Cuộc cải tạo Nông Nghiệp tại
miền Bắc - 2
Trich tu Dan Chu - Võ Trường Sơn
Những giai đoạn đấu tranh trước 1954
Chính sách thuế nông nghiệp
Giai đoạn đấu tranh chính trị
Đấu tranh giảm tô
Cuộc Cải Tạo Nông
Nghiệp Tại Miền Bắc: Những Giai Đoạn
"Đấu Tranh" Trước 1954
Đại Cương:
Trong kế hoạch nắm vững toàn
bộ nông thôn miền Bắc, Cộng sản phải
tiến qua nhiều giai đoạn, theo một kỹ
thuật tinh vi bắt đầu bằng cuộc Cải cách
Ruộng đất được Đảng mệnh danh
là "một cuộc cải cách long trời lở đất"
mà hậu quả là khiến cho người dân trở thành
một đoàn người khiếp sợ Đảng,
đến độ bảo sao cắm đầu nghe
vậy, không dám oán than ngay cả với người thân
trong gia đình.
Nhưng, bắt đầu một cách
rất nhẹ tay, năm 1951, Cộng sản Việt Nam
lập ra một thứ thuế nông nghiệp đánh vào
tất cả những ai có ruộng, vườn trồng
trọt được hoa màu. Đến năm 1952-1953 là
giai đoạn áp dụng chính sách giảm tô mà thí điểm
là khu Tư như Hoàng Hoá, Phú Thiện và vùng Trung du
Bắc Việt như Bắc Giang, Phú Thọ, v.v... Chính sách
giảm tô đã làm cho hàng ngũ địa chủ kinh
sợ, xuống tinh thần. Các tầng lớp phú nông,
trung nông lo lắng, và sốt sắng tham gia cách mạng
để cầu an vì sợ bị xếp hạng vào thành
phần địa chủ. Trái lại, các tầng lớp
bần nông, cố nông thì sung sướng, thỏa mãn.
Đến năm 1954, chính sách được áp dụng
ở Nghệ An và Trung du Bắc Việt, mặc dầu
ở mức tương đối tàn bạo, nhưng so
với năm 1956 hãy còn được coi là... ôn hòa.
Từ 1954 đến 1955, chính sách
Cải cách Ruộng đất tạm ngưng tiến hành
vì Việt cộng đặt nặng vấn đề
chống phong trào di cư, tranh thủ quần chúng để
giữ dân ở lại.
Tới giữa năm 1955, cuộc di cư
hoàn tất, việc phân chia lãnh thổ đã rõ ràng, chính
quyền Cộng sản bắt đầu áp dụng chính
sách Cải cách Ruộng đất trên toàn lãnh thổ
Bắc Việt. Việc áp dụng được thi hành
theo từng đợt, mỗi đợt từ 1 tới 3
tháng với khẩu hiệu: "dựa vào bần cố
nông, đoàn kết trung nông, liên hiệp phú nông, đánh
đổ toàn bộ giai cấp địa chủ".
Trong phạm vi bài này, ta sẽ nghiên
cứu Thời Kỳ Đấu Tranh Cải Cách Ruộng
Đất trước năm 1954, và bài kế tiếp
sẽ nghiên cứu chi tiết thời kỳ sau 1954....
--------------------------------------------------------------------------------
Dựa theo kinh nghiệm đấu tranh
tại Hoa Lục, cuộc Cải cách Ruộng đất
tại Bắc Việt lần lượt trải qua các
giai đoạn căn bản sau đây:
- Giai đoạn thi hành chính sách thuế nông nghiệp.
- Giai đoạn phóng tay phát động quần chúng đấu tranh chống phản động (đấu tranh chính trị).
- Giai đoạn phóng tay phát động quần chúng đấu tranh giảm tô giảm tức.
- Giai đoạn phóng tay phát động
quần chúng đấu tranh Cải cách Ruộng đất.
Nếu hiểu như trên thì, trong Kế
hoạch Cải cách Ruộng đất, hai giai đoạn
đầu là phần chìm hay là phần chuẩn bị,
giai đoạn đấu tranh giảm tô là phần làm
thử để rút tỉa kinh nghiệm, và giai đoạn
sau chót là phần nổi hay là phần thực hiện.
Để nắm vững toàn bộ Kế hoạch Cải
cách Ruộng đất của Cộng sản Việt Nam,
ta hãy quay trở lại giai đoạn 1951, khi chính sách
thuế nông nghiệp mới được ban hành.
Thời Kỳ Trước Hiệp Định Genève 1954
I. Chính sách Thuế Nông Nghiệp
Như đã nói trong bài trước, chính
sách thuế nông nghiệp của Chính quyền Kháng
chiến nằm trong toàn bộ chính sách thuế khoá
gồm cả thuế Công nghiệp, Thương nghiệp,
Sát sinh, Lâm sản, Thổ sản, Xuất nhập cảng
v.v... ra đời từ ngày 1 tháng 7 năm 1951 do sắc
lệnh số 40/SL. Nhưng, trong tất cả mọi
thứ thuế thì thuế Nông nghiệp là nguồn
lợi căn bản thay thế các loại thuế có
từ trước như thuế ruộng đất, đảm
phụ Quốc phòng, công phiếu Kháng chiến, ủng
hộ chiến sĩ mùa Đông v.v.... Thuế Nông
nghiệp nhằm cung ứng một số lượng lương
thực và tài chánh lớn lao cho Việt cộng trong
nỗ lực chiến tranh ngày càng cấp bách và nặng
nề.
Hai nữa là, một phần của chính sách
Cải cách Ruộng đất, thuế Nông nghiệp là
một đòn phủ đầu để đánh quỵ
những thành phần có nhiều ruộng đất, mà chưa
cần dùng tới bạo lực. Một số địa
chủ không chịu nổi thuế cao quá, phải tự
động hiến ruộng đất cho Đảng và Nhà
nước (lúc đó còn mệnh danh là "Chính quyền
Kháng chiến"). Một số khác, nếu không hiến
đất cho Đảng và Nhà nước, dĩ nhiên
sẽ không đủ sức nộp thuế theo đúng
sự đòi hỏi của Nhà nước. Như thế
là chính họ đã gián tiếp kết bản án cho mình
trong giai đoạn sắp tới.
Sau hết, trong việc thi hành chính sách
thuế Nông nghiệp, Cộng sản để cho dân bình
nghị lẫn nhau, nghĩa là người nọ ấn
định mức lợi tức của người kia
để cán bộ dựa vào đó bổ thuế theo
tỷ lệ thuế của chính quyền. Khi để cho
dân chúng bình nghị lẫn nhau, Cộng sản đã
tự đề cao là chúng theo chính sách dân chủ, nhưng
thực ra, dụng ý của Đảng là mượn tay
người để đánh người, gây mầm
đấu tranh căn bản theo chiến thuật của
Cộng sản là "lấy mâu thuẫn diệt mâu
thuẫn".
Theo tài liệu chính thức, được
phổ biến trên tờ Cứu Quốc số 2080 ngày
6-7-1952, thì tất cả những nông dân nào có mức
lợi tức trung bình từ 71Kg gạo một năm
trở lên đều phải nộp thuế. Thuế Nông
nghiệp là thứ thuế lũy tiến, lợi tức càng
lớn thì tỷ lệ thuế càng cao.
Phân Hạng Thuế Nông Nghiệp
Phân hạng Phân hạng Lợi tức trung bình
mỗi đầu người Tỷ lệ thuế
1 từ 71Kg tới 95Kg 5%
2 96Kg - 115Kg 6%
3 116Kg - 135Kg 7%
4 136Kg - 155Kg 8%
5 156Kg - 175Kg 9%
6 176Kg - 205Kg 10%
7 206Kg - 235Kg 11%
8 236Kg - 265Kg 12%
9 266Kg - 295Kg 13%
10 296Kg - 325Kg 14%
11 326Kg - 355Kg 15%
12 356Kg - 385Kg 16%
13 386Kg - 425Kg 17%
14 426Kg - 465Kg 18%
15 466Kg - 505Kg 19%
16 506Kg - 545Kg 20%
17 546Kg - 585Kg 21%
18 586Kg - 625Kg 22%
19 626Kg - 665Kg 23%
20 666Kg - 705Kg 24%
21 706Kg - 775Kg 25%
22 776Kg - 805Kg 26%
23 806Kg - 855Kg 27%
24 856Kg - 905Kg 28%
25 906Kg - 955Kg 29%
26 956Kg - 1005Kg 30%
27 1006Kg - 1055Kg 31%
28 1056Kg - 1105Kg 32%
29 1106Kg - 1155Kg 33%
30 1156Kg - 1215Kg 34%
31 1216Kg - 1275Kg 35%
32 1276Kg - 1335Kg 36%
33 1336Kg - 1395Kg 37%
34 1396Kg - 1455Kg 38%
35 1456Kg - 1515Kg 39%
36 1516Kg - 1575Kg 40%
37 1576Kg - 1635Kg 41%
38 1636Kg - 1695Kg 42%
39 1696Kg - 1755Kg 43%
40 1756Kg - 1815Kg 44%
41 1816Kg trở lên 45%
Theo bảng phân hạng thuế này thì, trên
lý thuyết, tỷ lệ thuế tối đa là 45%
mức lợi tức trung bình, nhưng trên thực tế,
qua kỹ thuật "bình nghị", chính quyền có
thể khiến một người khá giả phải
đóng thuế tới... 100% lợi tức. Ví dụ:
Mức lợi tức trung bình của nông dân A là 1800Kg, chính
quyền có thể vận động để dân "bình
nghị", gán cho nông dân A mức lợi tức là...
4000Kg và khi phải đóng theo tỷ lệ 45% thành 4000 X
45/100 = 1800Kg, thế là nông dân A bị phá sản, vì làm
được bao nhiêu phải nộp thuế hết.
Trước khi bình nghị, cán bộ Đảng
lãnh đạo việc "phân mảnh định
hạng" tức là xếp hạng từng mảnh
ruộng tùy theo đất cao, thấp, tốt, xấu theo
thứ tự A, B, C v.v....
Kỹ thuật bình nghị gồm có "bình
sản lượng" và "bình diện tích". Khi
đã "phân mảnh định hạng" xong, cán
bộ thuế triệu tập nông dân, gồm tá điền
và chủ điền, để "bình sản lượng",
tức là ấn định mức năng suất của
một mảnh ruộng. Điểm cốt yếu của
kỹ thuật "bình sản lượng" là Đảng
dùng những phần tử cốt cán là các tá điền
có đảng tịch, hoặc có cảm tình với Đảng
để "bình sản lượng".
Những người này xác nhận
mảnh ruộng do mình canh tác có một sản lượng
thật cao. Dĩ nhiên, người chủ điền hay
những người có mảnh ruộng kế cận, cùng
một hạng, phải chấp nhận mà không có cách gì
thanh minh; bởi vì, trên danh nghĩa, người tá điền
là người trực tiếp cày cấy trên mảnh
ruộng và biết được năng suất của
mảnh ruộng. Nếu người chủ đất khai
báo một năng suất thấp, mọi người
dễ dàng tin rằng chủ đất đã khai gian để
trốn thuế. "Bình diện tích" nghĩa là xác
định lại diện tích của từng thửa
ruộng. Mặc dù trong trích lục của mỗi thửa
ruộng đều có ghi diện tích đó, nhưng cán
bộ thuế không chấp nhận, viện cớ rằng
nhân viên của Chính phủ Bảo hộ thời xưa
đã ăn tiền của chủ điền mà bớt
diện tích để bớt thuế.
Dĩ nhiên, khi "bình diện tích" thì
bao giờ thửa ruộng cũng bị gán cho một
diện tích lớn hơn, mặc dù không có đo lường
chính xác. Sau khi đã "bình sản lượng" và
"bình diện tích" thì tổng số thu hoạch
của một thửa ruộng chính là sản lượng
nhân với diện tích. Ví dụ: Một thửa ruộng
có diện tích 3 mẫu và có sản lượng 2 tấn
mỗi mẫu, thì tổng số thu hoạch của
thửa ruộng là 3 mẫu X 2tấn/mẫu = 6 tấn
mỗi năm.
Giai đoạn áp dụng chính sách thuế
Nông nghiệp đã hoàn toàn thành công, với kết
quả là chính quyền vơ vét được một
số lượng tài lực lớn lao, đồng
thời gây nên được mầm mống mâu thuẫn
"bình nghị".
Tới đây, ta cần ôn lại một
số danh từ và lề lối làm ăn sinh sống
của nông dân trong giai đoạn Cải cách Ruộng
đất của Việt cộng. Những danh từ như
tá điền, điền tốt, bần cố nông,
bần nông, trung nông, phú nông, địa chủ là
những danh từ chỉ các loại nông dân chuyên
nghiệp tùy theo mức độ tài sản mà họ có.
Một bần nông, theo định nghĩa
của Việt cộng, là một nông dân nghèo không có
đất đai để cày cấy, hoặc chỉ có
mấy sào ruộng là tối đa. Một bần cố nông
là một người suốt đời chỉ là một
nông dân nghèo (vô sản). Một trung nông, theo định
nghĩa của Việt cộng, là một người có
một vài mẫu ruộng trở lại. Một phú nông là
người có cả chục mẫu ruộng trở lên.
Một trung nông hay phú nông có thể là một địa
chủ nếu người đó không trực tiếp canh
tác mà thuê người khác làm cho mình. Một điền
tốt là một nông dân đi làm công cho một địa
chủ và được trả công như một người
thợ. Một tá điền là một nông dân mướn
đất của địa chủ với điều
kiện phải trả một mức lời nào đó cho
địa chủ, theo từng mùa canh tác. Số lời
đó được gọi là địa tô và lối làm
ăn như thế gọi là "tá canh" hay "làm
rẽ". Số lời (địa tô) chia cho chủ
đất có thể dưới hình thức tiền
bạc hoặc hoa màu; ví dụ như trong giai thoại ông
Trạng Quỳnh cấy rẽ đất của Bà Chúa (có
lẽ thời Vua Lê, Chúa Trịnh). Những nông dân
trực tiếp canh tác đất của mình thì gọi là
"trực canh".
Trong thời kỳ chiến tranh Việt-Pháp,
một số đông nông dân bỏ vùng mất an ninh để
về Tề, và Việt Minh đã khuyến khích những
người khác chiếm hữu đất đai bỏ
lại để canh tác. Tình trạng này được
gọi là "chiếm canh", một vấn đề
tế nhị về chính trị, đã được chính
quyền Quốc gia dưới chế độ Bảo
Đại giải quyết bằng cách chấp nhận cho
những người chiếm canh được hưởng
toàn bộ hoa lợi do họ làm ra, tuy nhiên quyền
sở hữu đối với ruộng đất vẫn
thuộc chủ đất nếu họ trở về canh
tác (Thông điệp đầu Xuân Ân lịch 1951 của
Quốc Trưởng Bảo Đại).
Vấn đề định nghĩa các thành
phần bần nông, trung nông, phú nông và địa chủ
là vấn đề rất quan trọng đối với
Việt cộng trong việc ngầm xác định ai là
đối tượng cần liên hiệp và ai là đối
tượng cần tiêu diệt trong giai đoạn đấu
tranh chính trị sắp tới. Gọi là ngầm xác định
vì, trong giai đoạn "Thuế Nông Nghiệp",
Việt cộng chưa công khai hoá chủ trương tiêu
diệt địa chủ mà chỉ nhắm vào một
số nạn nhân có tính cách điển hình, và "tội
danh" của họ dựa trên "căn bản pháp lý"
của Thuế Nông Nghiệp, chứ không phải trên căn
bản thành phần giai cấp.
II. Giai Đoạn Đấu Tranh Chính Trị
Như đã nói trong giai đoạn thi hành
Thuế Nông Nghiệp, Việt cộng đã dùng đảng
viên xúi giục một số nông dân, nhất là bần nông
làm tá điền, gán cho những thửa ruộng mà
họ cày cấy có một năng suất rất cao,
khiến cho người chủ đất phải trả
một số thuế nhiều khi tới 100% hoặc trên
100% số thu hoạch.
Người chủ đất nạn nhân
chỉ có hai sự lựa chọn, hoặc chịu đầu
hàng bằng cách hiến đất cho Đảng và Nhà nước
(lúc đó còn mệnh danh là "Chính quyền Kháng
chiến"), hoặc ỳ ra đấy vì không đủ
sức nộp thuế theo đúng sự đòi hỏi
của Chính sách Thuế Nông nghiệp. Bằng cách thứ
hai, họ đã tự kết bản án cho mình trong Giai
đoạn Đấu tranh Chính trị mà Việt cộng
gọi là "phát động quần chúng đấu tranh
chống phản động".
Trong giai đoạn "phát động
quần chúng đấu tranh chống phản động",
Đảng Cộng sản nhắm vào ba mục đích chính
yếu.
Mục đích thứ nhất là Đảng
dùng bạo lực của quần chúng để đánh
quỵ bớt một số phần tử lừng
khừng chống đối nguy hiểm, trong đó có
một số địa chủ, nhưng Đảng chưa
để lộ kế hoạch đấu tranh giai cấp
hạ địa chủ. Tất cả những phần
tử bất mãn với chính sách của Đảng,
nhất là chính sách Nông nghiệp đều bị quy cho
tội "phản động", "thông với
giặc".
Mục đích thứ hai là Đảng
chuẩn bị kỹ thuật đấu tranh bạo
lực, luyện tập cho cán bộ quen với các kỹ
thuật xâm nhập. khai thác mâu thuẫn, đấu tranh
bạo động dành cho cuộc Cải cách Ruộng
đất.
Mục đích thứ ba là Đảng
muốn vơ vét dân công và tân binh, đồng thời làm
áp lực thu thuế Nông nghiệp. Đảng đã đạt
được mục đích này vì nhiều người
bở vía trước cuộc đấu tranh bạo
lực đã xung phong đi dân công hoặc đi tân binh,
giúp Đảng giải quyết được nhu cầu
cấp bách của chiến tranh.
Cuộc "phát động quần chúng
đấu tranh chống phản động" đã
lấy đề tài Thuế Nông nghiệp và Đảng
muốn nhóm họp Đại hội Nông dân để nêu
câu hỏi: "Tại sao có người chưa thanh toán
thuế?".
Anh Nguyễn Văn Thân, một hồi chánh
viên, đã kể lại một cách tóm lược
nội dung một buổi Đại hội Nông dân như
sau:
"Chủ tọa của buổi họp là những phần tử nông dân cốt cán, nghĩa là đảng viên hoặc cảm tình viên, và họ đã nắm trong tay một danh sách những phần tử cần phải triệt hạ. Khi nêu câu hỏi về việc thiếu thuế Nông nghiệp, chủ tọa đoàn kêu tên một người thiếu thuế và ra lệnh du kích trói nạn nhân lại, treo lên, rồi dùng cực hình tra tấn, đánh đập, mớm cung để nạn nhân khai tội "chủ mưu xúi giục" cho những người có tên trong danh sách có sẵn, tức là sổ đen của Đảng. Nhờ kỹ thuật này, Đảng đã bắt đầu bằng một người thiếu thuế Nông nghiệp mà kết tội những phần tử đối lập chính trị nằm trong sổ đen, không nhất thiết phải là những người thiếu thuế. Và, tất cả những tội nhân, sau khi bị đánh đập tra tấn theo kỹ thuật mớm cung, lần lượt từ người này chuyền lan tội lỗi sang người khác, họ bị giam giữ để chờ ngày ra Tòa án Quân sự Tỉnh".
Tóm lại, một nông dân thiếu thuế
Nông nghiệp được dùng làm đầu nối
để triệt hạ những kẻ đối lập
bị Việt cộng mệnh danh là "việt gian",
"phản động" hay "theo Tây". Đó là
điểm mấu chốt của phong trào "phát động
quần chúng đấu tranh chống phản động".
Cuộc "đấu tranh chống
phản động" được phát động vào
khoảng cuối năm 1952, đầu năm 1953, đã làm
nông thôn kinh hoàng nghẹt thở. Và kế tiếp theo
đó, Đảng cho phát động "đấu tranh
giảm tô" vào khoảng tháng 4 năm 1953.
--------------------------------------------------------------------------------
III. Đấu Tranh Giảm Tô
Cuộc "phóng tay phát động
quần chúng đấu tranh giảm tô giảm tức"
là cuộc thí nghiệm thực sự của kỹ
thuật Cải cách Ruộng đất theo phương pháp
Cộng sản.
Để phát động đấu tranh,
Đảng tổ chức những "Đội đấu
tố", gồm những cán bộ đã được
Trung Cộng huấn luyện, và gửi họ xâm nhập
vào làng. Những "Đội đấu tố", này
về sau trở thành các "Đội Cải cách
Ruộng đất", đã giả dạng làm nông dân
và được các Uỷ ban Hành chánh làng, xã giới
thiệu tới cư ngụ tại những gia đình nghèo
nhất trong xã.
Các Đội này áp dụng một kỹ
thuật tâm lý chiến rất tinh vi để mua chuộc
cảm tình những gia đình nông dân nghèo nơi họ cư
ngụ, đó là kỹ thuật tam cùng: cùng ăn (góp
phần ăn chung), cùng ở (cùng ở chung một nhà) và
cùng làm (mà không lấy công). Đây là giai đoạn
chuẩn bị đấu tranh, một giai đoạn quan
trọng nhất, gồm ba mục tiêu:
- Mua chuộc tình cảm nông dân nghèo.
- Gây căm thù giữa các nông dân nghèo đối với địa chủ và xúi giục họ đấu tranh.
- Điều tra tỉ mỉ các gia đình
khác trong làng, xã.
Kỹ thuật "tam cùng" này rất
thành công. Sau khi đã chịu sống cực khổ
với bần nông, giúp đỡ tận tình trong mọi công
việc, mua chuộc được cảm tình của
bần nông, "cán bộ tam cùng" bắt đầu
rỉ rả nhồi sọ, tuyên truyền cho bần nông căm
thù địa chủ là chính địa chủ đã gây
nên cảnh cùng khổ cho họ. Sau khi gây được
căm thù, cán bộ tam cùng phải thuyết phục
bần nông đứng lên đấu tranh tiêu diệt
địa chủ.
Khi đã thuyết phục được
một bần nông chịu đứng lên đấu tranh
với địa chủ, cán bộ gọi là đã "xây
dựng được một rễ". Một "rễ"
phải ưu tiên là một thân nhân gần nhất
của địa chủ có tội, chẳng hạn như
là vợ bé, con gái, con nuôi, hoặc gia nhân,... vì trong trường
hợp như vậy, những lời tố cáo (vu oan giá
họa) của "rễ" đối với địa
chủ sẽ gây được xúc động tâm lý
mạnh mẽ hơn.. Nếu không tìm được người
có liên hệ gần với địa chủ thì phải
tìm người có liên hệ xa, và nếu cùng quá không tìm
được người có liên hệ xa gần thì
mới phải tìm người ngoài để "xây
dựng rễ".
Khi đã xây dựng được một
rễ, lại có thể móc nối thêm các rễ khác làm
thành một "chuỗi rễ". Trong trường
hợp cán bộ không thuyết phục được
một "rễ" thuận ý đấu tranh với
địa chủ, cán bộ nói là "gặp phải
rễ thối". Sau bao nhiêu công lao "tam cùng",
họ lại phải đi tìm một "rễ" khác.
Anh Nguyễn Văn Thân, và một số nhân
chứng hồi chánh viên khác, đã kể lại
những mẩu giai thoại bi hài về "Đấu
tranh Giảm tô" như:
".... Cảnh sống tam cùng đã đưa đến nhiều bi-hài kịch: Có khi đội viên là một chàng trai mà gia đình bần cố lại có con gái lớn nên chuyện hủ hóa đã xảy ra; hoặc giả khi người nghèo khổ nhất làng lại là một bà cụ già bị bệnh thần kinh, ăn nói bất nhất, hoặc một người có lương tâm tốt nên dù đội viên Cải cách Ruộng đất có cố gắng đến mấy, họ cũng không thể hoặc không chịu đứng ra tố người địa chủ, nhất là khi họ đã từng chịu ơn của người địa chủ đó. Vì vậy mới có danh từ "rễ thối" để chỉ các loại này...".
Sau khi đã chuẩn bị xong các nhân
vật chính trong cuộc đấu giảm tô, các Đội
Cải cách Ruộng đất mới ra mắt công khai
tại làng, xã, và lập tức, các cơ cấu tổ
chức cũ như Uỷ ban Hành chánh Xã v.v... đều
bị giải tán để giao quyền hành lại cho
Đội và những phần tử cốt cán đảm
nhiệm. Làng xã lúc đó lập tức bị phong
tỏa, chỉ riêng Đội Cải cách có thể liên
lạc bằng đường dây điện thoại
với trung ương hoặc cấp trên của họ là
Đoàn Cải cách Ruộng đất. Các địa
chủ liền bị cô lập, giam lỏng hoặc bị
quản chế thực sự, tài sản của họ
bị niêm phong.
Tất cả gia đình của địa
chủ cũng bị cô lập, bị khủng bố tinh
thần, bị nhục mạ, trẻ con được xúi
giục ném đá, đánh đập gia đình địa
chủ mà họ không có quyền phản ứng lại, người
lớn được quyền chửi bới gia đình
địa chủ mỗi khi gặp mặt. Chẳng
những gia đình địa chủ lâm vào cảnh cùng
đường, mà thân nhân, bạn bè cũng bị đẩy
vào tuyệt lộ. Những người này, nếu còn
giữ cảm tình với gia đình địa chủ, tìm
cách ngấm ngầm giúp đỡ hoặc bênh vực
địa chủ mà bị Đội Cải cách phát giác
là sẽ bị ghép vào tội "Liên quan phản động".
Phần chính của tấn kịch Đấu
Giảm tô là phần "Thoái Tô", "Đấu
Địa Chủ" và "Xử án Địa chủ".
Ta biết rằng việc giảm tô đã
được "Chính quyền Kháng chiến" quy
định bằng một sắc lệnh số 78/SL ngày
14 tháng 7 năm 1949 ấn định một mức chung là
giảm đi 25%. Điều này có nghĩa là ưu đãi
các tá điền và theo luật mới, địa chủ
phải giảm bớt số lời ("địa tô")
đánh trên tá điền.
Vì lề lối làm việc luộm
thuộm ở nông thôn, khi địa chủ giảm tô cho
tá điền chẳng hề có việc ghi biên lai làm
bằng chứng. Vì thế, 4 năm sau, khi có phong trào
Đấu Giảm tô, địa chủ bị coi như không
hề giảm tô cho tá điền theo như sắc
lệnh, và Đội Cải cách hướng dẫn tá
điền "khai nợ" để đòi địa
chủ phải "Thoái tô" cho tá điền, nghĩa
là hoàn trả cho tá điền số địa tô
thặng dư mà địa chủ đã lấy một cách
trái phép (theo sự "mớm cung" của cán bộ
Cải cách và sự khai gian của tá điền). Số
nợ "thoái tô" này nhiều hay ít là do Đội
ấn định trước, tùy theo số tài sản,
nữ trang của địa chủ mà "Đội"
đã điều tra biết được.
Sau khi "xây dựng" xong "chuỗi
rễ" và trước khi địa chủ bị đem
ra tố khổ, đội viên Cải cách phải
nhồi sọ "chuỗi rễ" qua một khóa
học về "Tội ác của địa chủ",
dạy họ cách nói, cách kể tội... với những
bằng chứng ngụy tạo, như lời anh Nguyễn
Văn Thân thuật lại dưới đây:
".... Chủ yếu là dạy họ tả chân với những chứng tích cụ thể (nhưng gian trá) để làm xúc động quần chúng. Thí dụ như một cái sẹo cũ bị ngã từ hồi còn bé sẽ được trình bày là vết dao chém của địa chủ ác ôn, hoặc cặp mắt bị kèm nhèm, mù lòa vì bệnh đau mắt hột hay lông quặm (trichiasis) sẽ dùng để tố là địa chủ ác ôn bắt thức khuya, dậy sớm chăn heo, nuôi gà, không cho ngủ.... Hoặc nếu một bà lão rụng tóc hết vì già hay vì bệnh hoạn thì sẽ dùng chứng tích này để tố địa chủ nắm tóc giựt, đánh đập.... Nếu là phụ nữ thì sẽ tố rằng bị địa chủ hiếp dâm hàng trăm lần v.v...".
Sau khi lập xong "bản tội ác"
của từng địa chủ, các đội viên
Cải cách bắt đầu tập dượt các "chuỗi
rễ" cho thuần thục về "Cách tố
khổ địa chủ trước quần chúng", y
như như công việc của Đạo diễn và
Diễn viên trước khi trình diễn. Họ phải
học tập từ cách ăn nói, tới điệu
bộ... trước một hình nộm địa chủ.
Tiếp đó, Đội Cải cách mới công bố
"Ngày đấu tố".
".... Trong thời gian này, dân làng rất sợ sệt và ngoan ngoãn, nhất là các thành phần trung nông và phú nông, bảo họp là họ đi họp, bảo khóc là họ khóc, bởi ai cũng sợ bị "nâng" lên thành phần địa chủ. Đại hội họp mấy đêm liền, mỗi đêm sẽ có một "rễ" chính lên tố khổ kể tội địa chủ với sự phụ họa của một vài "rễ" phụ. Đại hội này được gọi là "ôn nghèo kể khổ". Trước khi lập báo cáo, Đại hội được xem trình chiếu phim "Bạch Mao Nữ" (một nhân vật với cốt truyện của Trung Quốc). Truyện phim nói về một cô gái đi ở cho địa chủ, sau bị tên này hiếp dâm, áp bức, hành hạ, nên cô ta phải trốn lên núi theo "Cách Mạng" cho đến khi Đội Cải cách Ruộng đất về làng, cô mới trở lại thì tóc cô đã bạc trắng.
"Ảnh hưởng của cuốn phim
đã tác động sâu đậm trong tâm lý quần chúng
nông thôn chất phác. Họ đã xúc động, khóc
thật sự trước cảnh dã man, tàn ác của tên
địa chủ trong phim ảnh vừa chiếu thì, ngay
sau đó, Đội Cải cách liền đưa các
"rễ" ra trình diện nông dân và kể khổ.
Thế là khí thế sắt máu của giai cấp bần
cố nông nổi dậy theo tiếng khóc, tiếng kể
lể của các "rễ", đã được
Đội cho học tập từ trước. Khí thế
ghê rợn đó đi từ việc hô các khẩu
hiệu "đả đảo địa chủ cường
hào" đến việc ký tên vào quyết nghị xin
xử tử hoặc kết án tù tên địa chủ cường
hào đó. Thư ký Đội Cải cách sẽ lập biên
bản phiên Đại hội, lập báo cáo điển hình
và trình lên Đoàn Uỷ duyệt lại để xin
quyết định của Trung ương. Mấy hôm sau,
Đoàn gửi công văn xuống chỉ thị rằng
Trung ương đồng ý với bản án của... toàn
dân đưa ra.
"Sau đó là việc tổ chức
"Pháp trường đấu". Các đội viên
Đội Cải cách Ruộng đất sẽ không tham
dự nữa mà phải xây dựng (huấn luyện,
nhồi sọ) cho các gia đình bần cố "chuỗi
rễ" làm việc đấu tố, và lập Tòa án
nhân dân, gồm có: Chủ tịch đoàn và các Uỷ viên
Hội đồng Tòa án là các thành phần "chuỗi
rễ" đã được các đội viên "xây
dựng", không có Luật sư bào chữa cho bị
can, có Đoàn Uỷ và chính quyền địa phương
tham dự. Bị can là các địa chủ cường hào
đã bị giam từ trước và đến khi đó,
bị giải ra "đấu trường" tại sân
đình hay sân trường làng, toàn thể dân làng đều
phải có mặt và tập trung theo thành phần để
tham dự. Trong phiên đấu này, các "chuỗi rễ"
đã được huấn luyện cũng lại đứng
ra kể tội, tố một cách tóm tắt hơn, và sau
đó, vì không có Luật sư nên "Tòa" cho phép
"bị can" tự bào chữa; tuy có hình thức
"dân chủ" như thế, nhưng thực ra,
bị can chỉ còn cách cúi đầu nhận tội,
nếu người nào ngoan cố không nhận, hoặc nói
sai ý của Chủ tịch đoàn thì lập tức
Chủ tịch đoàn hô khẩu hiệu đả đảo
và nông dân tham dự ở dưới hô theo để áp
đảo tinh thần bị can và cấm không cho bị
can nói tiếp. Sau đó, Chủ tịch đoàn chỉ
việc tuyên án bị can theo một bản án đã do
Trung ương định sẵn".
Đoạn dưới đây thuật
lại một cuộc đấu tố với những
tội nhân điển hình tại Xóm Chuối, tỉnh
Ninh Bình, khi Đội Cải cách về làng và anh
Nguyễn Văn Thân được cử làm Thư ký
Đội:
".... Đoàn tôi về thi hành chính sách tại Ninh Bình. Đoàn trưởng là anh Thu, đã từng là Chính uỷ Trung đoàn và lúc đó đang làm Tỉnh uỷ viên. Tôi thuộc Đội 6. Đội trưởng là chị Văn, lúc đó mới 20 tuổi, mồ côi, đi ở đợ cho địa chủ từ nhỏ và đã tham gia Cải cách Ruộng đất các đợt 1, 2, 3 và 4 với tư cách "rễ". Đợt này là đợt thứ 5 chị được đề cử làm Đội trưởng. Về văn hoá, chị chỉ biết ký tên mà thôi, nhờ chúng tôi dạy cho chị. Đội chúng tôi được cử về Xóm Chuối, tỉnh Ninh Bình. Xóm này rất nghèo, số gia đình có khoảng trên 100, và thực tế thì chúng tôi chỉ thấy có 3 gia đình tạm gọi là khá giả, nghĩa là có từ 10 đến 15 mẫu ruộng, có ao, có vườn. Thứ nhất là gia đình ông Quản Năm, có con là Thiếu tá Trung đoàn phó 3/14, có 15 mẫu ruộng, con cháu đông nên chỉ mướn 3 anh tá điền làm công. Chúng tôi về "xây dựng" 3 anh này để đứng ra tố ông Quản Năm, nhưng 3 anh không chịu, nên sau phải vận động cô cháu họ của ông cụ tên là Min đứng ra đấu. Gia đình thứ hai có 10 mẫu ruộng, nhưng lại giao cho người cháu quản lý, còn chính gia chủ lại đi buôn bán ở thị xã Hà Nam, có con đi bộ đội chết (tử sĩ); sau, người cháu sợ bị ghép tội "Liên quan phản động" nên đứng ra đấu tố gia đình ông này. Gia đình thứ ba là gia đình bà Quản Hảo, một thành phần địa chủ mới giàu do công khó làm ăn vì ruộng đất toàn do con cái tự canh tác, không mượn người. Đội tôi đưa cháu gái đứng ra tố bà cô.
"Sau khi tìm được ba địa
chủ, xây dựng được "chuỗi rễ",
Đội tôi làm báo cáo điển hình về Đoàn xin
duyệt y, nhưng Đoàn không chấp nhận vì chưa
đạt tiêu chuẩn tỷ lệ là 5% và Đội tôi
phải "cố" làm sao để nâng số gia đình
địa chủ lên 5 người. Làm đi làm lại,
Đội tôi đành chịu thua nên Đoàn phải
cử một anh cố vấn tên Thanh về để giúp
giải quyết. Anh Thanh này có thành tích chuyên môn phát
hiện địa chủ; nên sau khi có sự giúp đỡ
của anh ta, chúng tôi có thêm hai gia đình địa
chủ nữa để đấu tố. Hai gia đình này
chỉ có một hai mẫu ruộng, nhưng có xe đạp,
có con đi học ở Hà Nội, và nhất là một
trong hai gia đình địa chủ có lần đi lính
cho Pháp trước rồi sau về làm Phó lý tên gọi là
Phó Hội Kha.
"Khi đã xây dựng đủ số 5
gia đình cường hào địa chủ, chúng tôi
lập báo cáo và khi đó Đoàn mới duyệt phương
án và đòi phải có ít ra là 2 cường hào ác bá
phải bị xử tử. Chúng tôi định đưa
bà Phó Hội Kha ra làm vật hy sinh vì ông chồng bà trước
kia đi lính cho Pháp và làm Phó lý, tuy nay đã chết, nhưng
nợ máu vẫn còn và bà vợ phải trả. Nhưng,
bà Phó Hội Kha nghe được tin này đã thắt
cổ tự tử trước khi bị chúng tôi
đưa ra đấu trường. Tuy vậy, khi lập
Tòa án Nhân dân, bà Phó Hội Kha vẫn bị xử
khuyết tịch và bị tịch biên gia sản để
trả lại cho nông dân.
"Riêng tôi được phân công "bắt
rễ" với một bà 55 tuổi, không con, có họ
với ông Quản Năm. Bà này bị bệnh thần kinh
nhẹ. Tôi đã phải áp dụng kỹ thuật
"tam cùng" thật là khổ sở: ăn đói,
ngủ thiếu, làm khổ, nên trong thời gian này, tôi
bị sút năm, sáu Kí-lô, và điều nản nữa là
bà này lại là một "rễ thối", nghĩa là
bà ta chẳng nói, chẳng hiểu và chẳng làm gì
cả. Sau, tôi phải bỏ lờ bà ta để tìm
một "rễ" khác để xây dựng, đó là
anh Thà, một thanh niên tá điền, cờ bạc, rượu
chè nên rất căm thù ông Quản Năm. Rồi cô cháu
họ của ông Năm, tức chị Min, tố bị ông
hiếp tất cả 17 lần.... Mặc dù các gia đình
này có con là bộ đội cũng vẫn bị tố
như thường, mà khi con về còn bị Đội
Cải cách bắt vì nghi là về liên lạc với địa
chủ...".
Tóm lại, "Đấu giảm tô"
chính là một giai đoạn thực tập thí nghiệm
cho chiến dịch "Đấu tranh Cải cách
Ruộng đất". Phong trào Đấu giảm tô
đã thực sự sử dụng đến bạo
lực của nông dân, đã thực sự gây chém
giết, đổ máu và tỏ ra thành công hơn giai đoạn
"Đấu tranh chống phản động"
nhờ đã rút tỉa được nhiều kinh
nghiệm hơn. Trong giai đoạn đấu tranh
chống phản động, qua kỹ thuật "mớm
cung" theo dây chuyền, nhiều nạn nhân đã khai
lung tung ra ngoài sự dự liệu của cán bộ Đảng
khiến cho Đảng không nắm vững được
phong trào. Trong giai đoạn đấu tranh giảm tô,
những người đứng ra tố cáo đã
được cán bộ huấn luyện, giáo dục,
nhồi sọ và chuẩn bị rất kỹ lưỡng
tới mức hoàn hảo.
Một điểm rất quan trọng đáng
lưu ý ở đây là quy tắc kích tỷ lệ. Đảng
đã nhắm đến trong giai đoạn đấu
tranh giảm tô là không phải chỉ riêng địa
chủ mới bị xử tử mà cà những người
có một, hai mẫu ruộng cũng phải lãnh những
phát đạn kết liễu cuộc đời, vì
bị kết vào những tội phản động,
phản quốc, thông đồng với giặc Pháp v.v....
Làm như vậy, Đảng đã gián tiếp cảnh cáo
những phần tử phú nông và trung nông khác phải coi
chừng, đừng có nho nhoe chống đối.
Cuộc Đấu tranh Giảm Tô đã kéo
dài tới đầu năm 1954 thì tạm thời
được ngưng lại khi Chiến trường
Điện Biên Phủ đi vào giai đoạn nghiêm
trọng và quyết định.
Nói tóm lại, cuộc Cải tạo Nông
nghiệp tại miền Bắc bắt đầu vào năm
1951 với chính sách Thuế Nông Nghiệp, trùng hợp
với giai đoạn Tổng Phản Công trên phương
diện quân sự với các trận đánh lớn như
Trận Vĩnh Yên (khai diễn ngày 13 tháng 1, 1951), Trận
Mao Khê (khai diễn đêm 23 rạng ngày 24 tháng 3) và
Trận Sông Đáy (khai diễn ngày 29 tháng 5). Sự trùng
hợp này giải thích nhu cầu cấp bách trên ba phương
diện:
- Động viên nhân lực và tài lực cho chiến tranh.
- Đánh gục các thành phần Quốc gia yêu nước nhưng không ủng hộ Việt cộng dưới danh hiệu Việt Minh.
- Chuẩn bị đánh gục các thành
phần Quốc gia yêu nước đang tham gia cuộc Kháng
Chiến Chống Pháp, nhưng có thể trở thành
chống lại Việt cộng khi Kháng Chiến thành công.
Sự chuẩn bị này dành cho giai đoạn
sắt máu sắp tới, mà ta sẽ nghiên cứu trong bài
báo kế tiếp; trong đó, các câu hỏi sau đây
sẽ được giải đáp:
- Việt cộng làm cách nào tiêu diệt các thành phần Quốc gia yêu nước tham gia Kháng Chiến?
- Nhân dân có thái độ như thế nào để chống lại các hành động gian ác của Việt cộng?
- Việt cộng dùng thủ đoạn gì để đối phó với phản ứng của nhân dân?
(Phần kế…)