Trich
tu Dan Chu -Tấn
Đức
Tạ Thu Thâu là một nhà yêu nước, một nhà
cách mạng vĩ đại Việt Nam đầu thế
kỷ XX. Nhưng, tên tuổi của ông, dù gắn liền
với cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp
trong hai thập niên 30 và 40, lại ít được giới
trẻ Việt Nam biết đến, nhất là những
người sinh ra và trưởng thành ở miền Bắc
ỏỏxã hội chủ nghĩaõõ. Sử đảng
và các văn kiện chính thức của đảng Cộng
sản Việt Nam chỉ nhắc đến ông và các
đồng chí của ông bằng những lời lẽ
bỉ thử, miệt thị và tồi tệ, như
ỏỏtay sai cho đế quốc Phápõõ, ỏỏmật
thám cho phát-xít Nhậtõõ...
Vậy,
sẽ không vô ích nếu chúng ta điểm qua đôi
nét về cuộc đời sáng lạn và cái chết bi
thảm của một nhà cách mạng ưu tú, đã từng
được ỏỏỦy ban nước Pháp của
kiều dân, nước Pháp của tự doõõ (France Des
Immigrés, France Des Libertés) chọn để đăng
ảnh và tiểu sử trên một bức tường lớn
trong một cuộc triển lãm long trọng ở Vòm trời
hữu nghị (Arche De La Fraternité) tại khu La Défense
(Paris) nhân kỷ niệm 200 năm Đại cách mạng
Pháp vào năm 1989.
Tiểu
sử giản yếu của Tạ Thu Thâu.
Nhà
cách mạng Tạ Thu Thâu sinh năm ngày 5-5-1906 tại
Tân Bình (Long Xuyên), là con thứ tư trong một gia đình
đông con và nghèo khó. Từ năm 11 tuổi, sau khi thân
mẫu qua đời, ông đã vừa học vừa phụ
việc cho cha để nuôi sáu miệng ăn. Sau khi tốt
nghiệp phổ thông, ông dạy học ở Sài Gòn và
tham gia những tổ nhóm thanh niên yêu nước, trong
đó có đảng Annam trẻ (Jeune Annam) năm 1925, sau
này bị chính phủ thực dân giải tán. Tạ Thu
Thâu coi giai đoạn này trong đời ông là
ỏỏgiấc mộng liều mạng của tuổi
trẻõõ.
Năm
1926, Tạ Thu Thâu tham gia nhiều cuộc biểu tình phản
đối chính phủ Pháp, đòi các quyền tự do,
dân chủ cho dân Việt. Qua Pháp tháng 7-1927 khi mới 21
tuổi, theo học ban Khoa học (Đại học
Paris), ông gia nhập đảng Việt Nam Độc lập
(PAI) của nhà yêu nước Nguyễn Thế Truyền
và đảm nhiệm điều khiển đảng này
năm 1928 sau khi Nguyễn Thế Truyền về nước.
Năm 1929, sau một thời gian hoạt động tích
cực chống thực dân trên lập trường một
người quốc gia, ông tiếp xúc với Tả
đối lập Pháp và được Alfred Rosmer - một
người bạn, người đồng chí, học
trò của Trotsky - giới thiệu vào tổ chức này.
Từ đó trở đi, ông trở thành lãnh tụ trốt-kít
Việt Nam đầu tiên, cùng các đồng chí của
ông là Huỳnh Văn Phương và Phan Văn Chánh.
Ngày
20-5-1930, Tạ Thu Thâu cùng một số kiều dân Việt
ở Pháp tham gia cuộc biểu tình trước điện
Elysée (dinh Tổng thống Pháp), phản đối việc
thực dân Pháp xử tử các chiến sĩ yêu nước
Việt Nam Quốc dân đảng ở Yên Bái. Sau đó,
ông bị bắt cùng 18 Việt kiều khác và bị trục
xuất về Việt Nam vào cuối tháng 5.
Trong
vòng 15 năm kể từ khi về nước đến
khi bị ám hại vào năm 1945, Tạ Thu Thâu là một
lãnh tụ ái quốc lừng danh ở Việt Nam. Là người
tổ chức và lãnh đạo phong trào Tả đối
lập trốt-kít, sau đổi thành Đông Dương
Cộng sản đảng, ông hoạt động cách mạng
bằng mọi phương tiện như xuất bản
tờ Vô sản (tháng 5-1932), làm báo Pháp ngữ La Lutte (Tranh
đấu; tháng 4-1933), ứng cử Hội đồng
thành phố Sài Gòn (tháng 5-1933), tranh cử Hội đồng
quản hạt Nam Kỳ (tháng 4- 1938)... Từ năm 1932
đến 1940, Tạ Thu Thâu bị bắt 6 lần và bị
kết án 5 lần, tổng cộng 13 năm tù và 10 năm
biệt xứ.
Cuối
năm 1944, sau khi được phóng thích từ Côn Đảo,
ông dự định thành lập đảng Xã hội
Thợ thuyền. YÙ định ấy đã không thành
vì đầu tháng 9-1945, trên đường về Nam sau
khi đã bắt liên lạc với một số đồng
chí ở Bắc Bộ nhằm xuất bản tờ Chiến
đấu, cơ quan ngôn luận của đảng Xã hội
Thợ thuyền miền Bắc, ông bị Việt Minh
đón đường và sát hại trên một cánh
đồng bên bờ biển Mỹ Khê (tỉnh Quảng
Ngãi) khi mới 39 tuổi.
Chẳng
những là một nhà cách mạng kiên cường, Tạ
Thu Thâu còn là một cây bút sắc bén (ông có tài viết
Việt văn cũng như Pháp văn), một diễn
giả xuất sắc, một trí thức có uy tín, tính
tình ôn hòa, nhã nhặn. Những người từng biết
ông, sau này đều nhắc đến ông với lời
lẽ kính trọng. Tên ông đã được đặt
cho một con đường ở gần chợ Bến
Thành, Sài Gòn: 10 năm sau ngày ỏỏgiải phóng miền
Namõõ, con đường ấy mới bị đổi
tên.
Ai là người
đã ra lệnh ám sát Tạ Thu Thâu?
Có thể
không bao giờ chúng ta có lời giải đáp chính xác
cho câu hỏi này. Một chỉ thị như thế, dù
có tồn tại trên văn bản, chắc chắn
cũng đã bị thiêu hủy. Trên phương diện
này, ỏỏngười anh lớnõõ Liên Xô đã
đặt ra một tiền lệ đáng ỏỏnoi
theoõõ cho tất cả các ỏỏchư hầuõõ
khác trong khối ỏỏxã hội chủ nghĩaõõ:
ngay từ năm 1920 (tức là khi Lenin còn sống và còn
tỉnh táo), đã có một chỉ thị được
chuẩn y nhằm cấm ngặt việc ỏỏđưa
những nghị quyết trong các vấn đề quan trọng
nhất của Bộ Chính trị vào biên bản chính thức
của các phiên họp Bộ Chính trịõõ. Trong những
năm về sau, đảng Cộng sản Liên Xô đã
đưa ra hàng loạt chỉ thị, nghị quyết
để ỏỏmật hóaõõ hoặc dấu tịt
bằng chứng về những tội lỗi tầy trời
của họ trước giới sử học và trước
đời sau.
Nên nhớ
rằng đảng Cộng sản Liên Xô đưa ra quyết
định trên vào năm 1920, tức là khi nước
Nga - Xô-viết đã thoát khỏi tình thế hiểm
nghèo do cuộc can thiệp của các nước
ỏỏtư bảnõõ và sự chống đối của
lực lượng Bạch vệ trong nước gây ra.
Ở Việt Nam, vào nửa cuối năm 1945, khi chính
quyền Việt Minh còn đang trong cảnh ỏỏtrứng
nướcõõ và khi những người trốt-kít yêu
nước bị coi là ỏỏtay sai đế quốcõõ,
ỏỏtay sai cho phát-xít quốc tếõõ..., phải
ỏỏtriệt ngayõõ và ỏỏtrừng trị
đích đángõõ, thì quyết định ám sát Tạ
Thu Thâu và các lãnh tụ trốt-kít khác hẳn phải
được coi là một ỏỏnghị quyết
quan trọngõõ và đáng để ỏỏmật hóaõõ
trước hậu thế. Mà cách ỏỏmật
hóaõõ hữu hiệu nhất, là phi tang, là xóa bỏ mọi
chứng từ giấy tờ, là thủ tiêu mọi nhân
chứng, thậm chí thủ phạm, trong chừng mực
có thể.
Phục
hồi lịch sử sau ngần ấy năm, nhất là
lịch sử của một thời kỳ vô cùng rối
rắm và phức tạp như những năm 1945-1946, không
phải là chuyện dễ. Nhiều khi, chúng ta chỉ có
thể dựa vào những nguồn tin ỏỏtruyền
khẩuõõ theo lời thuật lại của dân chúng. Những
ỏỏnhân chứngõõ thời ấy, nếu có, giờ
đây cũng đều trên ngưỡng ỏỏthất
thậpõõ. Họ có thể nhớ lại và thuật lại
một cách chính xác những gì đã xảy ra không? Dưới
tác động của tình hình chính trị ở Việt
Nam, những thông tin họ đưa ra có thể coi là
xác tín đến mức nào? Đó là những câu hỏi
và những nghi ngờ thường lệ mà chúng ta phải
đặt ra trước vấn đề cái chết của
Tạ Thu Thâu, cũng như bất cứ một
ỏỏnghi ánõõ lịch sử nào, được coi
là ỏỏvết trắngõõ trong lịch sử Việt
Nam cận đại và đương đại.
Đảng
Cộng sản Việt Nam, trong các văn kiện chính thức,
đều cho rằng việc triệt hạ các chiến
sĩ yêu nước trốt-kít là một ỏỏthắng
lợi lớnõõ của đảng. Nhưng, trong khi không
tiếc lời xuyên tạc và phỉ báng hoạt động
ái quốc của các tổ chức trốt-kít, dường
như không bao giờ họ đả động đến
việc ỏỏthắng lợi lớnõõ ấy đã
được thực hiện trong thực tế như
thế nào. Một bài báo mang tính tổng kết những
ỏỏthắng lợi oanh liệtõõ trong năm 1945 của
đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đàn
áp và tiêu diệt các tổ chức trốt-kít, cũng
chỉ nói rất chung chung: ỏỏBáo chí của ta
đã nghiêm khắc lên án bọn trốt-kít. Nhân dân
ta đã vạch trần bộ mặt phản động
của chúng, chính quyền nhân dân đã trừng trị
đích đáng bọn trốt-kít... Cách mạng tháng
Tám năm 1945 đã cuốn đi số lớn phần tử
trốt-kít thối nátõõ. Không hề có một chữ
về những chủ nhân của ỏỏthắng lợi
oanh liệtõõ đó!
Lần
theo dấu sự thật, sử gia Daniel Hémery, một cựu
đảng viên cộng sản Pháp, là người có những
cố gắng lớn trong việc tái tạo sự thật
về cái chết của Tạ Thu Thâu và các đồng
chí của ông. Là một nhà nghiên cứu sử chuyên về
đề tài Việt Nam, ông đã viết rất nhiều
sách vở về lịch sử Việt Nam; luận án tiến
sĩ của ông cũng lấy đề tài về Tạ
Thu Thâu và nhóm trốt-kít ở Việt Nam. Tuy nhiên, do gặp
nhiều trở ngại về tư liệu và bằng chứng
cụ thể (nhất là sự giấu diếm của
đảng Cộng sản Việt Nam), trong những
năm của thập kỷ 70, ông mới có thể
đưa ra các ỏỏgiả thuyếtõõ và suy luận
xem ỏỏgiả thuyếtõõ nào hợp lý hơn cả.
Trong số
các tư liệu Việt ngữ, phải đặc biệt
nhấn mạnh những tìm tòi của nhóm trốt-kít Việt
Nam tại Pháp, dựa trên các sự kiện mới, các
văn bản mới được phanh phui, ỏỏbạch
hóaõõ, dựa trên lời thuật lại của một
số người trốt-kít cựu trào còn sống sót.
Những tìm tòi ấy được ông Hoàng Khoa Khôi, người
đứng đầu nhóm, tổng kết lại trong
bài viết Ai đã ám sát Tạ Thu Thâu và những người
trốt-kít Việt Nam?, đăng trên Hồ sơ về
phong trào Đệ tứ Việt Nam.
Trong bài
viết này, ông Hoàng Khoa Khôi đã lần lượt
điểm qua ba ỏỏgiả thuyếtõõ của sử
gia Daniel Hémery về người chủ mưu ám sát Tạ
Thu Thâu:
1. Tướng
Nguyễn Bình, chỉ huy quân đội miền Nam,
2. Trần Văn Giàu và Dương Bạch Mai,
hai lãnh tụ công khai của đảng Cộng sản
Việt Nam ở Sài Gòn, đồng thời là những
người xta-lin-nít khét tiếng,
3. Chính
ông Hồ Chí Minh, lãnh tụ tối cao của đảng.
Với
những lập luận cùng bằng cớ sắc sảo
và đầy tính thuyết phục, tác giả bài viết
loại trừ hai khả năng đầu và thiên về
khả năng thứ ba. Vì theo ông, chính ông Hồ Chí
Minh là ỏỏngười cha tinh thầnõõ của tất
cả những cuộc thanh trừng, khủng bố các tổ
chức trốt-kít Việt Nam, kể từ khi ông còn lưu
lạc ở nước ngoài và hoạt động
dưới sự điều khiển của Đệ
tam Quốc tế. Chúng ta cũng được biết rằng
sáu năm trước khi Việt Minh tổ chức vụ
đại thảm sát toàn bộ các chiến sĩ trốt-kít
yêu nước, sáu năm trước khi bài Phải triệt
ngay bọn trốt-kít! được đưa ra chính
thức trên tờ Cờ giải phóng của đảng
Cộng sản Việt Nam như một lời hô hào
chém giết khát máu, thì ông Hồ Chí Minh, ở nước
ngoài, đã dùng những lời lẽ hết sức
kích động để kêu gọi ỏỏtiêu diệtõõ
những người trốt-kít, ỏỏtay sai của
phát-xítõõ, ỏỏbất lươngõõ, ỏỏchó
sănõõ, ỏỏbán rẻ tổ quốcõõ... Như
thế, ông Hồ Chí Minh và những người nối
nghiệp ông sẽ phải trả lời ra sao khi trong một
cuộc hội kiến diễn ra vào năm 1946 với nhà
văn Pháp Daniel Guérin, người bạn và đồng
chí cũ của Tạ Thu Thâu trong Tả đối lập
Pháp, ông đã tuyên bố: ỏỏTạ Thu Thâu là người
yêu nước tầm cỡ lớn. Tôi khóc cái chết
của ông ấyõõ (Ta Thu Thau était un grand patriote, nous le
pleurons!)? Nhưng ngay sau đó, ông Hồ Chí Minh đã
bồi thêm: ỏỏNhưng tất cả những ai không
đi theo đường lối do tôi vạch ra sẽ
đều bị bẻ gẫyõõ. Có thể hiểu câu
nói thứ hai này - mà ông Trần Văn Giàu, trong một
cuộc nói chuyện ở Paris mùa hè năm 1989, đã
cho là không đúng sự thật - là một lời thú
nhận thành thực về trách nhiệm của ông Hồ
Chí Minh về cái chết của Tạ Thu Thâu?
Vụ
ám sát Tạ Thu Thâu đã được diễn ra
như thế nào?
Ông
Hoàng Khoa Khôi, trong bài báo nói trên, đã có một nhận
định xác đáng: ỏỏ... người cầm
dao hay nổ súng chỉ là người thừa hành, không
phải thủ phạm chính. Thủ phạm chính phải
tìm trong đám người lãnh đạo đảng Cộng
sản Việt Nam, kể cả Hồ Chí Minh. [...] Thủ
phạm chính là kẻ đã mài dao, lắp đạn cho
đao thủ phủõõ.
Tuy
nhiên, để lịch sử được rạch ròi,
cũng nên tìm hiểu hoàn cảnh Tạ Thu Thâu bị
sát hại và ỏỏvạch mặt chỉ tênõõ cả
những kẻ đao phủ trực tiếp này.
Trong vấn
đề này, nguồn tư liệu mà chúng tôi hiện
có cũng hết sức hạn chế. Sau khi đặt
câu hỏi ỏỏở Việt Nam, ai đã hạ sát
Tạ Thu Thâu và các đồng chí của ông?õõ, ông
Hoàng Khoa Khôi cho biết: ỏỏSau khi điều tra,
chúng tôi biết được ba thủ phạm. Họ
đều là những người cộng sản. Người
thứ nhất là Kiều Đắc Thắng, trách nhiệm
Nghiệp đoàn. Người thứ hai là Nguyễn Văn
Trấn, đã từng được đi học tập
ở Moscow. Người thứ ba tên là Nguyễn Văn Tây,
cựu bộ trưởng chính phủ Trần Văn Giàuõõ.
Cần nói thêm rằng nhân vật Nguyễn Văn Trấn
được nhắc đến ở đây chính là
ông Nguyễn Văn Trấn đã mất ít lâu nay, một
người cộng sản ỏỏphản tỉnhõõ,
tác giả cuốn ỏỏViết cho Mẹ và Quốc
hộiỏỏ được nhiều người
ưa thích, trong đó ông vẫn dùng nhiều từ ngữ
và luận điệu thô thiển, thậm chí bất
nhã, khi nhắc đến Tạ Thu Thâu và những người
yêu nước trốt-kít ở Việt Nam.
Trong cuốn
sách Việt Nam 1920 - 1945 (Cách mạng và phản cách mạng
dưới thời thuộc địa) của ông Ngô Văn,
một người trốt-kít cựu trào, từng là
đồng chí của Tạ Thu Thâu ở Việt Nam, tác
giả cũng chỉ viết một cách rất sơ
lược: ỏỏ... Thâu lên đường trở
về Nam. [...] Dân chúng kể lại khác nhau về những
gì xảy ra sau đó. Chúng ta không biết đích xác nơi
Thâu bị bắt, nhưng mọi người đều
nói là ở Quảng Ngãi và gán cho Việt Minh chịu
trách nhiệm. Họ cũng nói về sự nghi ngại
của các vệ quân được lệnh bắn Tạ
Thu Thâu, khi nghe anh tự bảo vệ trong một vụ gọi
là xét xử: anh đã biện minh về cuộc đời
cách mạng của mình. Lệnh hô bắn ba lần, cả
ba lần các tay súng đều hạ xuống, lúc đó
viên ỏỏthẩm phánõõ đã kết thúc bằng một
phát súng lục vào lưng (người hạ sát tên là
Tư Ty). Đó là vào một ngày đầu tháng Chín năm
1945õõ. Tác giả Trần Ngươn Phiêu trong bài viết
Những nhân chứng cuối cùng cho biết thêm:
ỏỏ... ông ẶTạ Thu Thâu] bị bắt khi
đi ngang qua Quảng Ngãi ngày 18 tháng Tám năm 1945, bị
giam ở đình Xuân Phổ và sau đó bị giết
ở cánh đồng Dương, bờ biển Mỹ Khêõõ.
Trong số
những tư liệu trong tay chúng tôi, riêng chỉ có
bài báo nhan đề Tôi thấy Tạ Thu Thâu chết của
một người ký tên là Nguyễn Văn Thiệt,
đăng trên tờ tuần báo Hồn nước của
ỏỏTập đoàn công binh Việt Namõõ (Rassemblement
des travailleurs vietnamiens) vùng Paris trong hai số 7 (ngày 30-7)
và số 8 (ngày 7-8) năm 1949, là thuật lại một
cách chi tiết và kỹ lưỡng về cái chết của
Tạ Thu Thâu. Bài báo này đã được
đăng lại trong công trình sử học Người
Việt ở Pháp 1940 - 1954 của ông Đặng Văn
Long, một người trốt-kít cựu trào sống
ở Pháp. Trong một số cuộc điện đàm với
tác giả cuốn sách, chúng tôi được ông cho biết:
theo ông, đa phần những thông tin trong bài báo có thể
coi là trung thực. Cũng theo lời ông, cách đây vài
ba năm, dường như có người còn gặp thủ
phạm hạ sát Tạ Thu Thâu ở Việt Nam.
Chúng
tôi xin dẫn nguyên văn bài báo để bạn đọc
tham khảo:
ỏỏAi
đi ngang Quảng Ngãi vào khoảng tháng 9 năm 1945,
cũng biết đến không khí hãi hùng của cái
thành phố tự cho mình ỏỏcó tinh thần cách mạng
caoõõ ấy.
Các
tín đồ Cao Đài, các nhà trí thức, các nhà phú hộ,
các nhà cách mạng quốc gia, tất cả những hạng
người ấy cùng với vợ, con, anh em họ
được Việt Minh cẩn thận chém giết,
chôn sống, thiêu cháy, mổ bụng v.v... mỗi ngày
theo chính sách ỏỏTru di tam tộc để trừ hậu
họaõõ. Người chết nhiều đến nỗi
độ ấy ở Hà Nội, tờ báo ỏỏGió
mớiõõ của ỏỏTổng hội sinh viênõõ, một
tờ báo rất thiên Việt Minh đã phải lên tiếng
rằng ỏỏở Quảng Ngãi, ngày ngày đầu
người rụng như sungõõ.
Anh
Lê Xán, bạn tôi, một đồ đệ của cụ
Phan Bội Châu, bị Pháp đày Lao Bảo, vừa
được thả ra thì bị Việt Minh Quảng
Ngãi bắt lại. Vì sự tình cờ của chiếc
xe lửa ngừng lại nghỉ đêm ở Quảng
Ngãi (độ ấy đường xe lửa Sài Gòn -
Hà Nội bị hư nhiều nơi, xe lửa chạy rất
chậm và hay nghỉ dọc đường) nên bắt
buộc tôi phải xuống xe định kiếm một
quán trọ ở cạnh ga mà nghỉ đêm. Trong lúc ngồi
uống nước, sực nhớ đến Lê Xán, tôi
tò mò hỏi bà chủ quán tin tức về bạn tôi. Lập
tức tôi bị một trinh sát viên mặc áo nâu, đi
chân không, đang đứng vớ vẩn ở cửa tóm
lấy buộc tôi là đồng lõa với ỏỏtội
nhânõõ và điệu tôi về Sở Công an.
Bị
giam ở Sở Công an hai hôm, nhốt trong một xà-lim cũ
của Pháp, tôi dò hỏi thì được biết tin bạn
tôi đã bị xử tử rồi. Nhưng tôi cũng
lại biết thêm rằng người ta buộc tôi về
tội ỏỏđịnh đến Quảng Ngãi giải
vây cho Lê Xánõõ và ngày hôm ấy tôi bị mang đi
để giam ở ỏỏmột nơi xaõõ...
Tôi
đang lo sợ ỏỏmột nơi xaõõ ấy là
cõi âm ti thì chiếc xe ngựa chở tôi và một người
lính gác, tay cầm một con dao dài, một quả lựu
đạn buộc tòng teng vào giây nịt bằng một
sợi lạt, từ từ rẽ vào con đường
đi về Phú Thọ. Tôi hết lo bị chém liền
vì tôi biết rằng ở làng Phú Thọ, Ủy ban vừa
dựng một nhà lao to để chứa cho đủ tội
nhân xa thành phố sợ có chuyện bất trắc chăng.
Nhưng tôi lại sợ quả lựu đạn đứt
giây buộc nên cứ xem hoài.
Nhà
lao Phú Thọ xây trên một khoảng đất rộng,
trong cùng là một nhà ngang, hai bên hai dãy nhà dọc, giữa
sân trường một cột cờ. Mỗi sáng, mỗi
chiều đều có tu-huýt thổi để chào cờ,
và lính cũng như phạm nhân đều phải đứng
dậy, nắm tay phải đưa lên ngang đầu, sẵn
sàng hễ ông sếp lao hô ỏỏViệt Nam Dân chủ
Cộng hòa!õõ thì tất cả đồng hô:
ỏỏMuôn năm!õõ và ỏỏHồ Chí Minh!õõ,
thì tất cả ỏỏMuôn năm!õõ.
Phòng
giam tôi vuông vức mỗi bề độ hai thước
và cùng giam chung với tôi còn có mười sáu người
nữa. Tứ bề bít kín, chỉ có một cái cửa
để thông với ngoài, nhưng song cửa lại làm
bằng mấy cây gỗ lim to quá, gần như khít với
nhau, nên khó thở vô cùng. Trong những bạn đồng
cảnh ngộ với tôi, tôi còn nhớ có tên Bùi Trọng
Lệ trước làm mật thám cho Pháp (sau này y bị
xử tám năm tù), và ba người con trai của Tổng
đốc Nguyễn Hy. Ba người này bị bắt
vì tội ỏỏtrong thời kỳ cách mạng toàn
dân mà trong nhà chứa đờn và bài ca ủy mịõõ,
và đã bị xử tử một tuần lễ sau khi
tôi đến.
Một
buổi sáng, tôi đang đứng dựa vào cửa cố
thiu thiu ngủ thì bỗng giật mình vì những tiếng
ỏỏcác bạnõõ tôi kêu lên: ỏỏTạ Thu
Thâu! Tạ Thu Thâu!õõ Tôi tỉnh hẳn người. Tạ
Thu Thâu? Trời ơi! Trong bao lâu, khi tôi còn đi học,
tôi đã nghe đến tên Người, đã bị mê
hoặc vì cái oai hùng của đời Người, dệt
toàn bằng tranh đấu, hy sinh và đau khổ. Dưới
thời Pháp thuộc, trong lúc các nhà cách mạng khác trốn
ở hải ngoại thì Tạ Thu Thâu dám về trong nước
hoạt động chánh trị ngay trong nước và chịu
tù, chịu tội. Cái tên Tạ Thu Thâu tự bao nhiêu
lâu và ngay cả đến bây giờ, luôn luôn gợi ra
trong óc tôi hình ảnh của một người ngang tàng
khí phách, coi sự tù tội, sự hình phạt về
xác thịt như một sứ mệnh thiêng liêng mà Người
phải riêng chịu đựng lấy, để giải
thoát cho đồng bào. Trên đời mỗi khi thất
bại vì một bất trắc gì, tôi thường hay
nghĩ tới Người để tìm nguồn an ủi
và lý do phấn khởi cho lòng mình.
Các bạn
tù của tôi tranh nhau nhìn qua cửa. Từ một phòng
giam phía bên kia sân, độ bảy, tám người dân
quân mang súng, gươm, lựu đạn và ông chủ
tịch làng - vừa là sếp lao thì phải - kéo ra một
người đàn ông ốm lỏng khỏng mà tôi nhìn
ra ngay là ông Tạ Thu Thâu. Ông mặc một sơ-mi cụt
tay có hai túi trên ngực, một cái quần Tây dài, chân
đi giày vàng. Áo quần trắng đã bàu nhàu và bẩn
thỉu, dây do những vết đen đỏ còn đọng,
dấu tích của những sự tra tấn vừa qua.
Râu
tóc của ông Thâu rối beng, mặt mày hốc hác, nhưng
cặp mắt vẫn bình tĩnh nhìn mọi người,
mọi vật - không biết tôi có lầm chăng - miệng
ông hơi nhếch một nụ cười.
Các bạn
tôi lao xao:
- Lần
này thì Tạ Thu Thâu phải chết.
Một
người nào đó nói nhỏ:
-
Quân khốn nạn!
Tôi
gián một con mắt vào khoảng hở giữa hai song cửa,
hai tay muốn tét ra cho rộng để nhìn cho rõ đám
người hùng hổ đi với ông chủ tịch
luôn mồm la hét, nạt người này, cho lệnh kẻ
kia và ở giữa, một bóng trắng chập choạng,
khập khiễng đi... đi... dễ biến sau mộr
rặng cây mà ở đó tôi biết có một khoảnh
đất trống gọi là pháp trường.
Tôi
bàng hoàng quá đỗi, không còn biết mình tỉnh hay
mê. Tôi biết Tạ Thu Thâu bị Pháp bắt vừa mới
ở tù ra, thân thể bị tiêm thuốc cho chết xuội
đi một bên, nếu không có Chánh phủ Trần Trọng
Kim thì ông đã chết trong khám rồi. Một người
như Người suốt đời hy sinh cho dân tộc
Việt Nam, bị tật nguyền vì dân tộc Việt
Nam, thì còn có thể phạm tội gì với quốc gia
mà đến nỗi khi Việt Nam vừa mới có ít chủ
quyền thì dân Việt Nam liền bắt bớ, đọa
đày và xử tử.
Các bạn
tôi nói là Tạ Thu Thâu bị buộc về tội phản
cách mạng và âm mưu lật đổ chánh quyền,
nhưng tra tấn bao nhiêu ỏỏông ta cũng đếch
thèm khaiõõ. Bùi Trọng Lệ, đứng cạnh tôi,
nói một cách nghiêm nghị quá đến nỗi tôi
không cho là một lời mỉa mai:
- Tội
Tạ Thu Thâu nặng hơn nữa nhiều. Ông phạm
cái tội rất lớn là được dân chúng thương
yêu.
Nhưng
anh lính gác trước cửa phòng chúng tôi (không hiểu
vì sao anh ta lại có cảm tình với tôi và thường
hay nói chuyện cùng tôi) anh ta lại nói khác. Theo anh ta
thì Ủy ban tỉnh Quảng Ngãi cũng không biết
ông Tạ Thu Thâu bị bắt vì tội gì. Chỉ
được điện tín của Trần Văn Giầu
đánh ra cho các tỉnh, ra lệnh hễ ai gặp Tạ
Thu Thâu thì bắt lại. Sau khi Ủy ban tỉnh đánh
điện cho Sài Gòn biết là mình đã bắt và giam
Tạ Thu Thâu thì liền được lệnh trả lời
là phải giết ngay lập tức. Nhưng khi đem ra
pháp trường thì ông Tạ Thu Thâu ỏỏdiễn
thuyết cho mấy người lính, ông nói hay quá với
lại đúng quá nên ai nấy đều bỏ súng
buông lơ, có anh khóc, không ai dám ỏỏbéngõõ. Nên lại
đem ông về lao và Ủy ban lại đánh giây thép
vào Sài Gòn hỏi nữa sợ có giết lầm chăng.
Và đã hai lần như thế rồi, Trần Văn
Giầu đánh giây thép ra biểu phải giết, Tạ
Thu Thâu đứng trước mũi súng lại diễn
thuyết kêu gọi một mảy may lương tâm còn
sót lại của đám người chỉ biết có
vâng lệnh trên, rồi không ai nỡ bắn. Không dám bắn
thì đúng hơn, rồi lại mang về, rồi lại
đem đi.
- Hôm
nay thì chắc Tạ Thu Thâu phải chết!
Các bạn
tôi và cả anh lính cũng bảo thế, ỏỏvì vừa
được lệnh riêng của Cụ Hồ ở Hà
Nội điện vô khiển trách Ủy ban bất tuân
thượng lệnhõõ.
Tôi
bàng hoàng lo sợ, ngồi bệt xuống đất, hồi
hộp đợi chờ, trong cái im lặng rợn người,
một tiếng ỏỏđoànhõõ.
Bỗng
người lính gác kêu lên:
-
Châu cha! Tạ Thu Thâu lại về!
Tất
cả đều nhao nhao. Quả Tạ Thu Thâu về thiệt.
Đám người đi qua rặng cây và đang tiến
về phía trái. Nước mắt tôi trào lên, sung sướng
khi thấy cái bóng trắng khấp khểnh kia có vẻ
vững chắc hơn và trên môi lạt tôi tưởng
tượng thoáng thấy một nụ cười ngạo
mạn.
Sự
sung sướng của tôi không được lâu. Đám
người đi vừa đến gần cổng lao thì
một người trai trẻ mặc áo nâu quần sọc
trắng ra vẻ học trò, tuổi lối mười bảy,
mười tám đang đứng ở cạnh cổng,
hung hăng nhảy ra, rút cây dao găm dắt ở
lưng đâm vào vai Tạ Thu Thâu, miệng vừa hét:
-
Đồ Việt gian phản động!
Rồi
đạp Tạ Thu Thâu vào bụng cho ngã quay ra đất,
đoạn đấm, đá túi bụi.
Câu
chuyện xảy ra rất mau, kể lại thì xem ra lâu
quá. Thêm chỗ tôi đứng và chỗ tấn kịch
rùng rợn đang diễn ra hơi xa nhau, mắt tôi lại
đẫm lệ nên không thấy được tường
tận. Tôi chỉ còn nhớ hình ảnh của một
đám người bao quanh một bóng trắng đang quằn
quại giữa vũng máu. Và tự đó, một giọng
the thé rất trong của người thiếu niên vang
lên:
- Các
đồng chí hèn quá, một thằng Việt gian cũng
không dám giết!
Đến
nay, bao nhiêu ngày tháng đã trôi qua rồi mà không mấy
đêm nằm ngủ tôi không thấy trước mắt
cái bóng người quằn quại kia và nghe cái giọng
nói the thé ấy.
Viết
bài này tôi chỉ mong làm tròn một bổn phận với
Người mà tuy rằng không cùng một quan niệm
chánh trị với tôi, tôi vẫn phụng thờ ý chí
hy sinh và tâm hồn cao quí. Những kẻ khốn nạn
đã vì đảng phái mà ám sát Người cũng
như bao nhiêu kẻ xấu số khác, rồi đây khi
hòa bình trở lại Việt Nam, họ sẽ ra trước
tòa án quốc dân mà đền tội ác của họ.
Chỉ lúc đó thù của Tạ Thu Thâu, quốc dân Việt
Nam mới trả được.õõ
***
Tròn nửa
thế kỷ kể từ ngày bài báo nói trên ra đời,
dường như ỏỏquốc dân Việt Namõõ vẫn
chưa đáp ứng được nguyện vọng tha
thiết của người viết bài báo trên, là
ỏỏtrả được cái thù của Tạ Thu
Thâuõõ: đưa những thủ phạm trực tiếp
và gián tiếp ra trước tòa án quốc dân.
Ở
vào thời điểm mà ỏỏhòa giải hòa hợpõõ
đang là một khẩu hiệu được nhiều
người tán thưởng, nhắc lại sự thực
của một số sự kiện lịch sử xảy
ra đã lâu cũng chỉ nhằm mục đích gột
rửa những nhơ nhớp trong quá khứ, phục hồi
danh dự cho những người ái quốc đã bị
thảm sát oan uổng. ỏỏSự thật, chỉ
nói sự thật!õõ, khẩu hiệu rất hay
được nhắc đến trong thời cải tổ
ở Liên Xô mươi năm trước đây, có thể
là một ỏỏphép màuõõ cho một nước Việt
Nam tự do, dân chủ trước thiên niên kỷ thứ
ba này.
Người
viết xin cám ơn các thành viên của nhóm Đệ tứ
Việt Nam ở Pháp đã cho phép sử dụng một
số tư liệu, công trình nghiên cứu của nhóm.
Tấn Đức