Cuộc cải tạo Nông Nghiệp tại miền Bắc - 1
Trích từ Diển Đàn Dân Chủ - Võ Trường Sơn
Mục Lục
Cuộc cải tạo Nông Nghiệp tại miền Bắc
Những Vấn đề căn Bản
Bối cảnh
Chiến lược và sách lược
Những giai đoạn đấu tranh trước 1954
Chính sách thuế nông nghiệp
Giai đoạn đấu tranh chính trị
Đấu tranh giảm tô
Giai đoạn đấu tranh sắt máu sau 1954
Giai đoạn đấu tranh đẫm máu
Phản ứng của nhân dân đưa đến quyết định sửa sai
Cuộc đấu tranh tiếp theo của nhân dân miền Bắc
Mục tiêu của Hợp Tác Hóa Nông Nghiệp
Giai Đoạn Tổ Đổi Công
Giai Đoạn
Hợp Tác Xã Cấp Thấp
Nguyên Tắc Căn Bản
Chế Độ Đóng Góp
Chế Độ Hưởng Thụ
Phản Ứng Của Nông Dân
Xây dựng lưc luợng để xâm chiếm miền Nam
Tổng Biên Chế Quân Đội Miền Bắc
Xây Dựng Các Công Trình Sản Xuất Chiến Lược, Cơ Sở Quân Sựvà Xa lộ Chiến Lược
Xây Dựng Lực Lượng Chính Quy Bắc Việt
Xâm Chiếm Miền Nam
Lời nói đầu:
Những biến động chính trị đang
diễn ra trong nội bộ các nước Cộng sản
là những biến cố lịch sử đánh dấu
một giai đoạn đấu tranh mới của các dân
tộc bị áp bức.
Một số học giả Tây phương quen
giải thích các biến cố trên bằng những
lập luận cho rằng các chế độ Cộng
sản đang chuyển mình trên tiến trình dân chủ hoá
khiến cho các lực lượng đối lập có cơ
hội vùng lên chống đối. Lập luận trên
mới chỉ là "một nửa của sự thật"
(Pseudo-truth), và một nửa của sự thật ở
đây là một sự sai lầm, một sự lẫn
lộn nguyên nhân với hậu quả.
Đúng ra, người ta phải nói rằng các
lực lượng bị áp bức đã vùng lên đấu
tranh và đẩy tập đoàn Cộng sản thống
trị tới chỗ phải nhượng bộ từng bước
một, tạm thời thoả mãn một cách hạn
chế những đòi hỏi dân chủ của nhân dân
bị áp bức và mặc dầu bị bắt buộc
phải nhượng bộ, tập đoàn Cộng sản
thống trị chỉ chịu lùi bước theo chiến
thuật giai đoạn, trong khi đó vẫn luôn luôn tìm
cách quật lại đối phương để giành
lại ưu quyền chuyên chính, bất cứ khi nào chúng
có thể làm được chuyện đó.
Một khía cạnh đặc biệt thứ hai
của các biến động chính trị nói trên làcuộc
đấu tranh của các lực lượng bị
Cộng sản áp bức đều mang tính chất phi quy
ước. Tuy hoàn cảnh đấu tranh của mỗi dân
tộc và trình độ ý thức của mỗi lực lượng
đấu tranh có khác nhau, nhưng bản chất chỉ là
một. Một đặc điểm thứ ba của các
biến động nói trên là trong các cuộc đấu
tranh phi quy ước ngày nay, các chế độ Cộng
sản đang ở thế thụ động, và các
lực lượng quần chúng đấu tranh đang
ở thế chủ động. Nghĩa là các lực lượng
này đang xoáy sâu vào những điểm yếu của
Cộng sản để làm cho chúng càng ngày càng suy
yếu thêm và cuối cùng bị toàn dân lật đổ.
Vấn đề đặt ra ở đây là các thế
lực tài phiệt Tây phương vẫn có khuynh hướng
chỉ nhìn thấy "một nửa của sự
thật", quen lẫn lộn nguyên nhân với hậu
quả. Và như thế, liệu họ có nhảy xổ vào
để cứu nguy và tiếp sức cho các tập đoàn
Cộng sản thống trị phục hồi sức
mạnh để tiếp tục củng cố sự
đàn áp hay không? Đó là điều mà ta sẽ
thảo luận trong một dịp khác.
Trong phạm vi bài này, những biến động chính
trị hiện nay nhắc nhở chúng ta nhớ lại
những cuộc khởi nghĩa tại Ponan, Budapest, vụ
án Hồ Phong ở Trung Quốc, và vụ "Trăm Hoa
Đua Nở" trên đất Bắc cùng thời
với cuộc khởi nghĩa của nông dân ở
Quỳnh Lưu, Nghệ An, cách đây 33 năm. Đó là
những cuộc đấu tranh phi quy ước của các
lực lượng bị áp bức, nhưng, hoàn cảnh
đấu tranh thời đó đã đặt các lực
lượng chống đối ở thế bị động,
cô lập và bị đập tan. Mặt khác, ở
Việt Nam lúc đó, Việt cộng cũng sử
dụng hình thái chiến tranh phi quy ước để
đàn áp, tiêu diệt các lực lượng chống
đối vì lúc đó chúng đang nắm ưu thế
chủ động.
Nội dung của bài nghiên cứu này và loạt bài
nghiên cứu sắp tới nhằm trình bày hình thái
chiến tranh phi quy ước mà Việt cộng đã
sử dụng để củng cố bộ máy thống
trị miền Bắc, mở rộng địa bàn
"ỷ dốc" Miên-Lào trong tiến trình xâm
chiếm miền Nam.
Những chủ đề quan trọng mà chúng ta
sẽ thảo luận trong loạt bài nghiên cứu sắp
tới gồm có:
- Cuộc Cải tạo Nông nghiệp tại Bắc
Việt.
- Cuộc cải tạo công thương nghiệp tư
bản tư doanh.
- Kế hoạch xây dựng cơ sở vật
chất chuẩn bị xâm chiếm miền Nam.
- Mặt trận Lào trong chiến lược xâm
chiếm miền Nam.
- Đoàn hậu cần chiến lược 559 trên
đường mòn Hạ Làọ
- Cuộc chiến tranh không tập tại Bắc
Việt.
Vì khuôn khổ giới hạn của một bài báo,
mỗi chủ đề sẽ được trình bày làm
hai, ba kỳ. Ví dụ, chủ đề "Cuộc
Cải tạo Nông nghiệp tại Bắc Việt"
sẽ được trình bày với những tiết
mục chính sau đây:
- Những vấn đề căn bản của
cuộc Cải tạo Nông nghiệp.
- Bối cảnh cuộc cuộc Cải tạo Nông
nghiệp.
- Chiến lược và sách lược của
Việt cộng trong cuộc cải tạo Nông nghiệp.
- Diễn tiến của cuộc Cải tạo Nông
nghiệp.
- Hậu quả của cuộc Cải tạo Nông
nghiệp.
Trong bài phân tích này chúng ta sẽ lần lượt
điểm qua một cách tổng quát ba tiết mục
đầu tiên nói trên.
Cuộc cải tạo Nông Nghiệp tại miền Bắc
Những Vấn đề căn Bản
Bối cảnh
Chiến lược và sách lược
I. Những Vấn Đề Căn Bản Của Cuộc Cải Tạo Nông Nghiệp
Vào tháng Mười năm 1987, nông dân tại một
số tỉnh thuộc đồng bằng Cửu Long đã
biểu tình chống đối Việt cộng vì
những hành động tham nhũng và cướp giật
ruộng đất do cán bộ Việt cộng chủ xướng
nhân cuộc "cải cách ruộng đất năm
1983".
Ngày 9 tháng 11, 1987, hàng trăm nông dân từ các tỉnh
miền Tây đã tổ chức biểu tình chống chính
quyền Việt cộng ngay tại Sài Gòn. Pháp Tấn Xã
tại Sài Gòn mô tả một tình trạng náo loạn chưa
từng thấy kể từ năm 1975. (Thật ra, kể
từ khi Việt cộng trục xuất các phóng viên báo
chí và truyền hình ra khỏi Việt Nam vào năm 1976 thì
truyền thông Tây phương hầu như mù tịt
về tình hình Việt Nam. Mãi cho tới 1986, 1987, khi
Nguyễn Văn Linh cho phép báo chí, truyền hình Tây phương
trở lại Việt Nam trong mục đích ve vãn dư
luận quốc tế, thì báo chí mới bắt đầu
nhìn thấy một số hiện tượng bề ngoài
với một mức độ hạn chế).
Những biến cố nói trên tương đối ôn hoà nếu ta so sánh với vụ Khởi nghĩa của Nông dân Quỳnh Lưu bị đàn áp đẫm máu vào năm 1956, vụ thanh niên Nam Bộ tập kết đốt phá bót Cảnh sát bờ hồ Hà Nội, vụ đảng viên Việt cộng tìm nhau để chém giết trả thù nhân vụ Cải tạo Nông nghiệp đưa đến biện pháp "sửa sai". Lý do chính khiến có sự khác biệt về mức độ bạo động là vì hoàn cảnh chính trị đã khác nhiều; năm 1983, bạo quyền Việt cộng đã cực kỳ suy yếu, ruỗng nát so với năm 1956, và nhân dân ta ở trong Nam đã được tổ chức và hướng dẫn để đề kháng một cách hữu hiệu hơn thời gian 30 năm trước. Do đó, Việt cộng đã không dám thực hiện các biện pháp mạnh tay trong chính sách ruộng đất. Mặc dầu hai cuộc Cải cách Ruộng đất có khác nhau ở mức độ sắt máu; nhưng, những vấn đề căn bản của cả hai cuộc Cải cách Ruộng đất của Việt cộng chỉ là một: Đó là các vấn đề Bản Chất, Mục Tiêu và Hậu Quả.
1. Bản Chất Của Cuộc Cải Tạo Nông
Nghiệp
Quan niệm Cải cách Ruộng đất không phải
là quan niệm mới mẻ. Montesquieu, trong tác phẩm
"Espuis des Lois" năm 1748, có viết rằng: "Trong
một nền dân chủ tốt, chia đều đất
đai chưa đủ; cần phải chia nhỏ
ruộng đất như người La Mã đã làm"
(xem tác phẩm "Espuis des Lois", quyển V, chương
VI). Trong các chế độ dân chủ, bản chất
của Cải cách Ruộng đất là hữu sản hoá
dân nghèo để giúp họ có cơ hội phát triển
và xây dựng đời sống kinh tế bắt đầu
từ mảnh đất mà họ làm chủ, dù chỉ là
một mảnh đất nhỏ.
Trong các chế độ Cộng sản, bản chất của Cải cách Ruộng đất là đảo lộn toàn bộ tổ chức xã hội bằng cách phế bỏ quyền tư hữu đối với tất cả ruộng, đất, vườn, ao, hoa màu, trâu bò và dụng cụ sản xuất như cày, bừa, cuốc, xẻng, cối xay lúa, cối giã gạo, v.v.... Nói theo ngôn ngữ Việt cộng, đó là tiến hành cuộc Cách Mạng Quan Hệ Sản Xuất trong đó có việc thay đổi quyền làm chủ đất đai, quyền làm chủ tư liệu sản xuất, và thay đổi quan hệ giữa người với người (tức là tương quan chủ - thợ). Có lẽ sự thay đổi tương quan chủ - thợ có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất đối với số phận của tất cả mọi nông dân từ bần nông đến chủ đất, vì nó biến họ vĩnh viễn thành những người thợ vô sản phục vụ cho chủ nhân ông Cộng sản, trong một tương quan na ná hoặc tệ hơn một nông nô dưới chế độ phong kiến. Một hệ luận quan trọng của việc phế bỏ quyền tư hữu là sự tập trung đất đai vào tay nhà nước trong chế độ Cộng sản, thay vì chia nhỏ đất đai như trong một chế độ dân chủ. Điều này không phải là điều tình cờ phù hợp với mục tiêu của Cải cách Ruộng đất mà ta đề cập dưới đây.
2. Mục Tiêu Của Cuộc Cải Tạo Nông
Nghiệp
Mục tiêu tối hậu của việc phế bỏ
quyền tư hữu đất đai là để giành
giật khả năng và quyền lực chính trị
khỏi tay nông dân, và tập trung quyền lực chính
trị đó vào tay chế độ chuyên chính vô sản.
Những người thợ và trí thức vô sản
bị mất hết quyền lực chính trị vì họ
bị khống chế bởi tên chủ Việt cộng
qua hệ thống hộ khẩu và chế độ bình công
chấm điểm. Họ chỉ được đủ
ăn tới một mức... lúc nào cũng còn đói,
nếu họ tuân theo những quy luật do "tên chủ"
Việt cộng đề ra. Trong tay họ không có tài
sản, không có tiền, không có vũ khí; họ bị cô
lập bởi hệ thống công an, bởi thế; về
phương diện quyền lực chính trị, mỗi nông
dân là một con số không trong chế độ Cộng
sản. Trong một chế độ dân chủ, một nông
dân dù nghèo rớt cũng còn có một chút vốn kinh
tế vì họ còn làm chủ được tấm thân
của họ, nghĩa là họ còn có một chút quyền
lực chính trị. Đem gom góp hàng triệu những
quyền lực chính trị nho nhỏ đó, người
ta có thể tạo nên một thế lực tương
đối lớn để tự bênh vực mình.
Trong chế độ Cộng sản, nếu đem gom góp một triệu con số không (của quyền lực chính trị của mỗi nông dân), ta cũng vẫn chỉ được một con số không thiệt to. Hiểu được như thế, ta hiểu được hậu quả của cuộc cải cách ruộng đất đối với việc củng cố bộ máy đàn áp kềm kẹp của Việt cộng ở miền Bắc.
3. Hậu Quả Ngắn Hạn Của Cuộc Cải
Tạo Nông Nghiệp
Qua sự tập trung đất đai, phương tiện sản xuất và đoàn ngũ hoá nông dân thành giai cấp nông nô sau cuộc Cải tạo Nông nghiệp, Việt cộng hoàn toàn nắm hết tài nguyên, lương thực, khởi sự xây dựng các nông trường quốc doanh, chuẩn bị đạo quân xâm lược Lào và miền Nam Việt Nam (Việt cộng gọi là lấy lương thực phục vụ chiến trường "C" và "B"). Hậu quả trước mắt của cuộc Cải tạo Nông nghiệp là giúp Việt cộng xây dựng cơ sở vật chất để tiến hành chiến tranh. Hậu quả pháp lý của cuộc Cải tạo Nông nghiệp là việc định chế hoá các cơ cấu quyền lực địa phương để tiến hành đấu tranh phi quy ước trong nội bộ chống lại nhân dân miền Bắc. Nói một cách rõ hơn, các hợp tác xã nông nghiệp tại địa phương chính thức trở thành các cơ sở ban phát quyền lợi, thực thi chính sách và Bí thư Hợp tác xã, Bí thư Chi bộ xã là những kẻ có toàn quyền sinh sát tại nông thôn đã biến thành các cường hào ác bá dưới triều đại xã hội chủ nghĩa của "Rợ Hồ". Tóm lại, những hậu quả ngắn hạn và trước mắt là những điều có lợi cho việc củng cố quyền lực chính trị của giai cấp thống trị Cộng sản. Nhưng, hậu quả về lâu về dài là một vấn đề khác.
4. Hậu Quả Dài Hạn Của Cải Tạo Nông
Nghiệp
Là một vấn đề mà Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và cấp đầu lãnh các Đảng Cộng sản không nhìn thấy, hoặc vì ảo tưởng trên mây nên đã nhìn sai và tiên đoán sai. Đó là những vấn đề liên quan đến năng suất lao động, năng suất đất đai, cơ cấu sản xuất và thị trường, đưa đến những bế tắc trong nền kinh tế của mọi quốc gia Cộng sản. Vì chủ quan nghĩ rằng quyền lực chính trị có thể giải quyết và "cả vú lấp miệng em" đối với mọi bài toán trong xã hội, các cấp đầu lãnh Cộng sản, và Việt cộng nói riêng, đã bị vỡ mặt khi những bế tắc kinh tế vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của Đảng và các cơ cấu quyền lực chính trị địa phương biến thành các "sứ quân" tự chuyên, tự quản nền kinh tế quốc gia. Nhưng, đây là những chi tiết mà ta sẽ thảo luận khi đi sâu vào các bài nghiên cứu sắp tới.
Một câu hỏi được đặt ra ở đây là cuộc Cải tạo Nông nghiệp tại Bắc Việt đã diễn ra trong hoàn cảnh nào? Để trả lời câu hỏi này, loạt bài nghiên cứu sắp tới sẽ trình bày về bối cảnh Địa lý, Kinh tế, Xã hội và Chính trị của giai đoạn 1949-1957 được tóm lược trong Phần II dưới đây.
II. Bối Cảnh Của Cuộc Cải Tạo Nông Nghiệp
Cuộc Cải tạo Nông nghiệp tại miền
Bắc có thể được coi như bắt đầu
kể từ Sắc luật Giảm tô số 78/SL ngày 14 tháng
7 năm 1949 và chính sách thuế nông nghiệp của chính
quyền kháng chiến nằm trong toàn bộ của chính sách
thuế khoá gồm cả thuế Công-Thương
nghiệp, sát sinh, Lâm-Thổ sản, xuất nhập
cảng, v.v... ra đời từ ngày 1 tháng 7 năm 1951 do
Sắc luật số 42/SL của Hồ Chí Minh.
Chính sách thuế Nông nghiệp là phát súng khởi đầu
cho các chiến dịch "phân mảnh định
hạng" các loại ruộng, "bình sản lượng",
"bình diện tích" mỗi mảnh đất để
làm căn bản tính thuế, sau đó tiến lên
chiến dịch "chống phản động",
"đấu tranh giảm tô" kéo dài tới năm
1954 chỉ được tạm chấm dứt khi
chiến trường Điện Biên Phủ bắt đầu
nghiêm trọng và đưa đến Hiệp định
Genève. Sau đó, Việt cộng miền Bắc đã
tạm ngưng cuộc đấu tranh Cải cách Ruộng
đất tới cuối năm 1955, đầu năm 1956,
vì ba lý do:
- Việt cộng còn bận lo đón tiếp bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc.
- Việt cộng còn phải đối phó với phong trào di cư và cuộc đàn áp dân Ba Làng v.v....
- Việt cộng còn phải che dấu thủ đoạn
tàn bạo để trấn an lòng dân, che mắt các quan sát
viên quốc tế, và ổn định tình hình nội
bộ.
Giai đoạn thứ hai của đấu tranh Cải cách
Ruộng đất bắt đầu từ cuối năm
1955 đầu 1956 trong đợt phóng tay phát động
quần chúng đấu tranh Cải cách Ruộng đất
và lên đến mức độ tàn bạo nhất trong
đợt cải cách Điện Biên Phủ. Để
cho cuộc Cải cách Ruộng đất được
nhanh chóng và đồng đều, tại những vùng
mới tiếp thu và đồng bằng sông Nhị Hà,
Việt cộng đã tiến hành hai cuộc "đấu
tranh giảm tô" và "đấu tranh Cải cách
Ruộng đất" vào một lần. Thể thức
đấu tranh cải cách ruộng đất cũng
giống như đấu tranh giảm tô, chỉ kháng
ở mức độ tàn bạo gia tăng và con số
nạn nhân cũng gia tăng do sự "càn đi, quét
lại" và "tích tỷ lệ" mà ta sẽ
được giải thích trong những bài phân tích
sắp tới.
Điều đáng chú ý là chính sách Cải cách
Ruộng đất ở miền Bắc đã rập khuôn
chính sách Cải cách Ruộng đất của Trung
Quốc mà không có sự chế biến cho hợp với
hoàn cảnh và tình trạng nông nghiệp ở nước
ta.
Các cán bộ Việt cộng có nhiệm vụ trong
cuộc Cải cách Ruộng đất đã học
tập kinh nghiệm của cán bộ Cộng sản Trung
Quốc trong cuộc Cải cách Ruộng đất ở
Hồ Nam, quê hương của Mao Trạch Đông.
Tại Trung Quốc, gia cấp địa chủ điển
hình còn mang nặng tính chất phong kiến lãnh chúa. Ngoài
đồng ruộng thẳng cánh cò bay, một địa
chủ điển hình còn có lâu đài, dinh cơ vàquân lính
riêng để bảo vệ sản nghiệp cũng như
để đàn áp, bóc lột nhân dân. Trong cuộc
Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc,
một số lớn những người bị gán là
"địa chủ đại gian đại ác" thường
chỉ có mấy mẫu ruộng hoặc ít hơn, nhưng
thuộc thành phần có uy tín ở nông thôn, và có thể
trở thành chống đối Đảng và Nhà nước.
Vậy, yếu tố giành giật độc quyền chính
trị là yếu tố quan trọng nhất của Cải
cách Ruộng đất, và do đó, Cải cách Ruộng
đất là cơ hội ngàn năm một thuở để
Việt cộng đánh quỵ cả thế lực tinh
thần của Giáo hội Công giáo. Nhiều vị Linh
mục Công giáo cũng bị bắt, bị tra khảo và
bị giết, trong đó có Cha Thanh, đã từng là Linh
mục giảng huấn tại Tiểu Chủng viện Ba
Làng năm 1949-1950, một vị chân tu, hiền lành và
đạo đức cũng bị sát hại một cách
dã man trong tù.
Một cuộc cải cách tàn bạo, dã man nhất trong lịch sử Việt Nam từ hồi lập quốc do chính người Việt Nam để đàn áp chính người Việt Nam, tại sao có thể thành công được? Câu trả lời nằm trong chiến lược và sách lược của Việt cộng trong Cải cách Ruộng đất.
III. Chiến Lược Và Sách Lược Cải Cách Ruộng Đất
Những cuộc nghiên cứu qua các nhân chứng của
cuộc cải cách ruộng đất đã cho người
ta một tầm nhìn sâu và rộng đối với quan
niệm chiến lược của Việt cộng.
Một số cán binh Việt cộng xâm nhập từ
Bắc vào Nam và sau đó ra hồi chánh đã cung cấp
những dữ kiện vừa phong phú, vừa chi tiết và
cụ thể giúp ta nhìn thấy những đường
đi, nước bước có lớp lang của Việt
cộng, những chuẩn bị rất công phu, những mưu
mô lừa bịp tinh vi, che mắt ngay cả những đảng
viên Việt cộng từng vào sinh ra tử trong kháng
chiến.
Hồi chánh viên Nguyễn Văn Thân, Kỹ sư
Thuỷ Lợi, thuộc Bộ Thuỷ Lợi Bắc
Việt, trước kia đã tham gia cải cách ruộng
đất tại Xóm Chuối tỉnh Ninh Bình, tóm tắt
quan niệm chiến lược của Việt cộng như
sau:
"Theo tài liệu của Đại hội Đảng
chuẩn bị cho cải cách ruộng đất thì
việc đấu tranh giai cấp giữa địa
chủ và nông dân đã được đặt ra ngay
từ khi thành lập Đảng Cộng Sản Việt
Nam. Họ nhận xét rằng từ 90% đến 95% dân chúng
Việt Nam là nông gia chuyên nghiệp, và trong số này thì
chỉ có khoảng 5% là địa chủ phú nông, còn
đa số đều là kẻ làm thuê, làm mướn, tá
canh, tá điền; do đó, nếu muốn làm cách
mạng xã hội, họ phải lôi cuốn được
khối đa số đó, phải thỏa mãn khối
đa số đó bằng quyền lợi để sau này
nắm chặt khối đa số đó bằng sắt máu...".
Lời tiết lộ ở trên chẳng những tóm
tắt quan niệm chiến lược mà còn phát hiện
cả sách lược của Việt cộng. Như ta
đã từng định nghĩa:
Chiến lược là toàn bộ một kế hoạch
nhằm vận dụng sức mạnh căn bản để
đánh trúng địch bằng những đòn chí tử
cho tới khi nó gục ngã.
Và sách lược cũng là toàn bộ một kế
hoạch như chiến lược, duy có một điểm
khác là để đạt mục tiêu, toàn bộ kế
hoạch sử dụng những mưu kế để
lừa địch, dụ khị địch và qua mặt
địch.
Khi quan niệm rằng đa số dân Việt Nam là nông
dân và đa số nông dân là khối người nghèo và
cần phải lôi cuốn được đa số
đó, Việt cộng đã nói lên được khía
cạnh chiến lược của vấn đề. Sau
hết, khi chủ trương phải thỏa mãn khối
đa số đó bằng quyền lợi để sau này
nắm chặt khối đa số đó bằng sắt máu,
Việt cộng nói lên khía cạnh sách lược tức
là phương án lừa bịp và dụ khị, qua
mặt địch. Lừa bịp, dụ khị và qua
mặt địch như thế nào thì đó là những
chi tiết kế hoạch sẽ được trình bày
trong nhiều bài sắp tới....
(Phần kế…)