HUYỀN THOẠI CUỘC SỐNG ÐỘC THÂN GIẢN DỊ
Trich tu Dan Chu - Trần Gia Phụng - (Trích sách: Án tích Cộng Sản Việt Nam, Nxb. Non Nước, Toronto, 2001)
Hồ Chí Minh cũng như ban Nghiên cứu Lịch sử đảng trung ương luôn luôn đề cao rằng ông ta suốt đời sống độc thân, không lập gia đình, để có thể toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Sự thật, dù Hồ Chí Minh đi đâu, ở nơi nào, cũng đều có bóng dáng của người đàn bà trong suốt cuộc đời hoạt động của ông.
Theo giáo sư Nguyễn Thế Anh, khi hành nghề nhiếp ảnh ở Paris, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã gởi thư tỏ tình với cô Bourdon ngày 10-5-1923. Sau vài cuộc gặp gỡ và thư từ qua lại, cô Bourdon viết thư ngày 11-6-1923 cự tuyệt mối tình của Nguyễn Ái Quốc. Giáo sư Nguyễn Thế Anh còn trưng dẫn nhiều tài liệu cho thấy khi qua Moscow, nhà cầm quyền Liên Xô đã cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc một "người vợ".(1)
Ðến Quảng Châu (Trung Hoa), Nguyễn Ái Quốc, lúc đó lấy tên là Lý Thụy kết hôn với một người phụ nữ Trung Hoa là Tăng Tuyết Minh (1905-1991) vào tháng 10-1926. Lễ kết hôn diễn ra tại nhà hàng Thái Bình ở trung tâm thành phố với sự hiện diện cuả các bà Ðặng Dĩnh Siêu (vợ ông Chu Ân Lai), Bào La Ðình, Thái Sướng.19 Hai người chia tay khi chiến tranh Quốc Cộng bùng nổ ngày 12-4-1927. Lý Thụy đi Vũ Hán, đến Thượng Hải, theo đường Hải Sâm Uy (Vladivostok) qua Moscow khoảng giữa tháng 6 năm 1927, vòng đường Âu Châu, đến Thái Lan, trở về Hồng Kông tháng 11-1929. Trong thời gian nầy, Lý Thụy viết cho Tăng Tuyết Minh một lá thư, nhưng không hiểu vì sao, lá thư đó lọt vào tay cơ quan Mật thám Pháp ở Ðông Dương ngày 14-8-1928. Tháng 5-1950, nhìn thấy hình Hồ Chí Minh trên Nhân Dân Nhật Báo (Trung Hoa), Tăng Tuyết Minh gởi nhiều lá thư cho ông Hồ thông qua đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh là Hoàng Văn Hoan, nhưng đều không được trả lờị(2)
Khi cảnh sát Hồng Kông bắt Lý Thụy ngày 6-6-1931 tại thị trấn Cửu Long, gần Hồng Kông, ông đang sống với một phụ nữ Trung Hoa tên là Li Sam. Khi Lý Thụy đến Vân Nam, tướng Long Vân (Lung Yun) đã tìm cho ông một nhân tình người Tàụ(3)
Từ năm 1930, ở Hồng Kông, Lý Thụy dạy chính trị cho Nguyễn Thị Minh Khai tại trụ sở chi nhánh Bộ Ðông phương của Quốc tế cộng sản. Sau một thời gian, hai người trở thành vợ chồng, và khi qua Liên Xô tham dự đại hội cộng sản quốc tế ngày 25-7-1935, hai người công khai sống chung.(4) Năm 1944, Hồ Chí Minh về hoạt động tại vùng Pắc Bó, Cao Bằng. Ở đây, theo sử gia và nhà hoạt động chính trị Trần Trọng Kim, ông Hồ sống chung với bà Ðỗ Thị Lạc, bí danh "chị Thuần", và sinh hạ một người con gáị(5)
Sau cuộc sống chung tạm bợ với Ðỗ Thị Lạc, Hồ Chí Minh bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử cho đến năm 1954, ông Hồ về Hà Nộị Theo tài liệu của Vũ Thư Hiên và Nguyễn Minh Cần, Bộ chính trị đảng Lao Ðộng (danh xưng của đảng Cộng Sản từ 1951) đã đưa một cô gái thuộc sắc tộc Nùng ở Cao Bằng là Nông Thị Xuân (có sách viết là Nguyễn Thị Xuân) về phục vụ Hồ Chí Minh năm 1955. Lúc đó, ông Hồ khoảng 65 tuổi và bà Xuân có lẽ khoảng trên dưới 22 tuổi, khá xinh đẹp: "Cô Xuân rất xinh gái, da trắng nõn, miệng tươi như hoa".(6) Năm sau, bà Xuân sinh hạ một người con trai được đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Sau một thời gian chung sống, Hồ Chí Minh sa thải bà Xuân. Viên bộ trưởng công an Hà Nội là Trần Quốc Hoàn đã hiếp dâm bà Xuân, rồi cho người thủ tiêu một cách tàn bạọ(7)
Trong thời gian nầy, đảng LÐ còn có ý định đưa cô Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh uỷ viên tỉnh Thanh Hóa, về Hà Nội để làm vợ Hồ Chí Minh. Cô Phương Mai đòi công khai hóa cuộc hôn nhân giữa hai người, thì bị từ chối, nên cô rút lui (NMC, bd.36). Năm 1959, Ðào Chú, uỷ viên thường vụ bộ chính trị đảng Cộng Sản, Phó thủ tướng chính phủ Trung Quốc sang Việt Nam nghỉ dưỡng. Một bộ trưởng trong chính phủ Hà Nội đã nói riêng với Ðào Chú rằng Hồ Chí Minh muốn tái hôn với một người vợ Quảng Ðông. Ðào Chú rất hoan hỷ giúp đỡ, nhưng thủ tướng Trung Quốc là Chu Ân Lai đã thận trọng yêu cầu phía Việt Nam xem xét vấn đề cẩn thận. Hội nghị do Lê Duẩn triệu tập đã đi đến quyết định là phải bảo vệ hình tượng Hồ Chí Minh, nên việc ông Hồ muốn tái hôn với một phụ nữ Quảng Châu đã không thành.(8) Hồ Chí Minh cho Ðào Chú biết ông muốn tái hôn, có nghĩa là ông Hồ tự thú nhận đã kết hôn một lần nào đó rồị
Khi ông Nông Ðức Mạnh, bí thư đảng uỷ đảng CSVN tỉnh Bắc Thái được bầu làm uỷ viên dự khuyết Trung ương đảng tại Ðại hội 6 đảng CSVN vào tháng 12-1986, đã có dư luận cho rằng ông Mạnh là con rơi của Hồ Chí Minh, được một gia đình người Tầy nuôi nấng.(9) Theo sách Encyclopedia of the Vietnam War [Bách khoa chiến tranh Việt Nam], ông Nông Ðức Mạnh Ềkhông bao giờ chối bỏ dư luận nầyỆ(10) Ôâng Mạnh thăng tiến rất nhanh. Vừa qua, trong Ðại hội đảng CSVN lần thứ 9 từ 19 đến 22-4-2001, ông Nông Ðức Mạnh được bầu làm tổng bí thư đảng. Dư luận về việc ông Mạnh là con rơi của Hồ Chí Minh sống trở lạị Ký giả Dominic Whiting, trong bản tin của hảng thông tấn Reuters, cho biết đã có lần cựu đại sứ Úc tại Việt Nam tên là Sue Boyd, hỏi thẳng ông Mạnh về dư luận nầy, câu trả lời của ông Mạnh được mô tả là Ềlửng lơỂ,(11) nghĩa là không phủ nhận mà cũng không thừa nhận.(12)
Như thế huyền thoại thứ ba về Hồ Chí Minh, hy sinh cuộc sống cá nhân, sống độc thân để toàn tâm toàn ý lo việc nước, là một câu chuyện bí mật giấu đầu lòi đuôị Hồ Chí Minh có vợ là một chuyện bình thường, nhưng bản thân Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản trước sau luôn luôn che đậy việc nầy để lừa bịp nhân dân Việt Nam và dư luận thế giớị Kết hôn, lập gia đình là điều chẳng có gì xấu xa, nhưng xử sự tàn bạo với những người đã từng sống với mình, che đậy việc kết hôn, lừa bịp trắng trợn mọi người là điều mà không một nền luân lý nào chấp nhận.
Sau khi Hồ Chí Minh từ trần, trong lời kêu gọi đưa ra ngày 3-9-1969, đảng LÐ đã viết: "...Cuộc đời của Người là một tấm gương chói lọi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần đoàn kết, của đạo đức giản dị, khiêm tốn, cần kiệm liêm chính, chí công vô tự"(13) Hãy nhìn vào cách sống của Hồ Chí Minh để biết ông có phải là người "giản dị, khiêm tốn" hay không?
Trước hết, chế độ Hà Nội tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh sống trong một ngôi nhà sàn bằng gộ Nghe chữ "nhà sàn", người Việt thường liên tưởng đến những ngôi nhà của người miền núi, làm bằng gỗ, cách mặt đất khoảng một thước, phía dưới dùng để cất giữ dụng cụ hay nhốt gia súc, hoặc liên tưởng đến những nhà sàn của một số cư dân ven sông hay dọc các kênh đàọ Những ngôi nhà sàn nầy rất đơn sơ, giản di Ấn tượng giản dị khiến nhiều người tưởng tượng rằng ngôi nhà sàn của Hồ Chí Minh có lẽ cũng thế, và cũng tưởng rằng Hồ Chí Minh sống rất bình dân. Thực tế hoàn toàn không như vậỵ Những du khách đã từng viếng ngôi nhà sàn của ông Hồ, hoặc những ai đã từng nhìn ngôi nhà sàn nầy qua phim ảnh, rồi so sánh với nhà sàn của người miền núi hoặc của những người sống ven sông, sẽ có cảm nghĩ khác. Ngôi nhà sàn của ông Hồ có vẻ giản dị một cách cố ý, lại rất sang trọng, xây dựng bằng loại gỗ cực tốt, trang bị đầy đủ theo tiện nghi thời đại, có người chăm sóc cẩn thận, và gần như là nhà nghỉ mát mùa hè, hoặc nơi ông đón tiếp du khách. Như vậy ngôi nhà sàn của ông Hồ chỉ là loại trang trí mắc tiền.
"Áo quần lên sân khấu rất quan trọng: luôn luôn giản dị (áo quần màu chàm). Ðối với Hồ cũng như Staline, Mao, hoặc Kim Nhật Thành, sự giản dị được nghiên cứu kỹ lưỡng. Áo quần cắt may thô sơ theo kiểu Kroutchev hoặc Ceaucescu, biểu tượng của một thế hệ lãnh đạo cộng sản. Ðiều đặc biệt của Hồ trong giới lãnh đạo cộng sản là Hồ đi dép lốp (trên nguyên tắc cắt từ lốp xe hơi) ... Còn gì ăn ảnh hơn dù là tiền chiến hay hiện đại "Bác" Hồ đi dép lốp trên màn ảnh."(14)
Sau đây là một màn biểu diễn "dép lốp", còn được gọi là "dép râu", của Hồ Chí Minh, do một nhà văn, khi còn ở trong nước đã từng làm nghề quay phim, kể lại: "Một lần tôi quay cảnh ông [Hồ Chí Minh] thăm đồng bào nông dân ở Hải Dương, mùa hè năm 1957. Sáng sớm hôm ấy trời mưa to, trên đường còn lại những vũng nước lớn. Ðến một đoạn đường lầy lội ông tụt dép, cúi xuống xách lên. Trong ống ngắm của máy quay phim tôi nhìn rõ hai bên vệ cỏ không bị ngập. Tôi chợt hiểu: ông không đi men vệ đường vì ông muốn chưng đôi dép."(VTH, sd.459).
Chỉ với ba thứ trên đây (nhà sàn, áo quần, dép râu), Hồ Chí Minh đã chứng tỏ đúng như nhận xét của nhà văn đã từng quay phim cho họ Hồ trên đây: "Trong hành xử ông [Hồ Chí Minh] là một diễn viên kỳ tàị"(VTH, sd.459). Một người khác tận mắt chứng kiến cảnh ông Hồ ứng xử đối đáp với sinh viên tại Ðông Dương Học Xá ở Hà Nội vào tháng 10-1945, đã đưa ra nhận xét: "Cảm tưởng của tôi hôm ấy đối với ông [Hồ Chí Minh] rất rõ ràng. Ông lanh lợi, đóng kịch thật giỏi và chắc chắn về sau nầy ông sẽ không thiếu thủ đoạn chính tri"(15) Người ngoại quốc cũng thấy được điều nầy nơi Hồ Chí Minh. Bernard Fall đã viết: "Người ta biết rằng ông Hồ là một kịch sĩ có biệt tài đánh lừa kẻ đối thoạị"(16)
Hồ Chí Minh duy nhất chỉ để lộ một sở thích phàm tục rất người, đó là ông thích hút thuốc thơm Hoa Kỳ, đặc biệt là Camel hay Lucky Strikẹ(17) Không biết đây là dàn kịch để chứng tỏ ông ta cũng bình thường như mọi người, hay quả thật ông ta thích hút thuốc Mỵ Dầu sao, cuộc sống của ông Hồ không giản dị như người ta tưởng.
Trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Trần Dân Tiên (chính là Hồ Chí Minh) đã viết trong phần đầu sách: "Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể lại cho tôi nghe bình sinh của người được?"(18) Một người dùng một cái tên khác viết sách, tự khen mình là khiêm tốn không muốn nói về mình, rồi sau đó, suốt trong quyển sách lại kể lể tự đề cao sự nghiệp của mình, thì không biết nên xếp ông ta vào loại người gì đâỷ
Cuối sách nầy, Trần Dân Tiên (tức Hồ Chí Minh) viết: "Nhân dân gọi Chủ tịch là cha già của dân tộc, vì Hồ Chủ tịch là người con trung thành nhất của Tổ quốc Việt Nam."(19) Lời nầy cho thấy Hồ Chí Minh muốn gợi ý để được người Việt Nam gọi ông là cha già của dân tộc, nhưng không được dân chúng hưởng ứng, nên ông quay qua dùng chữ "bác". Ở đây lại thấy ông Hồ thậm khôn, vì trong cơ cấu gia tộc Việt Nam, bác là anh của cha, bác lớn hơn cha và đứng trước cha trong sinh hoạt đại gia đình, hoặc lễ nghi tế tư
Theo Thành Tín, tức Bùi Tín, cựu đại tá quân đội cộng sản Hà Nội, cựu phó tổng biên tập báo Nhân Dân, Hồ Chí Minh công khai tự xưng là "bác" năm 1945 trước quần chúng, lúc đó ông khoảng 55 tuổị(20) Nói chuyện với dân chúng, trong đó có cả những người già cả, đáng tuổi ông, cha, chú, anh, chị mình mà tự xưng bác thì xin khỏi bàn về tư cách của "bác".
Sau năm 1975, người miền Nam rất lấy làm lạ là trong sinh hoạt thường nhật cũng như trên đài phát thanh, cán bộ cộng sản luôn luôn gọi những địch thủ chính trị của họ bằng "thằng", "nó", "hắn" . Ví dụ khi kể tội nhà văn Trương Tửu trên báo Văn Nghệ số 11 (Hà Nội, 4-1958), nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã viết: " Vẫn một lối huênh hoang và bịp bợm cũ, nó [Trương Tửu] làm như chỉ có nó mới là triệt để cách mạng. Một mặt nó bóp méo, bịa đặt để vu khốngẨMột mặt khác nó xuyên tạc lời nói của các lãnh tu Nó trích dẫn Mác đả kích chính quyền phản động cũ để gián tiếp đả kích chính quyền taẨ" (NMC, sd.32). Hoặc tác giả Xuân Dung tố cáo nữ văn sĩ Thụy An Lưu Thị Yến trên báo Thủ Ðô (Hà Nội, 23-4-1958):"ẨCó người (hiện đương ở Hà Nội), lại trông thấy Thụy An ngồi chung xe với tên tướng giặc Cô-nhi [Cogny], ấy là chưa kể có tin nó vào Sài Gòn rồi trở ra Hà Nội, một tháng trước khi tiếp quản...Giải phóng thủ đô, nhiều người lạ lùng vì sự có mặt của con nầỵ" (NMC, sd.30).
Sau đây là lời giải thích của một nhà văn đã từng sống dưới thời Hồ Chí Minh: "Cách gọi thằng, con trong ngôn ngữ chính trị có cội nguồn của nọ Nó xuất hiện vào cuối cuộc kháng chiến chống Pháp. Chính ông Hồ Chí Minh dùng cách gọi này trong những cuộc nói chuyện với cán bộ và trong những bài viết trên báo Cứu Quốc: thằng Mỹ, thằng Pháp, thằng Xihanúc, thằng Lý Quang Diệu, thằng Măng-dét Phrăng... Theo gương ông, về sau người ta gọi bất kỳ kẻ thù chính trị nào cũng bằng thằng hết: thằng Bảo Ðại, thằng Diệm, thằng Khánh, thằng Kỳ, thằng Thiệụ"(VTH, sd.265).
Chẳng những thiếu kính trọng với người đang sống, Hồ Chí Minh còn tỏ ra thiếu lễ độ đối với những người trước ông hàng mấy trăm năm. Hãy đọc những câu thơ của Hồ Chí Minh qua bài "Ngẫu hứng" ông viết vào dịp viếng đền thờ Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn (1226-1300) khoảng trước năm 1950:
"Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng,
Tôi, bác cùng chung nghiệp kiếm cung.
Bác thắng quân Nguyên thanh kiếm bạc,
Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng.
Bác đưa một nước qua nô lệ
Tôi dắt năm châu đến đại đồng.
Bác có linh thiêng cười một tiếng
Rằng tôi cách mạng đã thành công."(21)
Trong lúc đắc ý, Hồ Chí Minh đã để lộ cái "tôi" quá lớn của ông, tự mình sùng bái mình theo chủ nghĩa sùng bái cá nhân không khác gì Stalin ở Liên Xộ Ở đây cần chú ý các cách chơi chữ của ông Hồ: 1) Ôâng ta gọi Ðức Trần Hưng Ðạo bằng ỀbácỂ, xưng tôi ỀtôiỆ Trong cách nói của người người Việt, đặc biệt của người Bắc, gọi một người khác bằng ỀbácỂ, và xưng ỀtôiỂ, có nghĩa là hai người ngang hàng nhau, và chữ ỀbácỂ là gọi thế cho con của mình. 2) Ðức Trần Hưng Ðạo thắng quân Nguyên bằng thanh kiếm bạc, tượng trưng cho sức mạnh vũ lực trong khi Ðức Thánh Trần là người đã dùng tâm đức để đoàn kết toàn bộ lực lượng dân Việt kháng Nguyên và không bao giờ Ngài tự kể công sức của mình; còn Hồ Chí Minh tự khoe rằng chính ông ta là người có công trừ giặc Pháp bằng ngọn cờ hồng, tức là bằng chủ nghĩa cộng sản, chứ không phải nhân dân Việt Nam đã chiến thắng người Pháp.
Hồ Chí Minh còn có tham vọng cực lớn là đưa năm châu tiến đến đại đồng, theo chữ nghĩa cộng sản là tiến lên chủ nghĩa xã hộị Như thếụ ông muốn vượt qua luôn các bậc thầy của ông như Mao Trạch Ðông và Stalin. Có lẽ vì bộc lộ quá rõ tính sùng bái cá nhân mà bài thơ được phổ biến một thời gian rồi không được in lại và chìm luôn nên ít người biết đến.
Tự phong mình là anh hùng đã là chuyện lạ, gọi một vĩ nhân của lịch sử sống cách đây hơn 600 năm bằng "bác" là một sự vô lễ lạ lùng chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử Việt Nam. Khi Quốc sử quán triều Nguyễn trình Khâm định Việt sử thông giám cương mục lên vua Tự Ðức duyệt, trong khung cảnh xã hội quân chủ, vua là con trời (thiên tử), đại diện Trời để trị vì thiên hạ, vua Tự Ðức đã phê bình nhiều nhân vật lịch sử, đôi khi với lời lẽ gay gắt, nhưng chưa bao giờ nhà vua có ngôn ngữ sỗ sàng thiếu lễ độ như Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh tưởng rằng gọi Trần Hưng Ðạo bằng "bác" là có thể tự nâng mình lên ngang tầm với người xưa, nhưng ngược lại những lời nầy cho thấy hố cách biệt lớn lao giữa một vị thánh và một kẻ tự phụ hợm mình. Chẳng những thế, người Việt Nam xưng tụng Ðức Trần Hưng Ðạo là thánh, nên cách xưng hô của ông Hồ xúc phạm đến cả niềm tin của dân chúng Việt Nam. Nếu nói rằng bài thơ nầy là "thơ khẩu khí", thì càng thấy "khẩu khí" của Hồ Chí Minh chẳng khiêm cung tý nàọ
Một phát hiện thú vị của một nhà văn thuở nhỏ đã từng sống gần gũi với Hồ Chí Minh là: Hồ Chí Minh đã từng ôm mộng làm vuạ "Ông mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới, sao vàng năm cánh mộng hồn quanh*. Con rồng, ai cũng biết, là biểu tượng của nhà vuạ Ông mơ cưỡi nó thì ông đâu phải là một người trong chúng tạ Than ôi, lũ dân thường chúng ta làm gì có những giấc mơ như thệ Chúng ta chỉ mơ thấy cưỡi bò, cưỡi trâu, cưỡi ngựạ Sang lắm thì cưỡi bình bịch [xe gắn máy] là cùng. Lẽ ra tôi phải hiểu sớm hơn mới phải: bác Hồ của tôi từ lúc đang phải sống lẩn lút để làm cách mạng đã ôm ấp mộng ước làm vuạ"(22)
Hồ Chí Minh là chủ tịch miền Bắc, ông có quyền sống một cách tiện nghi đầy đủ để làm việc; thậm chí ông có quyền tận hưởng mọi lạc thú trên đời sau khi đã dày công cực khổ tranh đấu; ông có quyền lực to lớn của một chủ tịch nhà nước cộng sản độc tài; ông có thể vượt qua luật pháp ra lệnh sinh sát mọi người; ông có thể làm bất cứ việc gì ông muốn dưới chế độ độc tài; nhưng nói rằng họ Hồ là người "giản dị khiêm tốn" là điều hoàn toàn sai sự thật.
TRẦN GIA PHỤNG (Canada)
CHÚ THÍCH:
1. Nguyễn Thế Anh, "Hành trình chính trị của Hồ Chí Minh", đăng trong Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự nghiệp, một nhóm tác giả, Nxb. Nam Á, Paris, 1990, tr. 25.
2. Hoàng Tranh (Huang Zheng), Minh Thắng dịch, ỀHồ Chí Minh với người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết MinhỂ, tạp chí Ðông Nam Á tung hoành (Dọc ngang Ðông Nam Á), xuất bản tại Nam Ninh (CHNDTH) tháng 11-2001. Hôn lễ được tổ chức tại nhà hàng Thái Bình, trước Ty tài Chánh thành phố Quảng Châu, có sự tham dự cuả các bà Bào La Ðình, Thái Sướng, và Ðặng Dĩnh Siêu (vợ Châu Ân Lai). Bà Bào La Ðình đã tặng cho cặp tân hôn một lẵng hoa tươị Cũng theo bài viết cuả Hoàng Tranh, khi Lý Thụy bị người Anh đưa ra tòa xét xử tại Hồng Kông năm 1931, Tăng Tuyết Minh có đến dự phiên tòa để nhìn mặt chồng, nhưng không được nói chuyện. Năm 1950, khi biết chắc Hồ Chí Minh, chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là Lý Thụy, chồng mình, bà Tuyết Minh Ềbáo cáo với tổ chứcỂ và gởi nhiều lá thư cho Hồ Chí Minh thông qua Ðại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh là Hoàng Văn Hoan, nhưng hoàn toàn không được trả lờị Ngược lại, một cán bộ cộng sản Quảng Châu tới gặp bà Tuyết Minh, trao cho bà lá thư cuả bà Thái Sướng, một người đã dự tiệc cưới cuả hai ông bà Lý Thụy Ố Tăng Tuyết Minh tại Quảng Châu năm 1926, xác nhận Hồ Chí Minh chính là Lý Thụy, chồng cuả bà Tuyết Minh. Viên cán bộ đó giải thích thêm cho bà Tuyết Minh biết Ềlý do tại sao không tiện liên lạc với chủ tịch Hồ Chí Minh, hy vọng Tăng Tuyết Minh hiểu và lượng thứ việc nầy, yên tâm công tác.Ể Từ đó, bà Tuyết Minh Ềyên tâm công tácỂ trong nghề nữ hộ sinh đến năm 1977 thì về hưu và từ trần năm 1991, thọ 86 tuổị (Tác giả Hoàng Tranh là nhà sử học, viện phó Viện Khoa học Xã hội Quảng Tâỵ Khi viết bài nầy, ngoài tài liệu thư khố, ông Hoàng Tranh đã dựa trên hồi ức do Tăng Tuyết Minh viết và ông ta còn trao đổi thư từ trực tiếp với bà nầỵ Hoàng Tranh là tác giả cuốn Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Tân Tinh, Nam Ninh, 1990.)
3. * Nguyễn Thế Anh, bài và sách đã dẫn, tt. 25-26.
* Stanley Karnow, Vietnam A History, Nxb. Viking, New York, in lần thứ nhì, 9-1983, tr. 126. Karnow còn viết thêm:" A Communist official in Hanoi in 1981 told me that Ho had loved a Chinese woman, a doctor, who died before they could marrỵ" (Một viên chức cộng sản ở Hà Nội vào năm 1981 đã nói với tôi rằng Hồ đã yêu một phụ nữ Trung Hoa, một bác sĩ; bà nầy từ trần trước khi họ định cưới nhaụ)
4. Thành Tín, Về ba ông thánh, California, 1995, tr. 136. Sau đây là nguyên văn của ông Thành Tín: "...Bà Minh Khai ghi rõ chồng là "Lin", bí danh của Nguyễn Ái Quốc hồi ấy; cả những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tại nhà ở tập thể của cán bộ thuộc Quốc Tế Cộng Sản ghi rõ: hai vợ chồng Minh Khai và "Lin", chung phòng, chung giường, chung đồ dùng... Có tài liệu ghi rõ hai vợ chồng nầy cũng chung sống ở Hồng Kông một thời gian... Ðây không thể nào là tài liệu giạ" Chú ý: Nguyễn Thị Minh Khai là chị ruột của Nguyễn Thị Quang Tháị Bà Thái là vợ đầu của Võ Nguyên Giáp.
5. * Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn, 1969, tr. 75. Sau đây là nguyên văn của Trần Trọng Kim trong đoạn nầy: "Về khoảng cuối năm 1944, Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội lại dời về tỉnh Quảng Tây, và cho ông Hồ Chí Minh về Bách Sắc để trù liệu kế hoạch nhập Việt. Sau đó, Hội cho ông Minh cùng 22 đảng viên, phần nhiều là người đảng Phục Quốc, về nước để khởi sự hành động. Trong số 22 người ấy có một nữ đảng viên tên là Ðỗ Thị Lạc là người sau có đứa con gái với Hồ Chí Minh. Về sau, thấy người ta nói khi đến địa hạt Bắc Giang, có ba đảng viên trong 22 người ấy bị giết vì không chịu theo cộng sản."
* Theo Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại, tập II: 1925-1945, Nxb. Văn Hóa, Houston, Texas, 1993, tr. 305-306, bà Ðỗ Thị Lạc bí danh là Thuần.
6. Vũ Thư Hiên, Ðêm giữa ban ngày, hồi ký chính trị của một người không làm chính trị, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 606.(Viết tắt: VTH, sd.số tr.). Ðược biết tác giả Vũ Thư Hiên là con của Ông Vũ Ðình Huỳnh. Ông Huỳnh vào đảng Cộng Sản từ năm 1930. Gia đình ông Huỳnh đã từng giúp đỡ, bảo bọc ông Hồ từ thời trước 1945. Ông Huỳnh đã làm bí thư cho Hồ Chí Minh, và Vụ trưởng vụ Lễ tân bộ Ngoại giao chính phủ Hà Nộị Nhờ đó, thuở nhỏ ông Hiên có điều kiện tiếp cận Hồ Chí Minh.
7. * Vũ Thư Hiên, sd. tt. 605-609. * Nguyễn Minh Cần, "Thêm vài mẩu chuyện về cuộc đời của Hồ Chí Minh", nguyệt san Thế Kỷ 21, Garden Grove, số 96, tháng 4-1997, tt. 33-40. Theo ông Nguyễn Minh Cần, bà Xuân họ Nguyễn chứ không phải họ Nông. (Viết tắt: NMC, bd.số tr.)
8. Văn trích tuần báo, số tháng 1-1991. Bài báo nhan đề: "Hồ Chí Minh tằng tưởng tái hôn". Nguyệt san Phụng Sự, Glendale, Phoenix, Arizona, bộ mới, số 10, ngày 15-10-1996, chụp hình và dịch bài báo sang tiếng Việt. [Tào Chú
(Tao Chu / Tao Zhu, 1908-1969), người Hồ Nam, từng là bí
thư thứ nhất đảng CS Quảng Ðông, uỷ viên
Trung ương đảng CSTH. Sau năm 1965, ông làm phó
thủ tướng, và lên đến vị trí thứ 4
trong Bộ chính trị đảng CSTH. Năm 1967 ông
bị hạ bệ và bị quản thúc tại gia,
chết nă (T’ao Chu
9. Trong một bài viết từ Sài Gòn ngày 7-12-2001 của ông Võ Văn Ba, cựu chiến binh, thương binh quân đội cộng sản, ngụ tại số 17/24 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa [tức đường Công Lý cũ], được đưa lên liên mạng thông tin, và được các báo ở hải ngoại tiếp lại, thì: 1) Trong khai sinh, ông Nông Ðức Mạnh không đề tên cha, chỉ đề tên mẹ và mang họ me 2) Trong khai sinh, ông Mạnh đề sinh năm 1940 (canh thìn). Tuy nhiên một người ở ban Kiểm tra Trung ương đảng cho biết ông Mạnh sinh năm 1943, nhưng tuổi âm là nhâm ngọ (nghĩa là ông Mạnh sinh cuối năm nhâm ngọ và dương lịch đã qua năm 1943). Trong khi đó, sau 30 năm ra hải ngoại, Hồ Chí Minh về nước lần đầu hoạt động tại Pắc Bó, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.(Stanley Karnov, Vietnam a history, The Viking Press, new York, 1983, tr. 126.). Chính trong thời gian nầy, Hồ Chí Minh tổ chứ Ðại hội Trung ương đảng CSVN lần thứ 8 (5-1941) đưa Trường Chinh Ðặng Xuân Khu lên làm tổng bí thự (Báo Con Ong, http://www.conong.com/doithoai_129htm, Người Việt Online, ngày 13-12-2001). Phải chăng trong thời gian nầy, Hồ Chí Minh gặp mẹ của Nông Ðức Mạnh và sinh ra ông tả
10. Spencer C. Tucker, chủ biên, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Volume Two, Santa Barbara, California, 1998, tr. 505.
11. Nhật báo Việt Báo, California, số 2205, ngày Thứ Năm, 19-4-2001, tr. 1. Ngày nay, khoa học tiến bộ, chỉ cần xét nghiệm DNA thì có thể biết ông Nông Ðức Mạnh có phải là con của Hồ Chí Minh hay không?
12. Trong dịp nầy, có một thính giả gọi vào đài phát thanh Little Saigon, California, đưa ra ý kiến rằng: ỀNếu ông Mạnh thừa nhận là con của Hồ Chí Minh, thì hóa ra từ trước đến nay đảng CSVN nói láo vì đảng luôn luôn cho rằng Hồ Chí Minh sống độc thân, hy sinh cuộc sống cá nhân để làm cách mạng. Ngược lại nếu ông Mạnh từ chối mình là con của Hồ Chí Minh, thì ông Mạnh bất hiếu vì cha mình mà không chịu thừa nhận.Ể
Trong nguyệt san Văn Nghệ Tự Do, số tháng 11-1993, xuất bản tại Westminster, California, do ông Du Miên làm chủ nhiệm và ông Trần Lam Giang làm chủ bút, có đăng bài "Ðầy đủ chi tiết về 10 bà vợ từ trước tới sau của Hồ Chí Minh". Bài báo "đặc biệt của Văn Nghệ Tự Do", không đề tên tác giả, cho biết: Bà vợ đầu của Hồ Chí Minh tên Mao Từ Mẫn, bà con với Mao Trạch Ðông, có với ông Hồ một đứa con gái tên là Từ Phong; Từ Phong về Việt Nam theo ông Hồ năm 1945, đóng vai cháụ Sau khi Hồ Chí Minh chết năm 1969, Từ Phong theo chồng là một người Trung Hoa về nước. Bà vợ thứ nhì không rõ tên, là mẹ của nữ ca kịch sĩ Hồng Tuyến Nự (Hồng Tuyến Nữ là con của đời chồng trước.), có với ông Hồ một người con gái tên là Lý Xảo Vân. Khi ông Hồ về nước, Lý Xảo Vân ở lại Trung Hoạ Bà vợ thứ ba là cô họ của Hoàng Sâm (sau nầy là một thiếu tướng cộng sản), do Hoàng Sâm giới thiệu, sống với ông Hồ trong thời gian ở Pắc Bọ (Phải chăng bà nầy là Ðỗ Thị Lạc?) Theo tài liệu nầy, do quyết định của ông Hồ, bà thứ ba bị một thuộc hạ của ông Hồ là Khuất Duy Tiến ra lệnh cho Nguyễn Văn Tiến xử bắn tại bến đò Gầm, thuộc huyện Thọ Ðức, cách thị xã Bắc Ninh khoảng 20 cây sộ Bài báo nầy cho biết tiếp, các bà vợ khác của Hồ Chí Minh là người Thái Lan trong thời gian ông ta hoạt động ở Thái Lan. (Bài báo không đề tên tác giả, chỉ viết theo sự tiết lộ của một số nhân vật đã từng hoạt động cùng thời với Hồ Chí Minh. Xin tồn nghi để mở hướng tìm hiểu thêm về cuộc sống của ông Hộ)
13. BNCLSÐ, sd. tr. 160. Chữ "Người" viết hoa theo nguyên bản.
14. Oliver Tođ, "Huyền thoại Hồ Chí Minh", Nguyễn Văn dịch, đăng trong sách Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự nghiệp, Nxb. Nam Á, Paris, 1990, tr. 276.
15. Bùi Diễm, Gọng kìm lịch sử, Hồi ký chính trị, Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, Paris, 2000, tr. 68.
16. Bernard Fall, Les deux Viet-Nam, Nxb. Payot, Paris, 1967, tr. 102.
17. * Oliver Tođ, bd., sd. tr. 277. * Stanley Karnow, "Ho Chi Minh". * Tạp chí Time, tập 151, sộ 14, 13-4-1998, tr. 123.
18. Trần Dân Tiên, sd. tr. 9. Những chữ viết hoa theo nguyên bản.
19. Trần Dân Tiên, sd. tr. 149. Những chữ viết hoa theo nguyên bản.
20. Thành Tín, Hoa xuyên tuyết, Nxb. Nhân Quyền, California 1991, tr. 117.
21. Phạm Cây Trâm, "Về bài thơ viếng đền thờ Ðức Trần Hưng Ðạo của ông Hồ", mục "Bạn đọc viết", nguyệt san Thế kỷ 21, California, số 136, tháng 8-2000, tr. 8.
22. Vũ Thư Hiên, sd. tr. 458. * Câu "sao vàng năm cánh mộng hồn quanh": Vũ Thư Hiên trích dẫn báo Văn Nghệ, Hà Nội, 1961.