prolétariat (vô sản
lưu manh),
điều này ảnh hưởng không nhỏ đến
tư tưởng, tâm lý,
não
trạng của cái gọi là -giai cấp vô sản Việt
Nam/Đông
Dương.
Với chất liệu xã hội như thế để
xây dựng đảng,
thì
làm sao ĐCS mang được tính chất vô sản?
làm sao có thể
gọi
ĐCSVN là đảng vô sản được? Điều
này càng về sau càng đẻ
ra hậu quả cho dân tộc và cả cho cái gọi là
sự nghiệp
-vô
sản nữạ.
Dù
cho cứ gọi chung tất cả khối người
đó là công nhân, như
các
nhà nghiên cứu của đảng đã quyết đoán
-lấy được, và
cứ giả dụ họ là một -giai cấp vô sản
thật, -sinh ra từ cuộc
cách mạng công nghiệp thật (dù cuộc cách mạng
đó không
có
ở Đông Dương và Việt Nam!), theo đúng tiêu
chuẩn của Marx thật,
thì cái tỉ lệ 1,1% công nhân (mà tuyệt đại
đa số là
mù
chữ, không có học vấn hoặc có cũng rất
thấp) so với
dân
số Việt Nam hồi đó (220 ngàn so với khoảng
20 triệu người;
theo tài liệu của QTCS thì thống kê dân số toàn
Đông
Dương
hồi năm 1928 có 20 413 504 người, trong đó người
Âu, không
kể quân đội, là 20 528 người, dân nhập cư
người Á,
phần
lớn Hoa kiều, là 688 317 người, -người An
Nam 19 700 695
người)
thì làm sao có thể khẳng định cái tỉ lệ
rất bé nhỏ
đó lại nhất định phải có -quyền
lãnh đạo hoàn toàn
đối
với đại khối dân chúng gồm 98,9% dân số?
làm sao có
thể
khẳng định được rằng ĐCSVN là của
giai cấp vô sản và nhất
định đảng ấy phải nắm độc
quyền lãnh đạo đất
nước?
Thật ra, ngay cả những -nhà lãnh đạo của
ĐCSVN không
mấy
ai hồi đó đã đọc nổi các tác phẩm
chủ yếu của các
vị
tổ sư của chủ nghĩa cộng sản, nhiều
người may lắm là
được
biết vài nét sơ lược, thế thì làm sao dám quả
quyết là
-quyền lãnh đạo hoàn toàn về giai cấp vô sản
được? Hơn
nữa,
các -nhà lãnh đạo đó phải chăng là vô sản?
Trong một tài
liệu của QTCS bằng tiếng Pháp, nhan đề
-Questions
intérieurs
du Parti et les fautes opportunistes dans le Partị Tâches
imédiates
(Những vấn đề nội bộ của Đảng
và những sai lầm
cơ
hội chủ nghĩa trong Đảng. Những nhiệm
vụ trước mắt),
bài
nói ngày 21.9.1931 (RSKHIDNI ở Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ
561,
tr.1-5) có nhận xét như sau: -những sai lầm cơ hội
chủ
nghĩa
trong ĐCSVN là do nguồn gốc xã hội của đảng...
-thành phần
xã hội của đảng rất xấu, đa số
là trí thức...
-tiểu
tư sản thống trị, nên trong đảng có nhiều
phần tử cơ
hộị
Đó là cách nhìn của QTCS đối với ĐCSVN,
chúng tôi muốn
giới thiệu mà không bình luận để bạn
đọc rộng
đường
suy nghĩ.
Vì
thế không lấy làm lạ khi thấy những thành phần
không vô
sản
hoặc thuộc tầng lớp vô sản lưu manh giữ
vai vế trọng
yếu
trong ĐCSVN - tổng bí thư xuất thân là hoạn lợn,
ủy viên BCT
kiêm chủ tịch nước vốn là cai phu đồn
điền từng đánh
đập
phu phen, ủy viên BCT xuất thân một tên móc túi lại
vỗ ngực
là công nhân, v.v... Biết bao hiện tượng đáng
buồn chỉ
làm
tủi hổ giai-cấp-vô-sản-lý-tưởng của
Marx, như có những
ủy
viên BCT luôn miệng răn dạy đảng viên về
lòng trung thành thì
hóa ra là đã từng khai báo phản bội hay thậm
chí làm tay
sai
cho địch, kẻ chết rồi mới phát hiện
ra, người bị vỡ lở
khi còn tại chức... Nhưng, có lẽ, đáng buồn
hơn cả là
sự
lây lan tính chất lumpen (lưu manh) từ lãnh đạo
ra đảng
viên,
trong ĐCS ra ngoài dân chúng và đã tạo nên sự sa
đọa rất
trầm trọng về đạo đức, nhân cách và
tinh thần trong
đảng
và ngoài xã hộị Mà hậu quả của tình trạng
này không dễ
dàng gì giải quyết trong một vài thế hệ dưới
chế độ
dân
chủ. Quá trình lumpenization (lưu manh hóa) vừa nói thì
không
riêng
gì ĐCSVN bị mà là một hiện tượng phổ
biến ở hầu hết
các đảng cầm quyền. ĐCS càng hô khẩu hiệu
-xây dựng
con
người mới xã hội chủ nghĩaẪ bao nhiêu
thì kết quả thu được
càng ngược lại điều họ nói bấy nhiêụ
Các bạn đọc
đã
từng sống dưới những chế độ khác
nhau thì dễ dàng so
sánh
và thấy rõ điều nàỵ
5.
Ngay từ đầu, ĐCSVN được xây dựng
theo đúng - Lý luận và
mẫu
mực của đảng Lenin và Stalin, nghĩa là một
hội kín của
những
kẻ âm mưu, gồm phần lớn là -những người
cách mạng chuyên
nghiệp được nuôi dưỡng, đào tạo
và chỉ huy từ bên
ngoàị
Cái -tính chất âm mưu, -hành động khủng bố
thể hiện rõ
trong hoạt động của đảng, thậm chí cả
về sau này khi
đảng
đã nắm quyền rồị Ngay cái nguồn tài
chính của đảng
suốt
mấy chục năm hoạt động bí mật và
kháng chiến dựa vào
việc buôn lậu thuốc phiện cũng đủ nói
rõ cái tính
chất
của đảng. Lúc mới thành lập, ĐCSVN nhắm
mục tiêu
trước
mắt quan trọng nhất là cướp chính quyền bằng
bạo
lực,
dưới sự chỉ huy của -những người
cách mạng chuyên
nghiệp.
Cứ tỉnh táo nhìn vào thành phần xuất thân, trình
độ
học vấn, v.v.... của -những người cách mạng
chuyên
nghiệp
đó, thì dễ dàng nhận thấy họ là hạng người
chỉ có
khả
năng tổ chức những cuộc âm mưu, khủng
bố, đập phá, đàn
áp, cưỡng bức, v.v... chứ không có khả năng
làm công
việc
có tính xây dư.ng. Vì thế, trong suốt quá trình tồn
tại,
đầu óc sùng bái bạo lực của ĐCS rất
nă.ng. Trường
Chinh
đã viết: -Từ ngày ra đời, luôn luôn trung
thành với tư
tưởng
cách mạng bạo lực của chủ nghĩa
Marx-Lenin, ... đảng ta đã
xác định con đường cách mạng bạo lực
là con đường duy
nhất
đúng đắn để đánh đổ kẻ thù
giai cấp và của dân tộc,
giành chính quyền về tay nhân dân (đúng hơn là về
tay
một
nhúm chóp bu trong đảng - NMC), bảo vệ chính quyền
cách
mạng,
đưa cách mạng nước ta đến thắng lợi...
(xem: Trường
Chinh.
Đ-ời đời nhớ ơn Các Mác và đi con
đường Các Mác
đã
vạch rạ Hà Nội, 1969, tr.47-49). Trường Chinh nói
những lời
này trong dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh của
K.Marx (1968),
ngay
sau vụ bắt bớ, giam cầm hàng loạt cán bộ
đảng viên bất đồng
với đường lối Mao-ít của hội nghị
lần thứ 9 TƯ
ĐCSVN.
Bài nói của ông nói nhằm biểu thị thái độ
của TƯ
ĐCSVN
chống đường lối của ĐCSLX và tỏ
tình đoàn kết với phe
Mao-ít trong ĐCSTQ, trước ngày Lưu Thiếu Kỳ
đặt chân
đến
Hà Nội để mưu đồ tạo thế liên kết
Trung - Việt chống
Liên Xộ Những lời lẽ đó phản ánh đúng
thực chất
tư
tưởng của các lãnh tụ cộng sản Việt
Nam - đầu óc sùng
bái
bạo lực rất nặng, không chỉ khi cướp
chính quyền và giữ
chính quyền, mà cả khi xây dựng -xã hội mới.
Để
hiểu rõ hơn thực chất của ĐCS là -một
hội kín của
những
kẻ âm mưu, xin hãy nhìn lại lịch sử ngay từ
thời kỳ
thành
lập đảng. Hồi năm 1929, ở Việt Nam
đã có những tổ chức
cộng sản xin gia nhập QTCS, đó là Việt Nam
cách mạng
thanh
niên đồng chí hội và Tân Việt. Nhưng QTCS cho
rằng những
tổ chức đó chưa đủ tiêu chuẩn
ĐCS và đã chỉ thị
cho
những tổ chức đó phải làm thế nào để
trở thành ĐCS.
Sau
đó, cũng trong năm 1929, từ các tổ chức
nói trên đã xuất
hiện ba ĐCS - Đông Dương cộng sản
đảng, An Nam cộng
sản
đảng và Đông Dương cộng sản liên
đoàn. Cả ba tổ chức đó
đều tự xưng là cộng sản nhưng lại
kình chống nhau kịch
liệt.
QTCS bèn chỉ thị cho ba ĐCS đó phải thống
nhất lại. Ngày
6 tháng 1 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc lấy danh nghĩa
phái viên
của QTCS mời đại biểu ba đảng đến
Hồng Kông họp để
thống
nhất. Cuộc họp diễn ra trên sân bóng, các đại
biểu giả
vờ là khán giả xem bóng đá để họp. Có
ba người đến
họp:
Trịnh Định Cửu, đại biểu cho Đông
Dương cộng sản
đảng,
Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm, đại biểu
cho An Nam cộng
sản đảng (xem: Trần Văn Giàụ -Giai cấp
công nhân Việt
Nam.
Hà Nội, 1958, tr. 487). Như vậy là không có mặt
Đông Dương
cộng sản liên đoàn. Hội nghị quyết định
thống nhất
ba
đảng, kể cả đảng bộ cộng sản
của Hoa kiều, thành một
đảng,
lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, chỉ
định trung ương
đảng chín ngườị Từ đó, TƯ
ĐCSVN coi ngày 6 tháng 1 là
ngày
thành lập ĐCSVN. Trong suốt 30 năm, hàng năm vẫn
lấy ngày
6 tháng 1 để kỷ niệm thành lập đảng
thì đùng một
cái,
đến đại hội 3 của ĐCSVN (1960), BCT
TƯ đề nghị đại
hội
thông qua quyết định thay đổi lại ngày
thành lập ĐCSVN là
ngày 3.2.1930, lấy lý do -các đồng chí Liên Xô cho biết
ngày
đó mới đúng theo tài liệu lưu trữ của
Liên Xộ Tại đại
hội, một đại biểu (Lê Minh) lên phản bác
đề nghị thay
đổi
ngày thành lập đảng, thì Hồ Chí Minh ngồi
trên chủ
tịch
đoàn gạt phăng, không cho thảo luận. Thế
là đại hội thông
qua việc thay đổi lại ngày sinh của ĐCSVN.
Nhân
thể xin nói thêm. Cuộc họp diễn ra trên sân bóng
ở
Hồng
Kông được nói đi nói lại nhiều lần
trong ba bốn thập
niên
ròng cứ mỗi dịp kỷ niệm thành lập đảng.
Thế nhưng, đến
những năm 80, chắc thấy cuộc họp trên sân
bóng có vẻ
lén
lút như cuộc gặp mặt của những kẻ
âm mưu, nên người
ta
đã -viết lạiẪ sử đảng: -Sau 5 ngày
làm việc hết sức
khẩn
trương (từ 3 đến 7 tháng 2) trong hoàn cảnh
bí mật,
hội
nghị đã nhất trí tán thành thống nhất các
đảng cộng sản...
(xem: -Lịch sử Đảng cộng sản Việt
Nam. NXB Sự thật,
1985,
tr.27).
Những
chuyện đại loại như thế có nhiều
trong lịch sử ĐCSVN
làm
nổi bật tính chất -lèm nhèm, không đàng hoàng của
một
hội
kín của những kẻ âm mưụ
6.
Xin nói thêm một chuyện -lèm nhèm tương tự nữa:
Cái gọi
là
phong trào Xô-viết Nghê.-Tĩnh. Nếu nói đúng sự
thật thì
trong
cuộc nổi dậy mạnh mẽ và dũng cảm của
nông dân hồi tháng
8 - 9 năm 1930, không một nơi nào ở hai tỉnh Nghệ
An và
Hà
Tĩnh đã lập ra xô-viết cả. Hồi đó,
ở một số vùng nông
dân nổi dậy, hào lý sợ hãi bỏ chạy, dân
làng cử vài
người
đứng ra lo một vài việc ở xã thôn, và tùy nơi
gọi
đó
là -xã bộ, -xã bộ nông, -thôn bộ, -thôn bộ nông
hoặc không
gọi tên gì cả. Thế nhưng khi được tin
nông dân nổi
dậy
ở Nghê.-Tĩnh, Nguyễn Ái Quốc đã vội vã
báo cáo hồi
tháng
11 năm đó cho QTCS và Quốc tế Nông dân (một tổ
chức
quần
chúng -hữu danh vô thực của QTCS) là: -Hiện nay
ở một
số
làng đỏ, Xô-viết nông dân đã được
thành lập. Từ đó,
cái tên Xô-viết Nghê.-Tĩnh được tung ra và trở
thành
-lịch
sử sau này, ban lãnh đạo ĐCSVN cố nói lấy
được là
ở
Nghê.-Tĩnh đã có các xô-viết, đã có phong trào
Xô-viết Nghê.-Tĩnh.
Trong lúc đó, chính những người viết sử của
đảng
đã phải thừa nhận trên giấy trắng mực
đen như sau: -về
chủ trương thành lập chính quyền Xô-viết
thì hồi đó
không
đồng chí nào nhận được chỉ thị
hoặc nghe phổ biến
và
-khi xã bộ nông đã nắm quyền hành ở nông
thôn mà vẫn chưa
có quan niệm rõ là ta đã giành được chính quyền.
Điều
đó nói lên gì? Một là, ngay ở Nghê.-Tĩnh không
đâu
có
chủ trương hay ý định lập chính quyền,
chứ nói gì đến
chính
quyền xô-viết; hai là, chính ĐCSVN cũng không có chủ
trương
lập chính quyền xô-viết; và ba là, đảng viên
và dân
chúng
ở các địa phương đó không hề có ai
biết -xô-viết
là
cái gì cả. Thế mà... úm ba la... lại -có các -xô-viết!
Lại -có
phong trào -Xô-viết Nghê.-Tĩnh! Những người viết
sử
đảng
buộc phải xác nhận những điều thực tế
nói trên trong
sách
-Xô-viết Nghê.-Tĩnh, lại cố gượng gạo
giải thích: -"Đảng
đã xác nhận rằng ở Nghê.-Tĩnh đã có
chính quyền
Xô-viết
là căn cứ vào sự hoạt động và những
chức năng của
chính quyền ấy" (những câu trong ngoặc kép của
cả đoạn này đều trích từ sách: -Xô-viết Nghê.-Tĩnh.
Hà Nội, 1962,
tr. 11, 92-93). Đó là kiểu ngụy biện, nói lấy
được muôn thuở
của những người cộng sản. Thử hỏi:
thế thì vì sao sau
này
chính quyền do ĐCS lập ra cũng có -sự hoạt
động và những
chức năng đúng như vậy lại không gọi
là xô-viết?
Trong
việc này có thể có hai khả năng. Hoặc là hồi
đó,
thấy
QTCS đang đề ra nhiệm vụ trước mắt
cho các ĐCS là
-xô-viết
hóa các nước, nên Nguyễn Ái Quốc báo cáo như
thế để
làm đẹp lòng cấp trên. Hoặc là cán bộ QTCS gợi
ý cho
Nguyễn
Ái Quốc báo cáo như thế để cổ động
các nước
khác
theo gương lập ra các xô-viết. Khả năng
đầu nhiều hơn,
nhưng
dù khả năng nào đi nữa thì đó cũng là sự
lừa dối
lịch
sử.
Trong
cuộc nổi dậy của nông dân Nghê.-Tĩnh, lần
đầu tiên
trong
lịch sử, những người cộng sản Việt
Nam ở vùng này
đã
hé ra cho mọi người thấy rõ bộ mặt thật
của -chuyên chính
vô sản qua những chính sách và hành động ác liệt
của
họ,
như -Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc, trốc
tận rễ...
Đối
tượng hàng đầu bị đ-ánh là trí thức,
mà trí thức
ở
làng xã Nghệ Tĩnh hồi đó là những ai thì
độc giả có
thể
hình dung được, thiết tưởng không cần
phải kể ra.
Nói
cho công bằng, khởi đầu chỉ có vài cuộc
đấu tranh tự
phát,
sau đó một vài người trong Kỳ bộ Trung Kỳ,
chứ không
phải
cả Kỳ bộ, mới chủ trương phát động
cuộc nổi dậy phiêu
lưu nàỵ Thường vụ Trung ương ĐCSVN
ở trong nước do
Trần
Phú làm tổng bí thư thì hoàn toàn không hay biết gì hết
về chủ trương nàỵ Thường vụ
Trung ương bị đặt
trước
-việc đã rồi, rất bị động, đã
phê phán mạnh mẽ
tính
chất manh động, tả khuynh của phong trào
Nghê.-Tĩnh và rất
bực mình vì sự báo cáo vội vã của Nguyễn
Ái Quốc
với
QTCS. Đây là một trong nhiều việc khác thúc đẩy
Trung
ương
ĐCS ở trong nước, một thời gian sau đó,
đã gửi thư lên
BCH QTCS nói lên sự bất bình của mình đối với
Nguyễn
Ái
Quốc. Người viết bài này đã được
đọc nguyên văn bức thư
đó tại kho lưu trữ của QTCS (nay là RSKHIDNI).
Đây là nội
dung
một đoạn: ... –" Liên lạc. Xin các đồng
chí hãy viết
trực
tiếp cho chúng tôi, vì rằng khi Quốc (tức là Nguyễn
Ái
Quốc
- NMC) truyền đạt thì anh ta nói quá vắn tắt
và đôi khi
anh
ta đưa ý kiến riêng của cá nhân vào mà không xin
ý kiến các
đồng chí, và cũng không báo cho các đồng chí
biết, dù
anh
ta chỉ là liên lạc viên thôị Chúng tôi cũng viết
trực
tiếp
cho các đồng chí. Vì sao Quốc lại cứ liên lạc
với TƯ
và
Bắc Kỳ bộ, ở đâu anh ta cũng ra mệnh
lệnh, ở đâu anh
ta
cũng đòi báo cáọ Tình trạng như thế làm
cho chúng tôi cực kỳ
khó khăn (trong nguyên văn là -"khó khăn khủng
khiếp" - NMC).
Thậm
chí các đồng chí ở các Kỳ bộ hỏi chúng
tôi: -Ai lãnh đạo
chúng tôi, TƯ hay là Quốc?" Chúng tôi hy vọng rằng
từ nay
về
sau, về các vấn đề có liên quan đến
đảng chúng tôi,
các
đồng chí sẽ liên lạc trực tiếp với
TƯ và các đồng chí
sẽ giải thích cho Quốc rằng tình trạng đã
xảy ra vừa qua
là
không bình thường. Nếu Kỳ bộ phải làm
báo cáo cho khắp nơi
và nhận mệnh lệnh và chỉ thị từ khắp
nơi, thì như
vậy
chúng tôi sẽ rất khó khăn trong việc cung cấp
tình hình
chính
xác cho các đồng chí và điều đó đặc
biệt gây ra nhiều
khó khăn cho sự lãnh đạo của TƯ đối
với toàn thể bộ máy của mình. Chúng tôi yêu cầu
các đồng chí giải thích
ngay
cho Quốc trách nhiệm của anh ta là ở việc gì,
và đòi anh ta
phải chuyển giao cho các đồng chí tất cả
những gì anh ta
nhận
từ chúng tôi (báo, truyền đơn, thông tri, v.v...). Từ
nay trở
đi, chúng tôi sẽ gửi trực tiếp đến các
đồng chí
những
báo cáo và thư từ bằng tiếng Pháp, còn Quốc
thì chỉ
có
nhiệm vụ chuyển lại các đồng chí mà
không cần phải giữ lại
ở chỗ anh ta và tự mình nghiên cứu"... Để
bạn đọc
thấy
rõ vấn đề, người viết cố ý trích dịch
từ nguyên bản
đoạn có liên quan đến Nguyễn Ái Quốc
trong thư của TƯ
ĐCS
Đông Dương đề ngày 2.7.1931, viết bằng
tiếng Nga và
tiếng
Pháp, có ghi chữ Tối mật, hiện lưu giữ tại
RSKHIDNI ở
Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 463, toàn văn bức
thư ở trang
147-156,
riêng đoạn đã dẫn trên đây do chúng tôi dịch
ở trang
156.
Có thể tin chắc rằng hồi đó, Trung
ương ĐCSVN ở trong
nước
đã nắm được -tính cách" Nguyễn Ái Quốc
cũng như
động
cơ" của việc ông Nguyễn vội vã báo cáo với
QTCS về
các
-xô- viết tưởng tươ.ng.
7.
Với thực chất đảng-hội kín của những
kẻ âm mưu, ĐCSVN
đặt
ra một thứ kỷ luật sắt vô cùng nghiêm ngặt
theo đúng
tinh
thần của Stalin. Nhiều người mới vào
ĐCS thường không hiểu
được vì sao lại gọi là -kỷ luật sắt"?
Hồi năm 1929,
đại
hội Việt Nam cách mạng thanh niên đồng chí hội
(sau này xin
viết tắt là Đồng chí hội), tổ chức
cộng sản đầu
tiên
ở Việt Nam tự đặt cho mình nhiệm vụ
-chỉ huy cách mạng
Việt
Nam... lập vô sản chuyên chính, làm cho cách mạng thế
giới
chóng thành", đã quy định hình thức -kỷ
luật sắt" xử
tử
đối với các đảng viên phạm một trong
những tội như: theo
địch, làm hại đến an toàn của đồng
chí, cố ý làm sai
chỉ
thị, mưu phá hoại hội, cố ý làm lộ bí mật
(xem: -Lịch
sử
cận đại Việt Nam". Hà Nội 1963, t.4,
tr.204). Điều đó chắc
ít đảng viên cộng sản ngày nay được
biết, cũng như
không
mấy ai được biết về những vụ xử
án tử hình của
tổ
chức cộng sản đầu tiên ấy ở Việt
Nam. Chẳng hạn, -vụ giết
người ở đường Barbier, Sài Gòn" (nay
là đường Lý
Trần
Quán, thuộc phường Tân Định, quận 1) hồi
năm 1929 mà nạn
nhân là một người lãnh đạo Kỳ bộ
Nam Kỳ của Đồng chí
hội
bí danh là Lang đã bị Kỳ bộ xử bí mật
tuyên án tử
hình
vì tội đã cưỡng ép nữ đồng chí Trần
Thị Nhất bí danh
là Lê Oanh 18 tuổI". Các tội phạm trong vụ giết
người
này
là Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Nguyễn
Kim Cương, Nguyễn
Duy Trinh, v.v... đã bị Tòa án đại hình Sài Gòn kết
án
nặng
ngày18.7.1930 (tài liệu sưu tầm của nhà báo Như
Phong Lê
Văn
Tiến). Hồi tháng 4.1994, người viết cũng
đã được đọc
về
vụ án này trên một tài liệu gửi đến
QTCS nhan đề -Từ
bản
cáo trạng của Tổng công tố Sài Gòn chống những
bị cáo của
vụ án ở đường Barbier" tại RSKHIDNI
ở Kho 495, Bảng kê
154,
Hồ sơ 564, trang 62-72, trong đó có đưa ra một
chi tiết đáng
nói ở đây: người bị giết tên là Tan
Đức Toang (vì
phiên
âm từ tiếng Nga nên chúng tôi không rõ họ Trần
hay Tân
và
tên Toáng hay gì khác), người này đã đánh Tôn
Đức
Thắng,
nên bị đuổi ra khỏi đảng, sau đó anh
ta lập ra tổ
chức
biệt phái Nam Kỳ Công hội (nếu dịch theo sát
tiếng Nga là
Liên hiệp nghiệp đoàn Nam Kỳ). Đó là lý do bị
giết. Cũng
trên
tài liệu này có ghi dòng chữ khó hiểu này: -có chú
thích
của M (?) - chúng tôi cho rằng cải chính điều
bịa đặt của
ông công tố về việc phân liệt là thừa".
Dù nhìn dưới
khía
cạnh nào thì vụ án giết người này cũng
đã xảy ra thật
và
những người phạm tội cũng là những
con người có thật.
Nói
cho công bằng thì QTCS đã gửi thư phê phán hình thức
kỷ
luật
tử hình (thành văn) ấy trong điều lệ của
Đồng chí
hộị
Phê phán thì phê phán, nhưng thật ra, ngay trong ĐCS bolshevik
Nga/Liên Xô thậm chí khi đã nắm quyền rồi mà
hình
thức
kỷ luật tử hình (bất thành văn) ấy vẫn
còn được
áp
dụng: hàng nhiều thập niên dưới thời
Stalin, hàng triệu
cán
bộ, đảng viên đã bị hành quyết chỉ
vì cái -tội bất
đồng
chính kiến hoặc phê bình -lãnh tụ hoặc chẳng
có tội gì
cả! Thế thì sự phê phán đó của QTCS còn có
nghĩa lý gì?
Chính
vì thế, ở Việt Nam, trong thời kỳ ĐCS còn
hoạt động
bí
mật đã có nhiều đảng viên chỉ vì bị
lãnh đạo nghi ngờ mà
bị đảng thủ tiêụ Còn trong thời kỳ
ĐCS đã nắm chính
quyền
thì những đảng viên bất đồng chính kiến
với lãnh đạo
đều bị lãnh đạo -chấm dứt sinh mệnh
chính trị, còn
vợ
con, anh em, bà con, bè bạn đều bị vạ lâỵ
Đó là chưa nói
đến
sự bắt bớ, giam cầm, tra tấn, hành hạ, quản
chế, tù tội,
có người chết trong tù ngục, có người chết
khi bị tù
tại
giạ Ngoại trừ đảng phát xít và ĐCS, không
một chính đảng
nào với tư cách là một tổ chức xã hội
trong thế
giới
văn minh này mà có một thứ -kỷ luật sắt
như thế. Kỷ
luật
sắt đó là một lưỡi gươm Damocles
lơ lửng treo trên đầu
mọi người bắt họ phải tuyệt đối
phục tùng kẻ thống
tri..
8.
Là một - Hội kín của những kẻ âm mưu hoạt
động trong
điều
kiện cực kỳ khó khăn dưới chế độ
thực dân, cố
nhiên,
ĐCS phải coi trọng nguyên tắc bí mật để
bảo vệ mình và
thực hiện được ý đồ cướp chính
quyền. Đó là điều
đương
nhiên. Thế nhưng, khi đảng đã cướp
được chính
quyền
rồi, nguyên tắc bí mật chẳng những không giảm
bớt mà
lại càng tăng cường thêm, phạm vi giữ bí
mật càng rộng
thêm,
đối tượng giữ bí mật càng nhiều
lên, các đề tài giữ
bí mật được liệt kê ngày một dài rạ
Ngay trong ĐCS,
một
chế độ giữ bí mật được -quy chế
hóa rất chặt
chẽ,
cực kỳ tinh vi đến nỗi chẳng những dân
chúng mà cả cán
bộ đảng viên cũng bị tước mất
quyền được thông tin
khách
quan và chính xác. Có thể nói, nguyên tắc giữ bí mật
trong
ĐCS được thực hiện theo -chế độ
khoanh vòng. Vấn
đề
này chỉ có vài người trong BCT được biết
(vòng 1), vấn
đề
kia chỉ BCT được biết (vòng 2), vấn đề
nọ không phổ biến
ra ngoài TƯ (vòng 3). Vấn đề nào chỉ phổ
biến đến
bí
thư tỉnh và thành phố (vòng 4) thì các ban thường
vụ tỉnh
và
thành phố không được biết (vòng 5), vấn
đề nào chỉ
phổ
biến đến thường vụ tỉnh ủy, thành
ủy thì các tỉnh ủy
viên,
thành ủy viên không được biết (vòng 6), v.v...
cứ thế đi
xuống tận cơ sở. Khi đến đảng viên
và người dân thì
sự
thật bị bóp méo đến chục lần rồi và
trở thành điều
dối
trá trắng trợn! Mà thật ra những điều gọi
là -bí mật có
phải là bí mật gì ghê gớm cho cam, lắm lúc đó
chỉ là
những
thông tin mà ở các nước dân chủ đăng
đầy trên các báo,
ai cũng có thể đọc được! Giữ bí
mật để độc
quyền
thông tin, độc quyền bưng bít và xuyên tạc sự
thật
là
một trong những nền tảng của chế độ
độc tài toàn tri.. Và
đó cũng là một đặc quyền của các
đẳng cấp thống
trị!
9.
ĐCSVN theo nguyên tắc tập trung dân chủ, điều
đó có nghĩa là:
tập trung là căn bản, còn dân chủ chỉ là
hình thức.
Nguyên
tắc này bảo đảm sự tồn tại mãi mãi
của một kẻ độc
tài hay một nhóm độc tài toàn quyền thao túng
công
việc
đảng và nhà nước, độc tôn thống trị
toàn xã hộị
Cứ
nhìn lề lối sinh hoạt nội bộ ĐCSVN
cũng đủ thấy được
điều đó. Chẳng hạn, nói về đại
hội toàn đảng và
đại
hội các cấp. Vấn đề không chỉ là phải
họp đều kỳ
(thực
ra trước đây TƯ thường lấy nê hoàn cảnh
khó khăn
để
kéo dài khoảng cách giữa các đại hội), mà
còn - quan
trọng
hơn - cách tổ chức thế nào để bảo
đảm được chế độ
dân chủ trong đảng. Khốn thay, điều quan tâm
nhất của
tập
đoàn thống trị lại không phải là bảo
đảm được chế
độ
dân chủ trong đảng, mà là bảo đảm địa
vị thống trị lâu dài,
mãi mãi của họ trong đảng-nhà nước. Thông
thường khi
chuẩn
bị đại hội toàn quốc, BCT TƯ đưa
ra một đề cương về
đường lối, chủ trương, hay kế hoạch
kinh tế xã hội
(thường
dưới dạng dự thảo báo cáo của TƯ)
cho đại hội các
cấp
dưới thảo luận và bầu đại biểu
dự đại hộị Đề cương
này được coi là chân lý, nghĩa là đại hội
các cấp
chỉ
có thể thảo luận theo sự hướng dẫn của
cấp trên để
-quán
triệt, -thấm nhuần, hoặc -thêm râu ria, mắm muối,
chứ
không
thể phản bác, không thể có ý kiến khác biệt
hoặc
trái
ngược, càng không thể đưa ra đề
cương khác để cùng thảo
luận, tranh luận cho ra lẽ. Những đại biểu
nào ở cấp
dưới
tỏ ra -thông suốt, -nhất trí cao với đề
cương của TƯ
thì
mới được cử đi dự đại hội
cấp trên. Theo lệnh của BCT
TƯ, ban tổ chức TƯ phải có nhiệm vụ hướng
dẫn các cấp
dưới
bầu đại biểu đi dự đại hội
toàn quốc đ-úng yêu cầu
của TƯ. Làm như vậy, thì chắc chắn
bảo đảm trăm
phần
trăm đường lối cũng như thành phần
nhân sự ban lãnh
đạo
mới mà tập đoàn thống trị muốn sẽ
được thông qua.
Thậm
chí, để chắc chắn đạt được
yêu cầu của cấp trên,
có
khi tại đại hội đảng người ta còn
tổ chức bầu cử thử
ban chấp hành, nếu không đúng ý lãnh đạo thì
lại tiếp
tục
đ-ả thông! Đấy, bằng cái gọi là -tập
trung dân chủ và
đân
chủ có lãnh đạo như thế, tập đoàn thống
trị duy trì lâu
dài quyền lực của mình trong đảng, trong nhà nước
và xã
hội.
10.
Do những nguyên tắc sinh hoạt như trên, trong
ĐCS và trong xã
hội
-xã hội chủ nghĩa, hình thành rõ rệt một chế
độ
đẳng
cấp có tính chất phong kiến, chủ yếu dựa
trên mức độ
được cấp trên tin cậy và do đó
được hưởng thụ
vật
chất với mức độ khác nhau trong hàng ngũ cán
bô..
Người
ta gọi đó là -chế độ đãi ngộ cán bộ,
nhưng thật ra
đó là một chế độ đặc quyền
đặc lợi với những quy
định
cực kỳ phức tạp và phong kiến. Thậm chí
khi đã chết rồi,
những cán bộ cộng sản cũng đ-ược
phân biệt đối
xử
theo chế độ đặc quyền đặc lợi
đó: từ việc cáo
phó
được đăng báo hay không, vị trí trên tờ
báo - trang nhất
hay trang cuối, kèm ảnh hay không kèm ảnh, khổ
ảnh to nhỏ,
rộng
hẹp, cho đến việc chôn cất như thế nào,
lễ nghi ra sao,
ai được chôn ở đâu, rộng hẹp mấy
thước, v.v... Đấy,
người
cộng sản vô thần, -chí công vô tư coi trọng cái
chết
của
họ như thế đấỵ Còn những thứ
khác liên quan đến sự sống
vật chất thì khỏi phải nói! Tất cả mọi
thứ, từ cái
ăn,
cái mặc, cái ở, việc chữa bệnh, an dưỡng,
nghỉ ngơi,
thậm
chí đến việc học hành của con cái đều
phân biệt đối
xử chi li theo đẳng cấp, tôn ti trật tư..
Ngày nay, giai
cấp
cầm quyền cộng sản vẫn tiếp tục duy
trì chế độ đẳng
cấp để dựa vào các tổ chức chính quyền,
các công
ty
quốc doanh ăn của đút, ức hiếp dân thường,
mánh mung làm
ăn
bất hợp pháp, che đậy cho thân thuộc đứng
đầu các công
ty gọi là -tư nhân vơ vét tài sản nhà nước,
làm giàu
bất
chính. Chính vì thế, từ lâu rồi trong ĐCSVN đã
hình
thành
một lớp -nịnh thần - lớp người do khéo
bợ đỡ, xu
nịnh,
a dua cấp trên mà được đề bạt làm
cán bộ lãnh đạo,
có
đủ mọi đặc quyền đặc lợi, mà
trước tiên là đ-ặc lợi
tham nhũng. Lớp -nịnh thần này là nòng cốt của
giai cấp
mới
thống trị trong xã hội -xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, là
chỗ
dựa của ĐCSVN.
Ngày
nay, trong văn chương bình dân dưới thời -xã
hội chủ
nghĩa
vẫn còn truyền tụng câu ca dao châm biếm cái chế
độ
phân
phối thực phẩm theo đẳng cấp phong kiến
đó của đ-ảng ta:
Tôn
Đản (cửa hàng ở phố Tôn Đản bán
hàng tốt và rẻ cho
cán
bộ cao cấp) là chợ vua quan,
Nhà
Thờ (cửa hàng ở phố Nhà Thờ bán cho cán bộ
trung cấp) là
chợ trung gian nịnh thần. Đồng
Xuân (còn nói là Bắc Qua) là chợ thương nhân. Vỉa
hè là chợ nhân dân anh hùng.
11.
ĐCSVN ngoài miệng thường tuyên bố là họ
đấu tranh cho
một
xã hội không có giai cấp, đấu tranh cho công bằng
xã
hội,
v.v... nhưng khi đã cầm quyền rồi thì chính họ
lại đẻ ra
một giai cấp xã hội mới - giai cấp quan liêu
nomenklatura,
và
ngay trong giai cấp đó lại chia ra nhiều đẳng
cấp rõ rệt, tạo
nên sự bất bình đẳng xã hội trầm trọng
nhất. Vì thế
đầu
óc đẳng cấp -xôi thịt, nạn -mua quan bán chức
nặng nề
làm
cho số ít người có nhân cách trong đảng thấy
xấu hổ, nhưng
một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng
viên thì như đàn
ruồi
lao vào đ-ĩa mật đặc quyền đặc lợi,
đua nhau còng lưng
cúi gối, luồn lọt nịnh bợ cấp trên, cốt
để leo lên
địa
vị cao hơn. Lên địa vị cao hơn thì lại
muốn cao hơn nữa
và
quay lại đè nén cấp dưới, hoạnh họe
làm tiền để bù vào
-chi phí sản xuất khi phải đút lót cấp trên.
Ngày nay,
nhiều
người vào ĐCS là để kiếm lợi, để
vươn lên giai
cấp
cầm quyền, chứ không phải để đấu
tranh cho xã hội công
bằng tốt đẹp. Vì thế ở nông thôn Việt
Nam nghèo khổ,
tối
tăm, người nông dân vẫn bị đám -cường
hào mới, chủ yếu
là cán bộ của đảng, đè nén, áp bức,
bóc lột không
khác
gì dưới thời Pháp thuộc, có khi còn nặng nề
hơn vì
bộ
máy cai trị ở nông thôn ngày nay đông hơn thời
Pháp gấp bội
(theo thống kê của Trần Văn Giàu, số cán bộ
nhân viên
nhà
nước chỉ trong một tỉnh Thanh Hóa đã
đông hơn số công chức
toàn Đông Dương dưới thời Pháp). Còn
ở thành thị thì
nạn
tham nhũng tràn lan, các -quan cán bộ tha hồ nhận
-phong bì
hầu
như bán công khaị Thậm chí tổng bí thư
ĐCS cũng nhận -phong
bao của công ty nước ngoài hàng triệu đô la,
những ủy
viên
BCT TƯ hay ủy viên TƯ, thủ tướng, phó thủ
tướng, thống đốc
Ngân hàng nhà nước đút túi riêng bạc triệu bị
cán bộ
đảng
viên trung thực tố cáo, khiếu nại bao lần thì
vẫn
nguyên
vị (mới đây một phó thủ tướng và một
thống đốc
Ngân
hàng bị -xử lý nội bộ theo kiểu -giơ cao
đánh khẽ!),
còn
những cán bộ đảng viên thật lòng muốn
giúp lãnh đạo làm
trong sạch bộ máy đảng- nhà nước thì lại
bị đàn áp,
sách
nhiễu, hành hạ đ-ến sống dở chết dở
(xem: thư của
cựu
chiến binh Trần Dũng Tiến gửi tổng bí thư
Lê Khả Phiêu tố
cáo tình cảnh 11 cụ đảng viên bị đàn áp
vì đã dám vạch
trần
tội tham nhũng của các cán bộ cao cấp). Cái gọi
là tính chất
-tiên phong của ĐCSVN ngày nay quả thật là sự
mỉa mai chua
chát.
12.
Chính do sự sa đọa đạo đức của cán
bộ đảng viên, sự
biến
chất khủng khiếp của ĐCSVN như vậy, nên
hiện nay trong
ĐCSVN
tình trạng chia bè, lập khối rất trầm trọng
và phổ biến
dựa trên -nguyên tắcẪ giành và giữ lợi ích
kinh tế
và
địa vị trong đảng-nhà nước. Các cấp
càng cao thì sự đấu
đá nhau càng dữ dội và thâm độc để
giành và giữ
quyền
lực. Còn ở nông thôn tình trạng năm bè bảy bối
thật
trầm
trọng, các chi bộ đảng ở nhiều nơi dựa
theo -nguyên tắc
tộc phái, họ hàng (clan), họ nọ chống họ
kiạ Cái gọi là
-tình
đồng chí, -tình giai cấp chỉ là sự mỉa
mai! Tình trạng
chia
rẽ, bè phái này cũng như nạn tham nhũng là những
chứng bệnh
nan trị kinh niên của ĐCS kể từ năm 1945,
khi đảng bắt
đầu
cầm quyền. Các -vị lãnh đạo đảng
đều hô hào chống
những tệ nạn đó nhưng nào có ăn thua gì
vì chính bản
thân
họ cũng ngập ngụa trong những tệ nạn
đó, cho nên mọi
cuộc
-chỉnh đảng xưa nay đều chỉ là
hình thức.
13.
Từ khi ĐCSVN ra đời, ở Việt Nam đã diễn
ra cuộc đấu
tranh
ác liệt, không ngừng giữa chủ nghĩa quốc
tế
(internationalisme)
và chủ nghĩa quốc gia (nationalisme). ĐCSVN theo chủ
nghĩa quốc tế vô sản, đặt cuộc đấu
tranh giải phóng
dân
tộc trong phạm trù cách mạng vô sản thế giới,
nhằm mục tiêu
giành chuyên chính cho giai cấp vô sản quốc tế
để xây
dựng
chủ nghĩa cộng sản trên thế giớị Như
thế có nghĩa là
ĐCS
đặt cách mạng Việt Nam phụ thuộc trực
tiếp vào QTCS, chịu
sự chi phối của tập đoàn thống trị
ĐCSLX. Còn chủ
nghĩa
quốc gia (sau này, những người cộng sản Việt
Nam thường
dùng từ -chủ nghĩa dân tộc để dịch
chữ
nationalisme)
thì hướng tới việc giải phóng dân tộc khỏi
ách
nô
lệ nước ngoài và xây dựng đất nước
độc lập, hùng
cường
mà không muốn gắn số phận đất nước
và dân tộc
vào
chủ nghĩa cộng sản, nên tích cực chống lại
chủ nghĩa
quốc
tế. Cố nhiên, chủ nghĩa quốc gia gắn nền
kinh tế đất
nước vào hệ thống kinh tế tư bản thế
giớị Vì thế
ĐCSVN
coi chủ nghĩa quốc gia là khuynh hướng chính trị
của giai cấp
tư sản, là khuynh hướng đối lập, thù
địch với mình
nên
luôn luôn chống chủ nghĩa quốc gia và những người
theo
chủ
nghĩa quốc gia một cách vô cùng ác liệt. Đã
thế mà vẫn
còn bị QTCS nghiêm khắc phê bình. Sau đây, chúng tôi
xin
trích
dẫn một đoạn trong Thư của QTCS gửi
ĐCS Đông Dương hồi
năm 1931: -Có nhiều chứng cớ chỉ rằng
đảng không hiểu
rõ
cái nguy hiểm của chủ nghĩa quốc gia cải
lương, đảng không
kịch
liệt tranh đấu, không giải thích rõ cho quần
chúng hiểu rõ
tính chất phản dân, phản quần chúng của bọn
quốc gia cải
lương.
Dù cái vai tuồng của chúng không lấy gì làm lớn...
...
Ảnh
hưởng của tư tưởng quốc gia cải
lương vẫn có ở trong đảng....
(RSKHIDNI ở Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 567, trang
8-9,
bản
tiếng Việt, nên chúng tôi chép lại nguyên văn).
Sau khi cướp
được chính quyền, việc đầu tiên những
người lãnh
đạo
cộng sản Việt Nam quan tâm là tiêu diệt các lãnh
tụ và các
đảng quốc gia để thực hiện nền
chuyên chính độc tôn
của
ho.. Suy cho cùng, cuộc đấu tranh giữa chủ
nghĩa quốc tế
và
chủ nghĩa quốc gia về thực chất chỉ là
cuộc đấu tranh quyền
lực mà thôị Chính vì thế, ngay với những người
quốc
tế, như Đệ tứ quốc tế, thì vì đấu
tranh quyền
lực,
những người cộng sản quốc tế
cũng sẵn sàng vu khống họ
là -gián điệp, -tay sai đế quốc, phát xít...
để thẳng
tay
tiêu diệt ho..
14.
ĐCSVN là một phân bộ của QTCS, phải thực
hiện những
nghĩa
vụ đối với QTCS, mà các lãnh tụ QTCS, thật
ra là tay
chân
của tập đoàn thống trị ĐCSLX, thì chỉ
quan tâm đến ý đồ
-quốc tế của ho.. Đó là sự thật. Tuy
nhiên, cũng có
một
sự thật khác là: nghe nói QTCS quan tâm đến việc
giải
phóng
các nước thuộc địa, nghe nói ĐCSVN đấu
tranh giành
độc
lập dân tộc thì nhiều người Việt Nam, nhất
là thanh
niên
trí thức vừa có lòng yêu nước vừa có khát vọng
dân chủ,
đã hồ hởi đi theo ĐCS với lòng mong ước
đất nước
được
độc lập, dân tộc được tự do, chứ
lúc đầu họ
không
biết rõ về chủ nghĩa cộng sản, về chủ
nghĩa quốc tế,
về chuyên chính vô sản (cũng có khi ĐCS giấu
không nói
những
điều đó với họ từ đầu).
Nhưng khi đã vào ĐCS rồi,
cũng như -cá đã vào lờ, với sự giáo dục,
với kỷ
luật
sắt và mọi cơ chế kìm chế khác của
đảng, dù muốn dù
không,
cuối cùng họ cũng phải chấp nhận những
thứ đó. Càng về
sau, khi chế độ cực quyền đã thiết lập
rồi thì một
số
đảng viên có tinh thần dân tộc và ý thức
dân chủ càng
nhận
thấy ban lãnh đạo ĐCS thực tế đã trở
thành những kẻ
thống
trị dân tộc, phản bội những lời hứa
hẹn tốt đẹp
về
dân chủ tự do, về công bằng xã hội, thì họ
lên tiếng phản
đốị Đó chính là nguồn gốc của trào
lưu bất đồng
chính
kiến (dissidence) trong đảng.
15.
Có điều đáng nói là lúc mới đầu, trong
thập niên 30, ĐCSVN
lệ thuộc rất chặt vào QTCS, những người
lãnh đạo
đảng
luôn luôn cố tỏ ra đắc lực với QTCS, họ
thi hành triệt
để mọi mệnh lệnh của QTCS, nên cái tệ
giáo điều
cứng
nhắc trong lãnh đạo của đảng rất nặng
nề. Từ đầu
và
giữa thập niên 40, do bị đứt liên lạc với
QTCS, lại gặp rất
nhiều khó khăn, nên thời kỳ này ĐCSVN phải
gượng nhẹ
với
các tầng lớp trong dân tộc, hoạt động ít
nhiều có tính
tự lập hơn, dù về căn bản vẫn tuân
theo đường lối
chung
của QTCS. Trong những năm này, ĐCSVN có quan tâm hơn
đến
những
vấn đề của dân tộc, nhờ đó đã
tập hợp được
đại
đa số dân chúng làm cách mạng giải phóng đất
nước và
tổ
chức cuộc kháng chiến chống Pháp. Chính trong thời
gian này,
đường lối phân biệt giai cấp của
đảng chưa được
nhấn
mạnh, khối đoàn kết dân tộc tuy đã bị
sứt mẻ do
việc
thanh trừng các đảng phái đối lập,
nhưng còn chưa quá trầm
trọng, dân chúng còn tập hợp quanh tổ chức Việt
Minh
(ĐCS
đã nấp dưới chiêu bài này để che giấu
thực chất cộng
sản của mình). Trong ký ức nhiều người
theo ĐCS trong
cách
mạng và kháng chiến còn ghi lại nhiều kỷ niệm
tốt của
thời
gian nàỵ Nhưng từ cuối thập niên 40 đầu
thập niên 50, sau
khi ĐCSTQ chiếm được toàn bộ Hoa lục,
ĐCSVN nối lại liên
lạc
đã với ĐCSTQ và ĐCSLX và lại tiếp tục
bị lệ thuộc về mọi
mặt vào hai đảng đ-àn anh thì tình hình lại
đổi khác,
không
khí hồ hởi biến mất, nhường chỗ cho
sự sợ hãi và
thù
hận. Do tinh thần phục tùng nô lệ các thần tượng
Stalin và
Mao Trạch Đông, do đầu óc giáo điều, rập
khuôn máy móc
các
mô hình của Liên Xô và Trung Quốc, trong thời gian này
ĐCSVN
đã kỳ thị các giai cấp không vô sản, siết
chặt -chuyên
chính
vô sảnẪ (bắt chước Trung Quốc gọi là
chuyên chính dân chủ
nhân dân) và đã phạm nhiều bạo hành nghiêm trọng
gây ra
biết
bao tai họa cho dân tộc - đặc biệt là trong cuộc
-cải
cách
ruộng đất và chỉnh đốn tổ chứcẪ,
-hợp tác hóa nông
nghiệp, -cải tạo tư sản, -cải tạo công
thương nghiệp tư
doanh,
-vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm, -vụ án Xét lại -
chống
Đảng,
v.v... Trong thời gian này, ĐCSVN hăm hở -làm nhiệm
vụ
quốc
tế, tích cực đ-ấu tranh giai cấp, hăng hái
-tiến nhanh,
tiến
mạnh lên chủ nghĩa xã hội để biến
-Việt Nam là tiền đồn
của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á,
v.v... nên dân
tộc
ta đã phải trả giá cao nhất bằng xương
máu, mồ hôi,
nước
mắt và tự do của mình.
16.
Càng về sau, nhất là từ khi hệ thống xã hội
chủ nghĩa
và
PTCSQT bị sụp đổ, ĐCSVN đã biến chất
rõ rệt, không còn
thực
chất -cộng sản nữạ Đối với tập
đoàn thống trị, những
cái gọi là chủ nghĩa Marx-Lenin, chủ nghĩa quốc
tế vô
sản,
chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội,
v.v... ngày nay
không
còn là niềm tin hay lý tưởng như xưa, mà chỉ
là những
chiêu
bài để che đậy âm mưu giữ vững quyền
lực cũng như
quyền
lợi của họ và của giai cấp quan liêu cầm
quyền đất nước,
là giai cấp thực tế đang thống trị và
bóc lột dân
tộc
Việt Nam.
Ngày
nay, ĐCSVN trên thực tế đã chia ra thành hai đ-ảng
vô sản
đối
lập nhau rõ rệt - một đ-ảng vô sản thống
trị và một
đ-ảng
vô sản bị trị, nói cụ thể hơn là một
đ-ảng vô sản nắm
quyền với những đảng viên -vô sản giàu
có, nhà lầu, xe
hơi,
biệt thự, sống xa hoa phè phỡn, chủ nhân những
công ty
-quốc
doanh trá hình, thậm chí một số là chủ nhân những
tài
khoản
hàng triệu, hàng chục triệu đô la ở các nhà
băng ngoại
quốc,
chuyên ngồi trên các -ghế cao để ra lệnh cho
toàn đảng,
và một đ-ảng vô sản của những đảng
viên thường,
những
cựu chiến binh, những người nghỉ hưu
nghèo khổ, thật sự
vừa -vô sản lại vô quyền,ăn bữa nay lo bữa
mai và chỉ biết
cắmđầu cắm cổ chấp hành mệnh lệnh
của cấp trên.
Giữa
hai đ-ảng vô sản đó hầu như không có cái
gì chung, ngoài
những khẩu hiệu -vô sản rỗng tuếch: muôn
năm chủ
nghĩa
Marx-Lenin, muôn năm tư tưởng Hồ Chí Minh, muôn
năm chủ
nghĩa
xã hội...
Nguyễn
Minh Cần