Ôn Cố Tri Tân
Trich
tu Dan Chu - Trường
Sơn DHN
Sau ngày quốc hận 30/4/1975, có
một số anh chị em quân dân cán chánh, tuy may mắn
được di tản ra nước ngoài, nhưng không có
dịp "may" chứng kiến tận mắt
được những hành động ngu xuẩn, tàn ác
đến man rợ của những người tự xưng
là "giải phóng cho đồng bào miền Nam",
của những người cộng sản Việt Nam
từ miền Bắc vào, của những người
gọi là cùng một dòng máu Lạc Hồng, những người
Việt Nam tự hào được mang dép râu đội
nón cối!
Có thể nói đây là một trang
sử bi thảm nhất của người dân Miền Nam
Việt Nam nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.
Những đồng bào được may mắn rời
khỏi Việt Nam trước tháng 4/1975, và những em cháu
thuộc những gia đình nầy (những con em của
tất cả người Việt Nam được chào
đời trên các nưóc phương Tây tự do) không
bao giờ hình dung được cái ngày lịch sử
đen tối nầy, vì cộng sản Việt Nam đã
cố tình sửa lịch sử, ngay từ đầu
chiến dịch tiến chiếm Miền Nam. Đến
giờ nầy, có người trong chúng ta không muốn tin
chuyện này. Do đó, chúng tôi muốn kể lại
những gì đã xảy ra tại Sài Gòn và những vùng
phụ cận trong những ngày trước và sau 30/4/1975.
Những chuyện này là những điều mắt
thấy tai nghe..., để tạm gọi là "ôn cố".
Đồng thời, chúng tôi cũng kèm theo vài mẩu
chuyện nho nhỏ trong hiện tại, tạm gọi là
"tri tân", để cùng những anh em bạn già
sống tha phương cầu thực chúng mình trao đổi
nhận định, và để các thế hệ con cháu
chúng mình có thêm dữ kiện chính xác về bản
chất của chánh sách và của con người cộng
sản Việt Nam.
Chúng ta gọi ngày 30/4 là "ngày
quốc hận" vì nước Việt Nam Cộng Hòa
của chúng ta bị xóa tên khỏi bản đồ
của thế giới từ ngày 30/4/1975, vì cộng
sản Bắc Việt đã xé bỏ Hiệp Định
Balê 1973 mà chúng đã vừa long trọng ký kết,
lại vừa xua quân công khai tiến chiếm Miền Nam
Việt Nam. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến
ngày mất nước, khách quan, chủ quan, xa, gần
v.v.. chúng tôi không muốn bàn thêm ở đây, vì trong hơn
20 năm qua đã có rất nhiều sách báo, hồi ký,
Việt có, Mỹ có, Pháp có, tất cả đều có
phân tách rất rõ ràng rồi. Chúng tôi chỉ muốn trước
hết kể lại một số chuyện thật, vui
buồn lẫn lộn, có liên quan đến ngày quốc
hận nầy, để gọi là đóng góp thêm một
ít tài liệu vào trang lịch sử đau thương
của Đất Nước
Tinh
Thần Bất Khuất và Tính Liêm Sỉ của Những
Người Bị Bắt Buộc Phải Ngừng
Chiến Đấu, Đầu Hàng Kẻ Địch
Ngày 28/4/75, toàn bộ
phi trường quân sự Biên Hòa di tản về Tân sơn
Nhứt . Từ 10 giờ đêm cộng sản pháo kích vào
phi trường Tân Sơn Nhứt và những vùng phụ
cận. Chúng pháo kích bằng hỏa tiển và đạn
pháo 130 ly cho đến sáng, gây rất nhiều thiệt
hại không những cho các đơn vị không quân, mà
cho cả dân chúng vùng phụ cận (nhất là vùng Lăng
Cha Cả và Trương minh Ký) cũng bị thiệt
hại lây về nhân mạng cũng như vật chất.
Ngày 29/4 lúc 9 giờ sáng, Ông Dương
Văn Minh với tư cách là Tổng Thống VNCH (mới
được 2 ngày) đã gởi một phái đoàn vào
gặp phái đoàn VC tại trại Davis (Tân sơn
Nhất). Phái đoàn gồm có Luật sư Nguyễn Văn
Huyền (Nghị sĩ, Phó Tổng thống của Dương
Văn Minh), Vũ văn Mẫu (Thủ Tướng của
Dương văn Minh) và chuẩn tướng Nguyễn
hữu Hạnh (Quyền Tham mưu trưởng QLVNCH
từ 29/4/75, sau nầy được biết là đã làm
tay sai cho VC từ đầu thập niên 70 và từ đó
đã trở thành một VC nằm vùng). Không biết
họ đã bí mật thỏa hiệp được
với VC những điều gì, đã rời trại
Davis khoảng 10 giờ. Ông họp Hội Đồng Chánh
Phủ sau đó và cho biết là địch (MTGPMN) đã
bác bỏ đề nghị của ông (hai Bên bàn thảo
để giãi quyết vấn đề nội bộ
của nhau, về một giải pháp chánh trị cho
Miền Nam Việt Nam). Ông tuyên bố là chỉ còn
một cách duy nhất là đầu hàng địch mà thôi,
và đến 11 giờ trưa ngày 30/4/1975 thì tướng
Minh đọc lời tuyên bố "đầu hàng vô
điều kiện" và tiếp theo đó tướng
Hạnh nhân danh QuyềnTổng Tham Mưu Trưởng
QLVNCH kêu gọi quân nhân các cấp "hạ súng
xuống, ngưng chiến đấu".
Và sau đây là một vài sự
việc đã được ghi nhận sau lời tuyên
bố của hai ông tướng Dương Văn Minh và
Nguyễn Hữu Hạnh:
- Quá 1 giờ trưa, chúng tôi còn
thấy một số anh em thuộc "biệt kích 81 dù"
đã bắn hạ một loạt hơn 13 chiến xa T.54
Bắc Việt nằm ngổn ngang trên đường
từ Lăng Cha Cả Phú Nhuận, dài lên hướng
Củ Chi (hạ một cách dễ dàng) trên đường
về trại Hoàng Hoa Thám gần đó, trong lúc đài phát
thanh Saigon và đài phát thanh quân đội vẫn lải
nhải lập đi lập lại những lời tuyên
bố "đầu hàng" của hai ông tướng
Minh, Hạnh...
- Từ 12 giờ trưa, các con
đường chung quanh sân bay Tân sơn Nhứt và vùng
phụ cận vắng lặng như tờ, chỉ có
tiếng rốc kết và đạn pháo thỉnh
thoảng xégió bay ngang qua nghe rợn người. Không
một chiếc xe, không một bóng người, chỉ có
xác chết nằm rải rác trên đường và trên
vỉa hè, không có một phi cơ nào lên xuống phi đạo.
- Khắp các nẽo đường
Saigon Chợ Lớn Gia Định có không biết bao nhiêu
súng ống đạn dược đủ cỡ, đủ
loại, quân phục đủ màu đủ sắc
của đủ mọi quân binh chủng được
vứt bỏ ngổn ngang khắp các vỉa hè, thùng rác...
vì chỉ có cách nầy họ mới ngừng chiến
đấu được ..... và các quân nhân chạy lông
nhông đầy đường, có lẽ không nhà quen không
thân nhân ở đô thành. Hầu hết đều
chỉ có một chiếc quần cụt hay một xì líp
che thân, miệng chửi thề tục tĩu vang trời
không biết để hoan hô kẻ chiến thắng, hay
để chửi người chủ bại đầu hàng
địch. Cho đến chiều tối thì Đô Thành
mới có vẻ yên tịnh trở lại.
Dân chúng sau những giờ phút
ngỡ ngàng rút vô nhà đóng cửạ Ngoài đuờng
chỉ có bọn vô gia cư tiếp tục như hai ngày
28 và 29/4, đi lục lạo cướp giật, hôi
của, từ các nhà ở hoặc cư xá Mỹ. Dần
dần bọn cướp cũng đến các nhà
những người bỏ nhà đi lánh nạn.
Cũng như những ngày trước
đó, suốt ngày 30/4 người ta tấp nập chen chúc
nhau tìm đường rời bỏ quê hương,
nhất là sau lời tuyên bố của hai tướng Minh,
Hạnh.... từ Giang Cảng Mới trên xa lộ Biên Hòa
(new Port) đến Bến Bạch Đằng và dọc
theo các bến tàu Tân Thuận, nơi có nhiều phương
tiện tàu thuyền, nhất là Hải Quân Việt Nam,
đang tìm cách đưa hết chiến cụ ra khơi,
vừa giúp di tản cho đủ mọi thành phần quân
dân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa, vừa không để
một chiếc tàu nào lọt vào tay cộng sản. Trong lúc
đó, trên đường bộ từ Bình Đông
Chợ Lớn đến Cần Giuộc, Cần Đước,
Gò Công, giòng người đông đảo gồng gánh
ẵm bồng, tay xách nách mang.... liên tục tuôn đi như
dòng nước lũ, bằng đủ mọi phương
tiện, (kể cả đi bộ), tìm cách đến vùng
ven biển Gò Công để kiếm phương tiện ra
khơi... mong còn gặp được hạm đội 7
của Hoa Kỳ, tìm tự do.
Các phi công thì tìm mọi cách
đưa phi cơ đủ loại của đơn
vị ra khỏi Việt Nam, vừa tự mình và gia đình
thoát khỏi bàn tay CSVN, vừa không để cho CSVN
chiếm đoạt được chiến cụ của
Không Lực VNCH. Họ qua Thái Lan, Hongkong, Đài Loan, Đại
Hàn v.v.. ngắn nhất cũng là Phú Quốc hoặc ra hàng
không mẫu hạm của Hạm đội 7 Hoa Kỳ,
ở ngoài khơi biển Đông... Có nhiều người
không đủ nhiên liệu phải hy sinh dọc đường,
nhưng cũng nhờ đó CS không thu được bao
nhiêu chiến lợi phẩm của Không Quân. (Chiếc
Boeing duy nhất của Hàng Không Dân Sự VN cũng
được Đ/T Huỳnh hữu Hiền mang đi
tạm giao lại cho chánh quyền Hong Kong ngày 30/4,
quyết không để bọn CS chiếm hữu).
Nếu ngày xưa Đất Nước
ta đã có Ngài Phan Thanh Giản tuẩn tiết vì không
giữ nổi Nam Kỳ Lục Tỉnh, thì ngày 30/4/1975 không
phải chỉ có một người mà có rất
nhiều người đã theo gương "bất
khuất và liêm sỉ" của Ngài, thà tuẩn tiết
chớ không chịu nhục với kẻ thù, để
tạ lỗi với quốc dân đồng bào!!! Đó là
các Tướng Nguyễn khoa Nam, Tướng Lê văn Hưng
(Tư Lệnh và Tư Lệnh Phó Vùng 4 Chiến Thuật),
Tướng Phạm văn Phú (Tư Lệnh Vùng 2), Tướng
Trần văn Hai (Tư Lệnh Sư Doàn 7 Bộ Binh), Tướng
Lê nguyên Vỹ (Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh),...
Ngoài ra còn có không ít sĩ quan Quân Lực và Cảnh Sát
đã tự sát hoặc cùng gia đình đã tự
tử tập thể... không thua gì các tướng tá
của quân đội Nhật Bản đã tự mổ
bụng để tạ lỗi cùng Tổ Quốc và dân
tộc khi Nhật phải chịu gác kiếm đầu hàng
năm 1945 vậy... (Các ký giả người Pháp đã
chứng kiến ngay tại Sài Gòn rất nhiều vụ
tự sát của sĩ quan và cảnh sát VNCH nên đã mô
tả đây là một "dịch tự tử"
tại Miền Nam Việt Nam sau 30/4/1975", đặc
biệt có trường hợp tự thiêu của một
trung tá ngay tại tượng đài chiến sĩ trước
quốc hội mà bộ đội Bắc Việt ngăn
cản không cho một ai đến gần kể cả ký
giả ngoại quốc. Nhưng mỉa may thay, theo như
những ký giả nầy mô tả thì "bô đội"
không chịu ngăn cản người tự thiêu).
Chánh
sách Chiến Lợi Phẩm, Cướp vàVơ Vét
Trắng Trợn
Sau khi tiến chiếm
được Miền Nam Việt Nam, việc đầu tiên
của chánh phủ Bắc Việt (VNDCCH) là "thu
chiến lợi phẩm". Đối với Miền
Bắc, Miền Nam là thù địch. Do đó, tất
cả những "tài sản, tài nguyên, phương
tiện sản xuất, công (quốc gia) hay tư (cá nhơn)
thuộc Mỹ Ngụy (cả ngụy quân và ngụy
quyền) đều được cộng sản liệt
vào thành phần chiến lợi phẩm", bên cạnh
những quân cụ, quân trang quân dụng của QLVNCH.
Đó là chánh sách .
1.
Hơn Hai Mươi (20) tấn vàng
Căn cứ theo chánh sách
nói trên, ngay chiều ngày 30/4/1975, "Ông tiến sĩ
Nguyễn Văn Hảo" đã phải trao 3 chìa khóa
hầm vàng của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam cho đại
diện Bắc Việt, để ngay tối đêm đó
họ chở trên 20 tấn vàng về Bắc (chiến
lợi phẩm!).
- Ông Hảo đã có mặt tại
dinh Độc Lập ngày 30/4/75với tướng Dương
văn Minh, ccùng với nội các của ông Vũ văn
Mẫu và một số nhân sự phản chiến tự
xung thuộc thành phần thứ ba (như Dương văn
Ba, Hồ ngọc Cứ, Võ long Triều, Nguyễn văn
Binh, v.v...). Khi bộ đội miền Bắc vào đến
dinh Độc Lập thì ông Hảo đã nói một câu
"bất hảo" bất hủ với một sĩ
quan chỉ huy Bắc Việt rằng: "Tôi đã ở
đây để chờ quí vị, để trao cho quí
vị một món quà, đó là trên 20 tấn vàng (vàng
bảo chứng thuộc Ngân Hàng Quốc Gia Việt
Nam)." Vị sĩ quan đó đáp ngay tức khắc:
"Đó chẳng phải là quà gì cả, xin lỗi ông,
đó là chiến lợi phẩm mà chúng tôi phải
tịch thu, ông hãy đưa chúng tôi đi thu ngay đi!."
Những câu đối đáp nầy đã đi vào
lịch sử, cho cá nhơn ông Hảo và cái gọi là
"Chánh Phủ VN Dân chủ Cộng hòa"! Cũng nên
biết Hảo là đương kim Tổng trưởng Tài
Chánh của chánh phủ VNCH.
- Nhưng sau đó, trong bài diễn
văn đọc nhơn ngày quốc tế lao động,
Tướng Trần Văn Trà đã cho quốc dân đồng
bào biết là (nguyên văn): "số vàng trên 20 tấn
đã được Thiệu mang đi lúc chạy ra nước
ngoài rồi". (điều nầy về sau được
biết trong một phiên họp của Bộ Chánh Trị
đảng CSVN vào cuối thập niên 80, Trường
Chinh đã thú nhận là số vàng nầy "đã manh
múng tiêu pha hết rồi", Bùi Tín cũng xác nhận
điều nầy).
2.-
Hàng Tiêu Dùng, Máy Móc và Nguyên Vật Liệu Công Nông, Ngư
Nghiệp
Từ sau ngày 30/4
suốt cho đến gần 3 tháng sau, hằng ngày đã
có trên 300 xe vận tải liên tục chở chiến
lợi phẩm về Hà Nội. Họ đã dùng xe
vận tải Molotova, xe GMC tịch thu từ các đơn
vị của QLVNCH, và xe vận tải trưng dụng
của tư nhơn người Hoa để chuyên chở
đủ mọi loại chiến lợi phẩm sau đây
về Bắc Việt:
- Gạo (thuộc các kho dự
trữ an toàn)
- Tất cả các tiện nghi văn phòng đủ
loại của các cơ quan quân sự và hành chánh vừa
tiếp thu
- Y dược và dụng cụ y khoa lấy hết từ
các kho quân y dược trung ương Phú Thọ, và
từ các bệnh viện quân dân, công tư, ở Saigon,
Gia Định và Chợ Lớn
- Các tủ lạnh, máy điều hòa không khí, máy may
đủ kiểu, và các loại tiện nghi dụng
cụ về điện
- Máy truyền hình, máy thu thanh và các loại tiện nghi khác
thuộc loại âm thanh
- Xe đạp đủ kiểu đủ cỡ, xe mô tô
(honda, suzuki v.v.v.) kể cả còn trong thùng.
- Salon, bàn ghế đủ cỡ, đủ loại
- Các loại dụng cụ cơ giới Nông Lâm Ngư
Nghiệp (máy cày, máy xới, máy đuôi tôm .v.v...)
- Và đặc biệt nhất là toàn bộ máy kéo
chỉ, máy dệt, nhuộm,v.v... tháo gở từ các nhà
máy dệt Vimitex, Vinatexco,v.v...
Tại sao chúng tôi nói là đặc
biệt? Vì lẽ ra nếu nghĩ đến "sự
ấm no của bà con cô bác đồng bào ruột
thịt miền Nam" như họ đã nói, thì tại
sao Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Bắc
Việt không để các nhà máy dệt được
tiếp tục hoạt động, sản xuất hàng
vải cho dân chúng Việt Nam xài (cả hai miền Nam
Bắc)? Hậu quả là từ 30/4/75 cho đến ít
nhất năm 1980 người dân mỗi người không
có quá 1 bộ đồ bà ba để mặc! Ngoài ra theo
các tài xế vận tải QLVNCH kể lại thì trên
đường về Hà Nội, họ có lén vứt đi
một vài bộ phận quan trọng (phá hoại) nên toàn
bộ máy móc không sao ráp lại thành xưởng dệt
được cả. Sau này, khi bị tù và bị
đưa ra miền Bắc, chúng tôi mới biết rõ,
đó là sự thật 100%. Xưởng dệt Nam Định
lớn nhất miền Bắc chỉ sản xuất
được khoản 300 ngàn mét/tháng, không bao giờ
đủ cung ứng cho dân chúng miền Bắc
rồị Trong lúc chỉ riêng Vimitex đã sản
xuất hơn 3 triệu mét/ tháng. Cho nên khi đã tháo các
xưởng dệt của miền Nam đem về Miền
Bắc ráp lại không được rồi thìlàm sao có
đủ vải cung ứng cho cả dân chúng hai miền
Nam Bắc?
Ôi, chiến lợi phẩm chỉ là
một đống sắt vụn trong kho ở Nam Định
mà thôi! Trong lúc đó, dân chúng thì rách rưới,
chỉ có quyền mặc áo ngắn khi ra đường
vì thiếu vải! Chiếc áo dài truyền thống
của dân tộc Việtnam không còn thấy xuất
hiện ở miền Nam Việt Nam nữa (vì không có
vải mà cũng vì có lệnh cấm ăn mặc xa hoa).
Áo dài chỉ mới được phép sử dụng
từ năm 1987.
3.
Gia Cư và Gia Sản, Tài Sản Của Quân Cán Chính VNCH
Hầu hết gia đình
anh chị em quân cán chánh VNCH đều là nạn nhân
đau khổ của chánh sách "chiến lợi phẩm"
nói trên. Đúng với chánh sách nầy, thì tất cả
mọi thứ, từ nhà cửa (đang ở, dù tự xây
cất, mua, hay mướn), ruộng vườn, xe cộ,
gà vịt heo chó... cho đến mọi thứ dụng
cụ đồ đạt trong nhà, từ cái mùng cái
mền cái gối, cái bô, cái bốc, thượng vàng
hạ cám... đều là chiến lợi phẩm. Vì
một lẽ rất giản dị là tất cả đều
"do tiền của đế quốc Mỹ Ngụy mua
sắm cho" (nguyên văn), cho nên không có món gì là gia
sản của cá nhơn người nào cả. Thật là
gọn.
Tại Saigon, nơi có mặt
của vài ký giả ngoại quốc thì việc tịch
thu nhà cửa còn hơi nhẹ tay, vì họ còn dè dặt
chút dư luận quốc tế. Họ chỉ làm mạnh
tay từ sau ngày 15/6/75 là ngày cả triệu quân cán chánh
đi vào nhà tù cải tạo. Tuy vậy cũng có một
vài gia đình lẻ tẻ chống lại lịnh
tịch thu, thì ban quân quản lại có chánh sách khác.
Còn ở các tỉnh thì họ
thẳng tay. Tất cả gia đình thuộc diện quân
cán chánh VNCH đều bị đuổi ra khỏi nhà
đang ở, ra mình không, không được mang theo
bất cứ món gì, dù là một cái mền để cho
trẻ con cần đắp! Họ không cần biết gia
đình bị tịch thu nhà sẽ phải đi đâu,
ở đâu, ăn uống ngủ nghỉ ra làm sao? Không
thể kêu ca vào đâu dưới họng súng AK lăm le
sẵn sàng nhả đạn. Thật là hết sức nhân
đạo! Thật là hết sức chiếu cố cho
"bà con cô bác đồng bào ruột thịt miền Nam
đang sống cơ hàn đói rách dưới sự
kềm kẹp của đế quốc Mỹ Ngụy"
như Bác và Đảng đã nói! Còn rất nhiều
loại chiến lợi phẩm lặt vặt khác nữa,
nhưng chúng tôi chỉ nêu lên đây vài loại chiến
lợi phẩm điển hình thuộc loại công
nghiệp và cá nhơn mà thôi.
Đến giai đoạn "đánh
tư sản" kế tiếp, CSVN mới thật sự
vơ vét thêm đủ loại chiến lợi phẩm khác
nữa, của tư nhơn, mà chủ yếu là vàng và
gia sản cơ nghiệp của người dân thường
có cửa hàng mua bán để sống ở chung quanh các
phố chợ lớn nhỏ khắp Miền Nam Việt
Nam, nhất là của người Hoa. Lý do cũng rất
đơn giản: có cửa hàng tư mua bán là có hợp
tác với Mỹ Ngụy, là có bóc lột nhân dân rồi!
Tài sản phải bị tịch thu (nhân dân tịch thu!) và
gia chủ thì phải được đưa đi
cải tạo, hoặc đưa về những vùng kinh
tế mới ở các tỉnh khác. Đó là chánh sách!
Một gia đình ở quận 11, gần nhà tôi đang trú
ngụ, nửa đêm 1 giờ khuya, bị gọi dậy và
lùa đi lên xe Molotova bít bùng, (hai vợ chồng và 4 con, 3
cháu), không được đem theo một món gì, dù đó
chỉ là một cái mền cho cháu nhỏ, bị chở
đi về hướng tỉnh Rạch Giá, cùng với hơn
10 gia đình khác cùng quận. Đến xã Mông Thọ
gần Ngã ba Rạch Sỏi, cách tỉnh lỵ hơn 16 cây
số ngàn, vào lúc hơn 4 giờ chiều, xe ngừng
lại và cả đoàn người phải xuống xe
hết để xe còn trở về Saigon, và đoàn người
nầy phải chịu cảnh màn trời chiếu đất
cạnh quốc lộ như vậy, không cơm không nước
uống cho đến ngày hôm sau mới được xã
Mông Thọ lùa vào một vùng đất hoang phía Bắc xã
Mông Thọ, được gọi là Khu Kinh Tế Mới
cách quốc lộ gần 10 cây số lội ruộng,
để rồi sống sao thì sống, vì bị ghép vào
tội tư sản mại bản, hợp tác với
Mỹ Ngụy. Dĩ nhiên tài sản của họ sẽ
"được nhân dân quản lý".
4.
Hai chữ Nhân Đạo
Tổng Y Viện
Cộng Hòa tại Hạnh Thông Tây (Gò vấp) là một
trong những bệnh viện thuộc QLVNCH được
cộng Sản Miền Bắc liệt vào hàng
"Chiến lợi phẩm" quan trọng nhất khi vào
đến Sài Gòn. Ngay chiều ngày 30/4/75 chúng đã đến
"tiếp thu" quân y viện nầy, và ra lịnh cho
tất cả đều phải ra khỏi bệnh viện
"ngay tức khắc". Dĩ nhiên các bác sĩ quân y,
các nam nữ trợ y và các nữ trợ tá xã hội, các
lao công dân chính đều phải tuân lệnh ai về nhà
nấy. Nhưng còn các thương bệnh binh hiện
đang được điều trị tại tổng y
viện nầy thì sao? Xin thưa là tất cả đều
bị "đuổi" ra khỏi bệnh viện ngay
tức khắc (tức là ngay từ 2 giờ chiều ngày
30/4/75) không cần biết tình trạng bệnh lý, đã
được chữa trị hay chưa, vết thương
đã lành hay chưa, không cần biết thời gian
nhập viện,v.v.. Hậu quả thật là khủng
khiếp cho những thương binh vừa lên bàn mỗ
hay vừa được mỗ chưa kịp khâu lại,
phải xuất viện ngay, ôm vết thương lang thang
ra dân y viện hoặc tìm bác sĩ tư nhờ tiếp
tục mỗ hay khâu lại giùm, hoặc tiếp tục
tạm chữa trị giùm... nếu không thì chỉ có nước
về nhà chờ ngày ra nghĩa địa.. Nhưng
khổ nổi nhà ở đâu mà về? đơn vị
ở đâu mà về? gia đình ở đâu mà về? Có
nhiều quân nhân từ các Vùng Chiến Thuật xa xôi
được tản thương thẳng về quân y
viện Cộng Hòa. Ngay cả tin tức gia đình còn chưa
biết rõ thì làm sao có nơi nương tựa để
chữa thương và dưỡng thương? Đây là
một câu chuyện bi thảm nhất trong lịch sử
chiến tranh Quốc Cộng của dân tộc Việt Nam
chúng ta trong những ngày sau 30/4/1975. Chúng tôi được
biết sau đó bệnh viện Đô Thành và Nguyễn văn
Học (Gia Định) có tạm nhận chữa tiếp
giùm khoảng 50 ca khẩn cấp và một số bác sĩ
tư cũng có điều trị giúp cho một ít thương
bệnh binh nặng đang được giải phẫu
dở dang vừa bị đuổi ra khỏi quân y
viện.
Ngày 16/6/1975 trước khi đi tù,
chúng tôi có dịp đi ngang bệnh viện Cộng Hòa thì
thấy tất cả các khoản đất trống trong
quân y viện đều được các bác sĩ và y tá
Bắc Việt trồng khoai, chuối, rau muống, rau
cải... đủ loại, gọi là "tận dụng
mặt bằng để lao động tăng gia sản
xuất cho đơn vị"! Cho tới năm 1987 khi ra
tù, chúng tôi thấy quân y viện Cộng Hòa vẫn còn
thuộc cơ quan quân y cộng sản, nhưng được
ngăn chia ra làm 3 khu vực bằng những bức tường
gạch cao. Vườn tược bên trong của cả 3
khu đều rất xum xuê một cách vô trật tự,
đủ mọi giống cây ăn trái ngắn hạn dài
hạn, rau cải đủ loại kể cả đủ
mọi loại cỏ dại... có lẽ để anh
bộ đội và gia đình anh từ Miền Bắc vào
tiện nuôi heo, gà vịt và trâu bò trong chương trình
tự túc của gia đình và cả đơn vị quân
y. Dĩ nhiên các dãy nhà gạch đều bị xuống
cấp không thể tả được, vì đơn
vị quân y và gia đình họ ở đây chỉ
biết có nhu cầu "thực phẩm" nhứt
thời, không có vẻ gì gọi là một bệnh
viện cả. Nó giống như một trại tạm trú
trên đường mòn Hồ chí Minh không hơn không kém.
Và dĩ nhiên thời gian trôi qua,
sự việc cũng trôi theo, giờ nầy dân chúng
Miền Nam Việt Nam cũng như người Việt Nam
ở hải ngoại nầy, có mấy ai còn nhớ gì và
biết gì đến buổi chiều ngày 30/4/75, một
buổi chiều bi thảm nhất của QLVNCH nhất là
của anh em thương bệnh binh Miền Nam Việt Nam
đang điều trị tại quân y viện Cộng Hòa,
khi bị xua đuổi thẳng tay hết sức "vô
nhân đạo" ra khỏi giường bịnh của
mình do sự tiếp thu của Cục Quân Y / Quân Đội
Nhân Dân của Bắc Việt !
Tôi cũng xin trích thêm ra đây
một sự kiện "hào hùng và nhân đạo"
nữa của những người tự gán cho mình cái tên
rất kêu là giải-phóng-quân của MTGPMN, mà người
dân Miền Nam gọi nôm na là Việt Cộng, (từ
quyển "la Mort du Viêt Nam" của Tướng Vanuxem,
trrang 84 và 85)
- "Bác sĩ Vincent, người Pháp
gốc Việt, (Hội Việt Kiều Yêu Nước bên
Pháp), thuộc đoàn "bác sĩ không biên giới"
(Médecins sans frontière) được cử sang Việt Nam
trong phái đoàn y-tế Pháp. Ông là một người có
tư tưởng tự do phóng khoán, nên trong cương
vị bác sĩ, ông và phái đoàn y tế không từ
chối sự khoản đãi rất linh đình của
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ngày 13/4/75 tại
Paris, trước khi qua Việt Nam.Trong bữa tiệc,
MTGPMN khuyên phái đoàn không nên liên lạc với Việt
Nam Cộng Hòa và hãy chịu khó nằm ở Vũng Tàu
đợi gặp giải phóng quân. Do vậy, ông Vincent và
các bác sĩ trong phái đoàn chỉ ghé qua Saigon và đi
thẳng ra Vũng Tàu, tạm nằm trong một dân y
viện. Vào ngày 29/4/1975, sau mấy đợt pháo kích, người
ta tải đến trên 80 người bị thương,
có cả dân, và lính dù lẫn lộn. Phái đoàn của
bác sĩ Vincent đang lo băng bó và chữa trị cho
họ thì có một toán Việt cộng có võ trang đột
nhiên đến ngăn cản không cho các bác sĩ làm
việc nầy, đồng thời bảo họ phải
đưa hết các thương bệnh binh ra khỏi
bịnh viện, vì họ đang cần nơi nầy. Phái
bộ y tế của bác sĩ Vincent vì lương tâm
nghề nghiệp đã từ chối vì không biết
sẽ đưa những người thương binh đi
đâu bây giờ. Tức thì người chỉ huy V.C. nói
ngay với bác sĩ Vincent:
- "Dễ quá mà ! Vừa nói anh ta
vừa móc súng lục ra kê vào đầu một anh thương
binh gần đó và bóp cò. bác sĩ Vincent phản đối
dữ dội, người ta kéo bác sĩ ra một chỗ
khác, và bác sĩ Vincent còn nghe có nhiều tiếng súng
lục sau đó... đến khi bác sĩ trở lại thì
bệnh viện đã trống, người ta nói là đã
sẵn sàng cho giải phóng quân sử dụng rồi ! Sau
nầy về đến Paris, bác sĩ Vincent khi thuật
lại việc nầy, ông dùng danh từ "bọn người
man rợ !" (nguyên văn; les barbares)
Những
Người Đã Bỏ Mình Vì Nước và Nơi An
Nghỉ Cuối Cùng Của Họ
Người Việt Nam chúng ta
từ ngàn xưa đã có câu "Chết Là Hết",
cho nên khi một người nào đó dù có thù hằn
với gia đình mình thế mấy đi nữa mà đến
khi chết rồi thì coi như mối thù đó được
xóa bỏ hẳn, không một ai còn muốn nhắc đến
nữa, vì đó thuộc về quá khứ rồi. Nhưng
đối với cộng sản Việt Nam thì không
thể như vậy được. Có lẽ vì họ
đã tiêm nhiễm quá sâu tư tưởng Mácxít Lêninít
hay Stalinít, nên không còn một chút lương tâm con người
và mất hết dân tộc tính Việt Nam.
Do đó mà sau ngày 30/4/1975, họ có
những hành động quá ư tàn nhẫn, dã man, không có
một chút lương tâm đạo lý nào đối
với những người quân nhân thuộc QLVNCH đã
chết trong cuộc chiến. Đối với họ,
sống hay chết đều là kẻ thù cả!
- Họ đã dùng xe ủi đất,
(buldozer) ủi sạch và san bằng hai nghĩa trang quân
đội Việt Nam Cộng Hòa, một ở Hạnh thông
Tây (Gia Định), một ở Thủ Đức (Biên Hòa).
Họ san bằng bình địa để vừa gọi là
"trả thù cho quân đội và nhân dân miền
Bắc", vừa xóa sạch vết tích QLVNCH để
cho chủ trương sửa lại lịch sử
Việt Nam cận đại của người cộng
sản được dễ dàng hơn trong những ngày
tháng sắp tới...
Dĩ nhiên, ở khắp các
Tỉnh thuộc khắp miền Nam Việt Nam từ Sông
Bến Hải đến mũi CàMau họ đều làm
y như vậy. Đó là "Chánh Sách của Đảng
và Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa".
Trong khi tại Hoa Kỳ, qua cuộc nội chiến đẫm
máu, dù quân đội hai bên là kẻ thù, nhưng tử sĩ
của hai phe Nam Bắc Mỹ đều được chánh
phủ cho chôn cất "đàng hoàng trong danh dự"
tại những "nghĩa trang quốc gia" và
được trọng vọng như nhau.
- Tượng hình điêu khắc
"Thương Tiếc" là một tác phẩm mỹ
thuật rất có giá trị, đặt trước nghĩa
trang quân đội trên xa lộ Biên Hòa bị CSVN phá nát
bằng cốt mìn, ủi sạch không còn dấu vết,
chỉ vì đó là tượng hình của một người
lính Thủy Quân Lục Chiến của QLVNCH, một
biểu tượng của kẻ thù !
- Anh Trung úy Nguyễn Văn Ngọc
thuộc xã Long Hồ (VĩnhLong) chết cả năm trước,
chôn lâu rồi, nhưng hai ngày sau 30/4/75, cũng bị
"giải phóng quân" quật mồ lên, cả quan tài
lẫn xác được cho nổ tung bằng cốt mìn,
giữa chợ, cũng chỉ vì lúc sanh tiền anh quân nhân
Nhảy Dù nầy đã có quá nhiều huy chương
thuộc loại "diệt cộng". Và dĩ nhiên còn
có không biết bao nhiêu chiến binh VNCH khác nữa đã
"được chết hai ba lần" một cách dã
man như thế, ở khắp Miền Nam Việt-Nam.
- Đến giờ nầy, "nghĩa
trang quân đội ở khắp miền Nam Việt Nam
đều được trang hoàng tươm tất,
lại có yết thị rõ ràng kêu gọi mọi người
hãy dừng lại để tưởng nhớ những
liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ-Quốc. Nhưng ai
nấy đều phải biết rằng những nơi
nầy chỉ dành cho cán binh Bắc Việt và Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam, ngoài ra hoàn toàn không có
chỗ nào dành cho những người lính chiến
của VNCH", (trích một đoạn của bài Searching
for Nguyễn tấn Hưng, tác giả là Cô Lily Dizon
Nguyễn Thị Bằng Phương, con của Đại
úy Hưng, cô là biên tập viên báo Los Angeles Times, ngày
29/8/1994, kể lại chuyến đi về Việt Nam tìm
cha Cô, nguyên là sĩ quan QLVNCH, SĐ 22 BB, bị mất tích
trong trận Tân Cảng, năm 1972).
Đây là những bằng chứng
hùng hồn, cụ thể và trung thực nhất về
"sự thù hận thiên thu đối với người
lính chiến VNCH dù là họ đã chết".
Lấy đó mà suy thì chúng ta
sẽ phải thấy rõ ràng như ban ngày, chủ trương
và chánh sách của Cộng Sản Việt Nam là
"bằng mọi cách xoá bỏ vĩnh viễn tập
thể người của chế độ VNCH, chớ không
chút nào và không bao giờ có vẻ "quên hận thù"
hay "xóa bỏ hận thù" như chúng vẫn thường
rêu rao và cho cò mồi rêu rao chiêu bài láo khoét "xóa
bỏ hận thù hòa hợp hòa giải dân tộc" (trích
một đoạn trong bài Tương Lai Dân Tộc
Việt Nằm Trong Tay Ai" của Nguyễn Việt
Nữ, báo Xây Dựng).
Và những người làm chánh
trị nào còn chút lương tâm và liêm sỉ của người
Miền Nam Việt Nam, hãy nhìn kỹ vào thực trạng
đau khổ không bến bờ của anh chị em quân cán
chính VNCH, đã nằm xuống rồi, cũng như còn
sống trong cảnh dốt, đói, khổ trong nước
hay đang sống tha phương cầu thực ở quê
người, sau hằng chục năm tù tội khổ
sai, hãy nhìn tận mặt con người CSVN với
chủ trương và chánh sách của ho. Chớ bao
giờ mơ hồ hay ngây thơ nghe theo luận điệu
phỉnh gạt muôn đời của họ, để
tự bán mình cho loài quỷ đỏ, cam tâm làm tay sai tuyên
truyền cho giải pháp "xóa bỏ hận thù, hòa
hợp hòa giải dân tộc,v.v...
Câu
Chuyện Bài Trừ Văn Hóa Đồi Trụy
Ngay sau ngày 30/4/75,
một ủy ban gọi là "ủy ban bài trừ văn
hóa đồi trụy" ra đời. Thành phần
gồm một cán bộ Đảng CSVN và sinh viên học
sinh chít khăn đỏ trên tay (mà người dân
miền Nam gọi là cọp 30), tại Sài Gòn Chợ
Lớn thì mỗi quận một tiểu ban, ở các
tỉnh thì mỗi tỉnh một tiểu ban.
"Văn hóa đồi
trụy" được định nghĩa là tất
cả những ấn phẩm thuộc mọi lãnh vực
chánh trị, kinh tế, lịch sử (nhất là lịch
sử), giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn hóa văn
nghệ, phim, ảnh. v.v... được lưu hành và
sử dụng tại Việt Nam Cộng Hòa từ ngày
30/4/1975 trở về trước, được in, chép
hay thu vào băng nhựa, bằng tiếng Việt Nam hay
bất cứ loại sinh ngữ ngoại quốc nào
(trừ chữ Tàu và chữ Nga).
Mục tiêu mà các "ông cọp
30" chiếm trước tiên là Thư viện quốc
gia (national library) ở đường Gia Long. tất
cả sách bìa cứng bìa mềm, gáy tím gáy vàng, dày
mỏng gì cũng đều được mang ra
đường xé nát và đốt hết. Tội
nghiệp cho mấy bộ tự điển và Encyclopédia
chữ Anh chữ Pháp (trên 100 cuốn), và rất nhiều
bộ sách quý thuộc các ngành công pháp quốc tế,
khoa học kỹ thuật, hàng không và cả hàng không không
gian,v.v... mà anh quản thủ thư viện đã tốn
công sưu tầm trên 10 năm dài để làm giàu cho thư
viện của Đất Nước, trong phút chốc
bị "cọp 30" sơi tái hết! Chúng tôi đến
gần lượm từng tờ của bộ encyclopedia lên
xem mà ứa nước mắt... nhưng không dám hỏi
thêm vì bị một "cọp 3O" khoảng 16 tuổi
tới đuổi:
- "Đi đi, tiếc gì mà coi,
xé bỏ đốt bỏ hết, nó là tiếng nước
ngoài, của thực dân, đế quốc đồi
trụy, ru ngủ đầu độc dân tộc. Độc
lập rồi cần gì ba cái thứ nầy nữa !!"
Tội nghiệp! Thật là tội nghiệp!!! (Về sau mãi
cho đến 1992 lúc chúng tôi rời VN, thì thư viện
quốc gia nầy vẫn còn được cộng
sản dùng làm "mặt bằng" cho mướn làm
tiệc cưới và tiệc "liên hoan" của cán
bộ công nhân viên các cấp).
Mục tiêu kế tiếp là Thư
Viện Bộ Giáo Dục, các nhà sách ở khu chợ
Bến Thành và dài dài vô đến Chợ Lớn... sau
đó tiểu ban đi xét từng nhà khắp đô thành
Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định, ai sợ thì
cứ tự mình đốt bỏ... nếu xét gặp thì
chắc chắn phải gặp khó khăn với mấy
"ông cọp 30 trẻ" nầy.
Về văn nghệ thì tất
cả các bản nhạc in hoặc thu vào băng nhựa,
nếu không phải loại nhạc lai căn (lai nhạc Tàu)
từ nhóm văn công miền Bắc mang vào, đều
được liệt vào loại "nhạc vàng của
đế quốc Mỹ và tay sai", cấm lưu hành,
ai lưu giữ sẽ có tội. Các kịch bản hay các
vở tuồng cải lương, hát bộ v.v.. cũng
phải được duyệt xếp loại lại (Bà
Thiếu tá Cách Mạng đào hát Kim Cương phụ trách
phần nầy).
Nói tóm lại, Chánh Phủ
"Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" chủ trương
hủy bỏ tất cả những gì mà họ cho là tàng
tích của Mỹ Ngụy từ 75 trở về trước,
để đem thay thế vào đó những gì mà
miền Bắc đang có và đang áp dụng, không
cần biết có hợp với dân tộc Việt Nam hay
không và cũng không cần lượng xét hậu quả
sẽ như thế nào.
Câu
Chuyện Về Giáo Dục
Về vấn đề
Giáo Dục, từ sau ngày 30/4/75, CSVN đã chủ trương
một chánh sách ngu dân để dể thống trị , và
chủ trương "phân biệt đối xử"
giữa các thành phần sinh viên học sinh, dựa trên
tờ khai lý lịch ba đời của mỗi em.
Do đó, tất cả con em
thuộc gia đình quân cán chính của VN CH không bao
giờ vào được bậc cao học hay đại
học vì hàng rào lý lịch mà CSVN cố tình dựng lên
trong suốt 20 năm qua. Hậu quả thật tai hại
cho cả dân tộc, vì thay vì đầu tư chất xám
cho đất nước, CSVN cố tình hạn chế và
đè bẹp thế hệ trẻ có thừa khả năng
và trí thông minh trên con đường học vấn. Do
vậy chỉ có con em thuộc giai cấp của đảng
và các cậu ấm con lãnh đạo đảng mới
được vào đại học, mặc dầu điểm
thi tuyển dưới điểm trung bình rất xa.
Đây là một thời kỳ
Tần Thủy Hoàng thứ hai ở Việt Nam, đốt
sách và ngăn cấm học trò. Cho dù CSVN có sửa
lịch sử cũng không bao giờ gột sạch
được tội mình trước hồn thiêng
của Đất Nước, trước dư luận
quốc tế và quốc nội.
Các giáo viên cấp tiểu học và
giáo sư Trung Đại Học còn tiếp tục
nghề gõ đầu trẻ mà họ đã lựa
chọn vì say mê nghề nghiệp và có lương tâm
chức nghiệp. Nhưng có những sự việc
"bất khả kháng" mà những Thầy Cô dù có
say mê và tận tâm thế mấy, cũng phải đau lòng
mà từ bỏ nghề cao quí nầy.
- Dạy Học được
xếp vào hàng thứ yếu, sau lao động chân tay. Do
đó lương hằng tháng chỉ đủ nuôi gia
đình (80.000 đến 100.000 một tháng, tương
đương 8 đến 10 dollar năm 1991), tiện
tặng lắm cũng tạm cháo rau được
chừng hơn nửa tháng, lại còn bị nạn
"Nhà Nước không đủ tiền lẻ" nên có
khi 3, 4, 5 tháng mới được lãnh lương
một lần. Cho nên, "túng phải tính": dạy
học là "nghề tay trái" còn đạp xích lô
mới là "nghề tay mặt" (những Thầy
ở Saigon Chợ Lớn và Gia Định), và đạp
xe đạp ôm, đạp xe lôi (những Thầy ở các
Tỉnh, Quận). Đó là nghề mà các cô giáo không
thể nào làm được...!
Cái cảnh trò ngồi xe xích lô cho
thầy đạp được thấy nhan nhản
ở Đô thành! Do vậy, ngay những năm của
thập niên 90 gần đây, số giáo viên tốt
nghiệp trường Sư Phạm (riêng tại Miền
Nam Việt Nam) vào nhận việc, chỉ bằng 1/3
số giáo viên nghỉ việc, ra khỏi ngành (thống kê
của Bộ Giáo Dục,1990).
- Trường cấp tiểu
học thì vẫn để mặc cho thời gian và gió mưa
lụt lội, không ai để tâm vào việc tu sửa,
nói chi đến việc xây cất thêm cho trẻ em
vốn càng ngày càng đông. Cho đến năm 1992, tình
trạng các trường ở xã ấp có nơi thì mái
dột cột xiêu, có nơi không vách, trông thật
thiểu nảọ Xã ấp được giao cho trách
nhiệm sửa chửa mà không được cấp ngân
sách.
- Một số trường Trung
học cấp 1 và cấp 2 vì không có đủ giáo sư,
không có học trò, nên chánh quyền Tỉnh, Quận
sử dụng "mặt bằng để bán vật tư
xây cất" hay cho các công ty quốc doanh thuê làm kho hàng
để thu thêm lợi tức, lơi nhuận cho ngân sách.
- Sỉ số học sinh thì càng ngày
càng giảm sút. Có nhiều lớp Thầy trò cộng
lại chỉ trên dưới muời người mỗi
buổi học, vì các em còn bận giúp cha mẹ làm
ruộng làm vườn làm rẫy. Các em còn ham đi
chạy hàng lậu (như thuốc hút) dọc theo biên
giới, chợ trời,... hơn là đi học (điển
hình vùng Gò Dầu, Trảng Bàng, Tây Ninh, và các Tỉnh ven
biển). Do đó "nhà nhà làm kinh tế, trò trò làm kinh
tế" áp dụng đúng câu "dân giàu nuớc
mạnh" của Đảng đề ra, cần gì
học! Mà không có trò thì Thầy còn mê nghề gõ đầu
trẻ làm sao được nữa?
Chưa nói đến chuyện ngược
đời là cộng sản khuyến khích"cho điểm
Thầy Cô". Đây là hình thức gián tiếp cho phép
bọn học sinh xấu,... "gõ đầu thầy"
hay trả thù thầy, khiến cho Thầy phải nghỉ
dạy và Cô phải tự tử (2 vụ tự tử,
một ở trường Bùi thị Xuân Sài Gòn, và
một ở thư viện Cần Thơ), để
cảnh cáo chủ trương và chánh sách giáo dục
của Đảng và Nhà Nước từ sau 30/4/75.
Tựu trung đây là Chánh Sách Giáo
Dục của CSVN đối với đồng bào
Miền Nam Việt Nam, chủ trương làm cho người
dân càng ngu dốt càng dễ trị. Cho nên nước
Việt Nam cho đến năm 1995 vẫn chưa ngóc đầu
lên nỗi so với các nước láng giềng ở vùng
Á Châu nầy.
Về
Đời Sống Của Người Dân
Vào chiếm được
Miền Nam, cộng sản đem chánh sách và chủ trương
mà họ đã từng áp dụng ở Miền Bắc ra
áp dụng ngay. Tức là canh chừng người dân
từng hành động, từng lời ăn tiếng nói,
và nhất là từng miếng ăn của từng gia
đình. Hết sức là ty tiện!
Tất cả các nhà dân đều
được bộ đội chia nhau tới "xin
ở nhờ"", nhưng thật sự là để
điều tra thành phần nhân sự, tư tưởng,
hành động, sinh hoạt hằng ngày và nhất là
của chìm của nổi.... Ban Quân Quản xúc tiến
kiểm kê từng nhà (cộng sản gọi là hộ
khẩu) và thành lập "liên gia" để kiểm
soát thật chặt chẽ sinh hoạt của mỗi gia
đình, từ tư tưởng, lời nói, việc làm
của từng người ...mà nhất là thành phần
thức ăn của mỗi bữa cơm trong gia đình.
Thật ra lúc nầy không người
dân nào có tiền, (vì tất cả ngân hàng đều
được lệnh đóng cửa, các xí nghiệp hãng
xưởng được lệnh ngưng hoạt động,
không dễ gì kiếm được đồng tiền
như thời trước 30/4, dù là mua gánh bán bưng). Người
lớn thì sinh hoạt học tập chánh trị ban đêm;
ban ngày phải đi lao động sản xuất xã
hội chủ nghĩa (kiếm bất cứ miếng đất
trống nào để trồng khoai trồng sắn)
trẻ em thì tạm ngưng học chữ để
học hát và làm vệ sinh lượm rác suốt ngày ngoài
đường... Đây là một hình thức "tù
cải tạo tại gia" áp dụng cho toàn Miền Nam,
cải tạo luôn bao tử bằng cách bắt dân
phải ăn độn ngô khoai và bo bo. Người dân Sài
Gòn ai cũng có thân nhân họ hàng ở các tỉnh, nên lúc
đầu được tiếp tế gạo, thịt
từ dưới quê. Nhưng sau đó cộng sản ra
lệnh "ngăn sông cấm chợ" để xí
nghiệp lương thực quốc doanh độc
quyền cung cấp gạo và thực phẩm cho dân theo tiêu
chuẩn do Quân Quản ấn định (luôn luôn dưới
mức nhu cầu bình thường cho mỗi người,
tức là chỉ cho ăn đói triền miên).
Nói cách khác là cộng sản
nhất quyết kiểm soát cho bằng được
"miếng ăn" của người dân trên toàn
Miền Nam theo đúng chánh sách của đảng.
Những sự đi lại từ tỉnh nầy sang
tỉnh khác được kiểm soát gắt gao (từ
quận, từ xã ấp cũng vậy). Các trạm
kiểm soát của công an dọc theo các trục lộ trên
bộ và trên sông hoạt động ngày đêm 24/24 không
để một kí gạo, một con cá, một miếng
thịt hay một bó rau nào được mang từ vùng
nầy sang vùng khác (vì đây là phần việc của công
ty lương thực nhà nước). Điều nầy làm
cho người dân Miền Nam khốn đốn (vì quen
ăn không quen nhịn, nhất là trẻ con, mãi cho đến
cuối thập niên 80, thời Nguyễn văn Linh lệnh
ngăn sông cấm chợ mới được thu
hồi). Dĩ nhiên trong lúc dân đói thì cán bộ đảng
và nhà nước vẫn no nê phè phỡn, nên mới có câu
"dân khỏi no, mọi việc đã có đảng và
nhà nước no rồi".!
Người nông dân ở thôn quê cũng
chết dở sống dở, vì chánh sách hợp tác xã. Ai
cũng làm chủ tập thể ruộng đồng, nhưng
ông chủ rủi mà đau ốm không có ngày công lao động
nào trong tháng thì ngày đó ông chủ bị tập
thể khóa miệng và khóa bao tử lại ngay! (không
được lãnh lúa).
Người công nhân ở thành
thị cũng không hơn gì. Cũng được
cộng sản phong làm chủ tập thể công ty, xí
nghiệp, nhưng ông chủ rủi mà không giao sản
phẩm đúng theo mức khoán của nhà nước thì
cũng phải chịu cảnh đói dài (chánh sách khoán
sản phẩm). Trái lại, nếu ông chủ vượt
chỉ tiêu mức khoán, thì phần gạo được
tăng, nhưng sau đó thì nhà nước lại tăng
mức khoán lên, v.v.. Cứ như thế mà nhà nước
trì kéo với ông chủ nhằm mục đích kéo tiêu
chuẩn gạo xuống mức tối thiểu để
cho ông chủ đói dài mới thôi.
Nói tóm lại, chánh sách "ngăn
sông cấm chợ", "khoán sản phẩm",
"hợp tác xã"... đều nhằm mục đích
canh chừng từng miếng ăn của người dân,
để cai trị dân, bắt người dân vì
miếng ăn mà nhất nhất phải chạy theo đảng
và nhà nước. Đó là chánh sách, dường lối
và chủ trương của cộng sản, được
áp dụng cho toàn dân Miền Nam, sinh hoạt ở ngoài xã
hội cũng như trong nhà tù không khác, vì cộng
sản xem nhân dân là thù địch, nên cộng sản
đã biến cả nước thành một nhà tù vĩ
đại trong suốt gần hai thập niên từ
30/4/1975.
Phút
Ngỡ Ngàng Của Những Người "Tập
Kết"
Họ là những người
Miền Nam Việt Nam, tập kết ra miền Bắc vào
những tháng cuối năm 1954, sau khi nước Việt
Nam bị chia đôi, theo Hiệp ước Genève 1954.
Họ là cán bộ cộng sản, là bộ đội
Việt Minh đa số là du kích, nhưng hầu hết
đều là những người dân quê bị cộng
sản dụ dỗ, lừa phỉnh, hoặc ép buộc
đưa ra miền Bắc. (Xin nhắc lại là đối
với quốc tế thì có vẻ như là dân chúng
Miền Nam cũng có người lựa chọn chế
độ dân chủ cộng hòa miền Bắc. Số người
tập kết không quá 200 ngàn người theo thống kê
chánh thức của cơ quan kiểm soát đình chiến
1954 (ICC), trong khi riêng dân chúng miền Bắc đã có
gần 2 triệu người di cư vào Nam, cũng như
sau tháng 4/75 cho đến nay đã có trên 2 triệu người
chạy cộng sản, bỏ nước ra đi sống
tha phương cầu thực tỵ nạn ở ngoại
quốc .)
Vào khoảng tháng 5 và tháng 6/75
họ mới được phép trở về miền Nam
trong tư thế bộ đội miền Bắc về
giải phóng quê hương,"giải phóng bà con cô bác
ở Miền Nam đang sống nghèo nàn cơ cực,
đói lạnh rách rưới, dưới ách thống
trị độc tài bóc lột tận xương tủy
của đế quốc và tay sai Mỹ Ngụy."
Từ khi tập kết ra miền
Bắc, họ bị cấm không được liên
lạc với thân nhân ở Miền Nam và họ đã
được bộ máy tuyên truyền miền Bắc
nhồi nhét tin tức một chiều rằng "đồng
bào, bà con cô bác ở miền Nam sống rất khổ
sở, "ăn thì không đủ no" (không đủ
gạo ăn vì bị đế quốc Mỹ vơ vét
hết), thậm chí, không có đủ chén bát nên phải
ăn cơm bằng miễng dừa (gáo dừa khô),
"mặc thì không đủ ấm" thậm chí cha con
chỉ có một chiếc quần thay phiên nhau mặc khi
cần đi ra ngoài, "ở thì không có đủ nhà
để ở", phải sống chen chúc dưới
gầm cầu, hay các nhà ổ chuột, "đời
sống thì bị kềm kẹp" không còn một chút
tự do tối thiểu nào." Vì thế cho nên khi
được về Nam ai cũng nôn nóng, cố mang theo
một ít quà cho bà con cô bác thân nhân trong gia đình, người
thì mang theo vài cái chén đá, người thì gắng
sức mang theo vài cân gạo mà họ đã cố tình
bớt xén lại từ tiêu chuẩn gạo hằng ngày
của họ. Có người thì mang theo một vài
chiếc áo chiếc quần cũ. Có người dành
dụm hằng bao nhiêu năm, bọc sẵn được
theo mình vài ba chục bạc tiền Hồ,v.v... Tất
cả đều chỉ tha thiết mong mỏi mang về
để giúp đỡ thân nhân đang sống đói rách
ở miền Nam Việt Nam.
Sau đây là câu chuyện điển
hình mà tôi đã chứng kiến tận mắt, vì có quen
với gia đình nầy:
Từ sáng sớm ngày 1/5/75, anh Tư
Xê về đến trước cửa nhà của anh mình!
Anh vừa mừng vừa rụt rè, cố tình nhìn đi
nhìn lại..thật kỹ... Đúng rồi, đây là con
đường Trần Hưng Đạo cũ. ĐDây là
ngã tư Nancy cũ, và đây là căn nhà số 618... nhà
của anh Hai mình đây rồi, nhưng tại sao nhà cũ
không có lầu mà nhà nầy có thêm 2 tầng lầu
nữa vậy? Nhà lầu đúc to quá, đẹp quá,
chắc không phải là nhà anh Hai mình rồi! Hay là anh Hai mình
đã bán nhà đi đâu rồi... và nếu vậy thì làm
sao biết anh ấy ở đâu mà tìm bây giờ?
Tư Xê ngồi xuống bên lề
đường đối diện căn nhà số 618, nơi
mà anh đã rời bỏ "đi bưng" từ năm
1951, rồi từ bưng bị đi tập kết vào năm
1954 không về được lại Sài Gòn để
từ giã gia đình... Anh ngồi đó một hồi lâu
cố tình chờ xem có ai quen để hỏi thăm
về anh mình. Chợt có một người từ trong căn
nhà lầu ba tầng nói trên bước ra... một người
con gái khoảng 20 tuổi, trắng đẹp, có vẻ
con nhà quý phái dù chỉ mặc áo bà ba trắng. Anh
lật đật chạy ngay lại hỏi thăm:
- Thưa cô, xin cô cho tôi hỏi thăm
một chút.
- Dạ thưa ông hỏi chi?
- Thưa cô trong nhà nầy có ai tên
là Hai Minh không cô?
- Dạ có, thưa ông. Cô dè dặt
trả lời, hơi lo, vì thấy người vừa
hỏi mình là một anh mặc quân phục xanh Bắc
Việt, nhưng lại nói giọng Nam.
- Phải vợ ổng tên là Hương
không cô?
- Trời ơi! sao mà ông hỏi
nhiều quá vậy ông? Phải, Hương là tên của
má tôi đó, ông còn muốn hỏi gì nữa không? Cô gái
đáp có vẻ hơi giận.
- Như vậy nhà nầy là nhà
của anh Hai Minh phải không cô?
- Trời ơi! Vậy chớ ông tưởng
là nhà của ai, xin thưa với ông đây là nhà của
Ba Má tôi, nhà của gia đình tôi! Xin lỗi ông tôi có
việc cần phải đi đây, Ông đứng đó
chơi nghen. Cô gái nói xong dợm bỏ đi....
Anh Tư Xê mừng rỡ, cẩn
thận xách túi dết lên (vì sợ bễ mấy cái chén
trong túi!), bước lại chận cô gái lại và nói:
- Trời đất ơi ! Chú đây
cháu, chú là Tư Xê, chú Tư của cháu đây nè, cháu
đưa chú vô gặp anh Hai chị Hai đi cháu!
Vào nhà anh em gặp nhau dĩ nhiên
mừng mừng tủi tủi, hàn huyên tâm sự..
chừng đó anh Tư Xê mới nhận chân được
sự lố bịch hết chỗ nói của mình (là mang
2 kí gạo, 5 cái chén đá từ Hà Nội về gọi
là để giúp đỡ gia đình người anh mà
theo Bác và Đảng đã nói là đang sống đói rách,
ở dưới gầm cầu chữ Y).
Còn không biết bao chuyện na ná như
thế đã xảy ra ở Sài Gòn và khắp miền Nam
Việt Nam sau ngày mất nước. Hầu hết
những anh chị em tập kết khi trở về trong
Nam, được thưởng thức bữa cơm "đầm
ấm và đạm bạc" với thân nhân và gia đình,
họ mới thật sự "vỡ lẽ" và
chừng đó mới thật sự thưởng thức
được hương vị hết sức ngọt ngào
nhưng quá chua chát của những giọng điệu tuyên
truyền lẫn kềm kẹp của Bác và Đảng
trong suốt 20 năm ở Bắc Việt.
Ôi! Thật là quá tội nghiệp và
ngỡ ngàng!!!
Tạm
Kết
Có những người
không muốn nhớ đến hay cố tình quên đi ngày
30/4/75. Họ không còn nhớ lý do tại sao họ và gia
đình phải bỏ quê hương chạy ra ngoại
quốc sống tha phương cầu thực. Khi tình
trạng gia đình được ổn định, trong
túi và trong trương mục ngân hàng đã có đô la
gọi là dư dã, khi đã làm chủ được
một vài ba căn nhà, một vài cửa tiệm, hay
một ít bất động sản, khi con cháu ăn
học thành tài đã có công ăn việc làm vững
chắc... họ bỗng quên đi nhãn hiệu "tỵ
nạn chánh trị" của chính mình, hoặc muốn bóc
bỏ đi nhãn hiệu đó một cách vô liêm sỉ.
Họ chạy theo tiếng uyển giọng đờn
của kẻ thù xưa, muốn "xoá bỏ hận thù"
để về "làm ăn" với kẻ đã
từng liệt họ vào thành phần "phản
quốc Mỹ Ngụy". Hay họ muốn "hòa
hợp hòa giãi" với kẻ thù, mon men về tìm
một chỗ đứng nào đó, dù trên là lưỡi
lê dưới là lửa đỏ.... Họ núp dưới
chiêu bài về lo giúp đồng bào nghèo, khổ, v.v.... nhưng
sự thật chỉ là vì chút hư danh hảo huyền,
vì quyền lợi riêng tư....
Họ "cố tình" giả
điếc giả mù, làm ngơ, chớ làm gì họ không
nghe không thấy được những gì bọn cộng
sản xăm lăng Miền Bắc đã làm trước
và trong những ngày mất nước. Họ biết rõ
những gì bọn cầm quyền cộng sản trong 20 năm
qua đã làm cho cả nước Việt Nam phải
chịu đói chịu nghèo chịu dốt, chịu
sống thụt lùi vào thời kỳ đồ đá,
trong lúc các quốc gia khác đang tiến nhanh như trên
mọi lãnh vực, nhất là về kinh tế.
Chúng tôi xin thành tâm cầu
nguyện cho những người nầy bình tâm trở
lại, thấy rõ đâu là chánh đâu là tà, đâu là
liêm sỉ đâu là phản bội, để họ cùng
đi một con đường với dân tộc trong giai
đoạn cần phải nhất tâm tranh đấu để
tiến tới một sự giải trừ bọn mafia
cộng sản lưu manh, hại nước hại dân
hầu đem lại thanh bình, tự do thật sự và
ấm no cho dân tộc Việt Nam chúng ta.
Chủ trương và chính sách
của đảng cộng sản Việt Nam muôn đời
vẫn không sai khác. 30 tháng Tư 1975 đã như vậy,
thì 20 năm sau 1995, hay 30 năm sau 2005, cộng sản
vẫn là cộng sản, nếu cộng sản còn cố
giữ vai trò lãnh đạo đất nước,
chắc chắn là đảng cũng chỉ lo cho quyền
lợi của đảng cộng sản và các cá nhân
trong tập đoàn lãnh đạo mà thôi. Còn tương
lai dân tộc, của đất nước ra sao, chúng ta có
thể n nhìn về quá khứ thì sẽ thấy được
tương lai.
Nếu cộng sản Việt Nam còn
ngoan cố dành mãi độc quyền lãnh đạo đất
nước, chắc chắn họ chỉ muốn biến
đất nước thành "một nhà tù vĩ đại"
kiểu Goulak của Liên Xô cũ. Cộng sản Việt
Nam ôm chặt nắm xương tàn của "bác Hồ
vĩ đại" để thực hiện "mục
tiêu vĩ đại" muôn thuở của người
"cộng sản quốc tế" mà thôi, cho dù
chủ nghĩa cộng sản đã hoàn toàn sụp đổ
từ lâu.
Nhưng chắc chắn là dân
tộc Việt Nam quyết không để cho bọn rợ
Hồ đè đầu kềm kẹp mãi. Bởi vì ông
cha ta đã có câu: "Tức nước phải vỡ
bờ!". Đi ngược lại với lòng dân thì trước
sau gì cũng phải bị diệt vong mà thôi!
Trường Sơn
DHN