Cuộc cải tạo Nông Nghiệp tại
miền Bắc - 3
Trich tu Dan Chu - Võ Trường Sơn
Giai đoạn đấu tranh sắt máu sau 1954
Giai đoạn đấu tranh đẫm máu
Phản ứng của nhân dân đưa đến quyết định sửa sai
Cuộc đấu tranh tiếp theo của nhân dân miền Bắc
Cuộc Cải Tạo Nông
Nghiệp Tại Miền Bắc: Giai đoạn đấu
tranh sắt máu sau 1954
Trận Điện Biên Phủ và Hiệp
Định Geneve 1954 là hai biến cố chính khiến cho
chiến dịch Đấu Tranh Giảm Tô được
tạm ngưng. Mặc dầu sau Hiệp Định Genève,
Việt cộng hoàn toàn làm chủ miền Bắc trong
một khí thế đầy phấn khởi, bộ đội
Việt cộng về thủ đô với một vinh
dự chiến thắng, nhưng Hồ Chí Minh và giới
đầu lãnh Hà Nội phải đối phó với
nhiều vấn đề cấp bách: Phong trào di cư
của gần một triệu đồng bào miền
Bắc bỏ trốn cộng sản vào Nam, việc
tập kết khoảng 50 ngàn bộ đội và cán
bộ cộng sản từ Nam ra Bắc tạo nên nhu
cầu ổn định tâm lý quần chúng cũng như
củng cố an ninh. Do đó, Việt cộng đã dành
một thời gian khoảng một năm để
chấn chỉnh tình hình nội bộ và chuẩn bị làm
nốt phần tối quan trọng của Cải Cách
Ruộng Đất để bắt đầu công
việc xây dựng cơ sở vật chất cho công
cuộc xâm lược miền Nam.
Trong phạm vi bài này ta sẽ đi vào các
phần chính sau đây:
- Giai đọan đấu tranh đẫm máu
- Phản ứng của nhân dân đưa đến quyết định sửa sai
- Cuộc đấu tranh tiếp theo của nhân dân miền Bắc
- Những đặc điểm điển
hình của giai đoạn Cải Cách Ruộng Đất
1951-1956 đưa đến chiến dịch sửa sai.
--------------------------------------------------------------------------------
I. Giai Đoạn Đấu Tranh Đẫm Máu
Giai đoạn này bắt đầu vào
khoảng giữa năm 1955 trên toàn thể miền Bắc
với những trường hợp sau đây:
- Khu rừng núi không có cải cách ruộng đất (xem bản đồ đính kèm)
- Vùng đồng bằng sông Nhị Hà trước
kia chưa có đấu giảm tô, thì trong giai đoạn
này cả hai cuộc "đấu tranh giảm tô" và
"đấu tranh Cải Cách Ruộng Đất"
được xúc tiến cùng một lượt (xem
bản đồ).
Như đã trình bày trước đây,
thể thức đấu tranh cải cách ruộng đất
cũng giống như đấu tranh giảm tô, chỉ khác
ở mức độ tàn bạo gia tăng và con số
nạn nhân cũng gia tăng do sự "càn đi quét
lại" và "kích tỷ lệ".
Điểm căn bản là sau cuộc
cải tạo nông nghiệp ruộng đất cũng như
gia tài sản nghiệp của địa chủ bị
tịch thu và được chia cho nông dân nghèo. Đây chính
là cái mồi ngon cuối cùng mà đảng dành cho nông dân
suốt trong những giai đoạn đấu tranh đã
qua.
Cuộc đấu tranh cải cách ruộng
đất được Trung Ương Đảng giao
cho Trường Chinh lãnh đạo qua một Trung
Ương ủy viên phụ trách là Hồ Viết
Thắng; dưới trung ương có các đoàn cải
cách ruộng đất cho mỗi tỉnh và dưới
đoàn có các đội cải cách ruộng đất
cho mỗi xã. Các đội và đoàn đều trực
tiếp nhận lệnh của trung ương mà không
cần qua ủy ban hành chánh địa phương. Nguyên
tắc chọn lựa các đội viên của đội
cải cách ruộng đất phải là những thành
phần cốt cán, bần cố nông, là đảng viên
trung kiên đã chiến đấu trong bộ đội.
Đấy là các đội viên của đợt đầu
tiên cải cách ruộng đất. Sau mỗi đợt,
lại có một số thành phần cốt cán bần
cố nông khác được bồi dưỡng để
trở thành đội viên các đợt sau. Do đó càng
về sau, chính sách cải cách ruộng đất càng
khốc liệt bởi phần đông đội viên toàn
là những người trẻ tuổi, cuồng tín
được bồi dưỡng tư tưởng đấu
tranh giai cấp để căm thù thật sự; và cũng
do đó mà vào năm 1956, đợt Cải Cách Ruộng
Đất được phát động lấy tên là
đợt Tổng tấn công Điện Biên Phủ
đưa số người bị tàn sát lên đến
10 ngàn người, riêng trong đợt này; đội
cải cách ruộng đất trở thành một công
cụ khủng bố ghê gớm khiến nhân dân đồng
thanh coi là "nhất đội nhì trời" mỗi
khi đội về làng. Sở dĩ có sự tàn sát ghê
gớm như vậy, vì chiến thuật kích tỷ
lệ (nâng tỷ lệ) của Việt cộng. Thí
dụ: cứ mỗi xã có 100 gia đình thì dù đủ
hay không đủ, có hay không có, đội cải cách
ruộng đất của xã đó phải tìm cho ra ít
nhất là 5 gia đình địa chủ (tỷ lệ 5%)
nếu hơn càng tốt, và trong số 5 gia đình này
phải quy cho được 2 gia đình là cường hào
ác bá để xử tử. Nếu đội không làm
đủ tiêu chuẩn tỷ lệ sẽ bị phê bình là
thiếu ý thức đấu tranh giai cấp, công tác kém,
v.v....
Cuộc "phóng tay phát động
quần chúng đấu tranh cải cách ruộng đất"
còn là cơ hội để đảng thực hiện
một cuộc thanh trừng quy mô nội bộ Đảng
cũng như hàng ngũ kháng chiến, sau khi thực dân Pháp
đã bị đánh bại. Và theo chính sự thú nhận
của Việt cộng khi có chính sách sửa sai, trong
cuộc thanh trừng này có tới 23 ngàn đảng viên
trung kiên bị "chết oan" , ngoài ra còn bao nhiêu ngàn
đảng viên "không trung kiên" bị chết "một
cách đích đáng" thì không thấy có tài liệu chính
thức nào của đảng ghi chép cả.
Khi cuộc cải cách ruộng đất lên
tới mức độ tàn bạo nhất, tức là
đợt cải cách Điện Biên Phủ, rất
nhiều người thuộc thành phần trung nông,
tiểu thương bị "kích" lên thành địa
chủ phản động và bị đem đấu
tố. Thê thảm hơn nữa là những cán bộ cao
cấp có công với kháng chiến mà cũng bị
kết tội là cường hào ác bá và có chân trong
tổ chức Quốc Dân Đảng. Nhân chứng
Nguyễn Văn Thân mô tả một cuộc đấu
tố chụp mũ như sau:
...."Cuộc đấu tố điển
hình nhất mà tôi được dự là lần đấu
ông Nguyễn Văn Đô, bí thư huyện ủy tại
Ô Cầu Giấy ngoại thành Hà Nội..." ...."Nạn
nhân Nguyễn Văn Đô là bí thư huyện ủy,
rất có công với kháng chiến nhưng lại bị
kết tội là cường hào ác bá và có chân trong
tổ chức Quốc Dân Đảng. Chủ tịch đoàn
nói rằng ông lợi dụng chức vụ của Đảng
hoạt động cho Quốc Dân Đảng. Người
đứng kể tội là một nông dân trước kia
đi chăn ngựa cho ông Đô. Một cụ già khác lên
tố về việc cướp đất ruộng nương
và cô con gái của ông lên đấu tố là đã
bị ông cưỡng hiếp tất cả là 117 lần,
v.v.... Đến khi ông Đô được phép lên phát
biểu ý kiến nhận tội, ông đã cứng
cỏi trả lời: Ông không phải là Quốc Dân Đảng,
ông chỉ làm việc cho Bác cho kháng chiến mà thôi. Ông
trả lời cô con gái là: "Thưa bà, bà còn quên đấy,
tôi đã hiếp cả mẹ bà để đẻ ra bà
nữa". Câu trả lời này làm mọi người
phải bật cười và làm đấu trường
mất vẻ tôn nghiêm, chủ tịch đoàn vội vàng
hô khẩu hiệu "đả đảo tên Đô ngoan
cố" để đàn áp và che lấp tiếng nói
của ông này. Sau đó họ không cho ông nói tiếp.
Họ nghị án và quyết định xử tử ông
ngay tại chỗ. Cuộc đấu này kéo dài từ 5
giờ sáng tới 13 giờ, tức 1 giờ trưa
mới xong". (Nguyễn Văn Thân)
Rất nhiều cựu cán bộ cộng
sản có tham dự cuộc cải cách ruộng đất
đều thắc mắc không hiểu ẩn ý của
Đảng khi thẳng tay triệt hạ chính những cán
bộ Đảng cao cấp và trung kiên, và triệt hạ
luôn cả cơ cấu tổ chức Đảng ở nông
thôn, thay vào đấy bằng những thanh thiếu niên
bần cố nông từ 15 tới 18 tuổi. Rất
nhiều người thắc mắc không hiểu Đảng
vô tình hay cố ý giết oan người của Đảng.
Nhưng nếu người ta có cơ
hội nghiên cứu kỹ cuộc cách mạng văn hóa
của Mao Trạch Đông, thì ẩn ý của Đảng
trở thành rõ rệt. Đó là chủ trương đấu
tranh liên tục trong nội bộ cộng sản bằng
những cuộc thanh trừng đẫm máu. Đảng
phải luôn luôn đào thải những cán bộ đảng
viên cũ không thuộc thành phần vô sản, những người
đã lỗi thời, có thể trở thành nguy hiểm
cho đảng vì đã trau dồi những kinh nghiệm
đấu tranh, đã có khả năng lãnh đạo, có
uy tín, nắm vững tình hình Đảng, quy tụ
được thế lực mạnh, và có thể
phản Đảng. Thay vì dùng nghị đình, thông tư,
sự vụ lệnh để thải hồi những
phần tử này, Đảng đã mượn tay
quần chúng nông dân để tiêu diệt cho hết
hậu họa. Kết quả là chính nạn nhân của
cải cách ruộng đất cũng không biết
được thâm ý của "Hồ chủ tịch"
và của "Đảng", mà tưởng rằng
cấp dưới làm sai, nên có người khi chết còn
tung hô "Hồ chủ tịch".
--------------------------------------------------------------------------------
II. Phản Ứng Của Nhân Dân Đưa Đến
Quyết Định Sửa Sai
Mức độ sắt máu của Cải
Cách Ruộng Đất đã được chính
những tên thợ thơ nô dịch của Việt
cộng cổ võ để nịnh Đảng và nạt dân.
Tố Hữu, một cán bộ lạnh đạo văn hóa
của Việt cộng miền Bắc viết bằng
một giọng khát máu:
"Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít ta lin...
bất diệt."
Còn Xuân Diệu cũng cuồng say với
cuộc đấu tố bằng những vần thơ như
sau:
Địa hào đối lập ra tro
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương
Thắp đuốc cho sáng khắp đường,
Thắp đưốc cho sáng đình làng đêm nay. Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống, đọa
đày chết thôi.
(trích Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất
Bắc, trang 22 và 23)
Nhưng những vụ tàn sát của
Cuộc Cải Cách Ruộng Đất đã gây xúc động
công phẫn mãnh liệt ở khắp mọi nơi.
Mặc dầu dân chúng chưa võ trang nổi dậy quy mô,
nhưng những vụ phục kích giết cán bộ đấu
tố và những vụ chém giết giữa bần cố
nông và thân nhân của người bị đấu
tố đã xảy ra thường xuyên. Những người
bị đẩy đến bước đường cùng
đã liều mạng một sống một còn với
kẻ thù của mình, bất chấp những đe
dọa của Đoàn Cải Cách Ruộng Đất.
Đúng vào lúc đó, Đại Hội
Đảng Liên Xô lần thứ 20 đã đem lại
một biến cố làm chấn động dư luận
thế giới và có ảnh hưởng đến tình hình
Việt cộng miền Bắc. Ngày 20 tháng 2 năm 1956,
Krushchev đọc bài diễn văn trong Đại Hội
Cộng Đảng, công khai lên án bản chất khát máu
của Satalin qua những vụ thủ tiêu hàng vạn
đảng viên đối lập đồng thời
tiết lộ nhiều tội lỗi khác của Stalin,
kể cả tội bắt dân Nga sùng bái cá nhân của
Stalin như một vị thánh sống.
Cũng trong Hội Nghị lần thứ
20, Cộng Đảng Liên Xô đã sửa đổi
"chủ thuyết Stalin" bác bỏ chủ trương
quá khích của Stalin đòi hỏi "Cách mạng
phải bạo động và càng tiến tới xã
hội chủ nghĩa thì đấu tranh giai cấp càng
quyết liệt".
Việc hạ bệ Stalin và việc thay
đổi đường lối chính sách tại Liên Xô
chỉ là một sách lược lừa địch và
dụ khị địch. Trên phương diện đối
nội, sau khi lật đổ Beria và Malenkov, phe của
Krushchev có nhu cầu đánh gục "bọn tàn dư"
của khuynh hướng Stalin để củng cố
quyền lực cho phe phái của mình, chứ không hề có
ý định thực hiện những cải cách dân
chủ.
Trên phương diện đối
ngoại, sách lược dụ khị của Krushchev
nhằm quảng cáo cho món hàng "sống chung hòa bình",
lôi kéo một số quốc gia Á Phi vào một khối
trung lập thân cộng gọi là "Phi Liên Kết",
đồng thời mở đầu cho giai đoạn
"Hòa Dịu" nhằm ru ngủ các cường
quốc Tây phương nhất là Hoa Kỳ, với
mục đích chính: Mượn tiền và kỹ thuật
Tây phương để phát triển kinh tế và kỹ
thuật Liên Xô, tạo nên phong trào đòi giảm vũ
trang tại các nước Tây phương, trong khi Liên Xô
ngấm ngầm sản xuất vũ khí hạch tâm
chiến lược nhằm đánh thắng trong một
cuộc chiến tranh hạch tâm.
Với thâm ý như trên, Krushchev phái Nikoyan
sang Hà Nội để giải thích cho Hồ Chí Minh và
Việt cộng miền Bắc, về nhu cầu sách lược
"xét lại". Vào lúc đó, Hồ Chí Minh tâm sự
với đàn em rằng "Khí thế của cuộc
đấu tranh cải cách ruộng đất đang
phừng phừng bốc cháy, không lẽ lại dội
một gáo nước lạnh vào đầu cán bộ và
anh em nông dân". Vì thế Việt cộng miền
Bắc vẫn bít kín không phổ biến "chính sách
mới" của Liên Xô. Tuy nhiên đứng trước
những phản ứng bạo động của nhân dân,
cũng như những bất mãn của tầng lớp trí
thức đã từng tham gia tích cực ủng hộ
Việt Minh trong cuộc kháng chiến chống Pháp, vào tháng
3 năm 1956, Hồ Chí Minh đã phải chuẩn bị
kế hoạch dừng tay.
Những biến cố trên thế giới
và phong trào chống đối trong nước liên
tiếp đánh mạnh vào uy tín của Hồ Chí Minh và
giới đầu lãnh Việt cộng. Ngày 26 tháng 5 năm
1956, Mao Trạch Đông công bố chính sách "Bách Gia
Tranh Minh, Bách Hoa Tề Phóng" nghĩa là các môn phái tư
tưởng được mặc sức phát biểu ý
nghĩ của mình như trăm thứ hoa đua nở.
Với chính sách mới, giới trí thức Trung Quốc
được "mở mồm nói trong phạm vi có
sự kiểm soát của Đảng".
Ngày 28-6-1956 công nhân Ba Lan sát cánh với
sinh viên bviểu tình ở Poznan chống lại chế
độ độc tài và đòi Tự Do, cơm áo. Ngày
23-10-1956 công nhân Hung Gia Lợi nổi dậy làm cách
mạng ở Budapest khiến Krushchev phải dùng vũ
lực đàn áp một cách tàn bạo. Tại Bắc
Việt, Hồ Chí Minh cố chờ cho cuộc cải cách
ruộng đất kết thúc với đợt Điện
Biên Phủ, mới ra lệnh đình chỉ mọi vụ
hành quyết địa chủ, và tháng 10-1956 Trung
Ương Đảng Việt Cộng ra nghị quyết
"sửa sai".
Chiến dịch sửa sai được
bắt đầu bằng các đợt học tập dành
cho Đảng viên về nghị quyết của Hội
Nghị lần thứ 20 của Cộng Đảng Liên Xô,
đồng thời, báo chí của nhà nước giải
thích cho quần chúng về sự thay đổi bên Liên xô.
Tiếp theo đó Hồ Chí Minh chọn Trường Chinh và
Hồ Viết Thắng làm con vật tế thần (Trường
Chinh mất chức Tổng Bí Thư Đảng, và Hồ
Viết Thắng mất chức Thứ Trưởng
phụ trách cải cách ruộng đất). Mười
hai ngàn đảng viên còn sống sót trong tù vì bị
kết tội là địa chủ đã được
thả ra. Trong số này có nhiều người đã
bị kết án tử hình. Hồ Chí Minh đã khóc lóc và
đổ tội cho cấp dưới phạm phải sai
lầm. Khả năng trình diễn của họ hồ
rất cao khiến nhiều người dân miền Bắc
tưởng Hồ khóc thật, và ít nhiều tin vào
sự vô trách nhiệm của Hồ.
Trong Hội Nghị thứ 10 của Trung
Ương Đảng, Võ Nguyên Giáp thay mặt Đảng
đọc một bản thú nhận những sai lầm
trong cuộc cải cách ruộng đất. Hội
nghị Mặt Trận Trung Ương họp để
nghiên cứu các sai lầm trong cuộc cải cách
ruộng đất và chính sách sửa sai. Sự sửa
sai đưa ra để xoa dịu lòng dân không có nghĩa
là chính sách cải cách ruộng đất của Đảng
sai lầm, và theo như Võ Nguyên Giáp nhận định
trong bản báo cáo lên Trung Ương Đảng thì
thắng lợi cơ bản của cuộc cải cách
ruộng đất là đã đạt được
mục tiêu cốt yếu đề ra, đó là đánh
đổ toàn bộ giai cấp địa chủ.
Những sự sai lầm, theo Đảng nhận định,
là do sự "quá tay" của cán bộ, ví dụ như:
- Phủ nhận thành tích kháng chiến của những người bị đấu tố.
- Không đoàn kết trung nông, liên hiệp phú nông như đã hứa mà lại đẩy họ vào hàng ngũ kẻ thù.
- Xử tử oan người ngay, đả kích bừa bãi, tra tấn đàn áp người vô tội.
- Xúc phạm tới tôn giáo.
- Không nhẹ tay với vùng dân thiểu
số.
Hành động "sửa sai" của
Việt cộng chỉ là một "sách lược"
để đối phó với tâm trạng công phẫn
bất mãn của nhân dân, tạo một cơ hội
để cho sự công phẫn xẹp xuống, và tránh
nguy cơ một cuộc nổi loạn trên toàn miền
Bắc. Căn bản của cuộc sửa sai là xác
nhận chính sách Cải Cách Ruộng Đất vẫn là
đường lối lâu dài của Đảng và Nhà Nước
Việt cộng. Nếu có những "sai lầm" trong
việc thi hành chính sách, thì đó là lỗi của
một vài cá nhân đã "quá tay" làm nhiều người
chết oan, và những cá nhân phạm lỗi khiến hàng
trăm ngàn người bị chết oan chỉ bị
khiển trách một cách tượng trưng, không có ai
bị truy tố ra trước tòa án, không có ai phải
đền tội một cách đích đáng. Hồ Chí
Minh và giới đầu lãnh Việt cộng ngang nhiên coi
việc tàn sát giết người là quyền tự nhiên
của Đảng, không cần phải thắc mắc, và
nếu có giết oan vài chục ngàn người thì
chỉ cần đổ tội cho cấp dưới "lỡ
tay", và phủi tay xin lỗi với một thái độ
hoan toàn vô trách nhiệm.
Nhưng quần chúng nhân dân miền
Bắc không chấp nhận thái độ đó, và
họ đã nắm lấy cơ hội "sửa sai"
để vùng lên.
--------------------------------------------------------------------------------
III. Cuộc Đấu Tranh Tiếp Của Nhân Dân
Miền Bắc
Lợi dụng hành động phủi tay
của Hồ Chí Minh khi đổ tội cho cấp dưới
đi quá trớn, các nạn nhân còn sống sót sau đợt
đấu tranh Cải Cách Ruộng Đất đã tìm
những cán bộ cải cách để trả thù. Tình
trạng rối loạn được mô tả trong
cuốn "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc"
như dưới đây:
"Sau khi các đảng viên trung kiên
được tha từ nhà tù về, được khôi
phục công quyền, khôi phục đảng tịch và
chức vụ thì họ tìm ngay đến các "đồng
chí" đã "tố sai" để trả thù. Do
đó tình trạng xung đột, giết chóc giữa
đảng viên cũ và đảng viên mới lan rộng
khắp mọi nơi. Uy tín của Đảng bị
xụp đổ, cán bộ đâm ra hoang mang. Trong dịp
này nhà văn Nguyễn Sáng có nói một cách hài hước:
"Lạc quan sai; bi quan cũng sai; chỉ có hoang mang
mới đúng". Nhân dân được dịp đòi
lại ruộng nương nhà cửa bị tịch thu.
Ở nông thôn các đảng viên đi
họp phải mang búa theo để "thảo luận"
với nhau. Những địa chủ được tha
về, thấy tình trạng làng xóm như vậy, vội
vàng chạy ra thành phố ở nhờ các gia đình
"tiểu tư sản" hồi kháng chiến đã
trú ngụ tại nhà mình. Các bần cố nông, chót nghe
lời Đảng "tố điêu" nay sợ bị
rạch mồm, cắt lưỡi, cũng vội vàng
chạy ra thành phố để đạp xích-lô và đi
ở thuê. Vì vậy nên dân số ở Hà Nội, Nam
Định đột nhiên tăng gấp bội và không
khí căm thù ở nông thôn lan ra thành phố, lây cho công
nhân, tiểu tư sản, sinh viên và trí thức. Đáp
lại vụ nổi loạn của nông dân ở Quỳnh
Lưu, thanh niên và công nhân "Nam bộ tập kết"
đập phá bót cảnh sát Bờ hồ Hà Nội (bên
cạnh ga tầu điện, đầu phố Cầu
gỗ)".
Tại khắp các vùng nông thôn miền
Bắc, đâu đâu người ta cũng thấy
những vành khăn tang của thân nhân những người
bị giết trong cải cách ruộng đất. Cho
tới nay, không ai biết được con số chính xác
những nạn nhân bị Việt cộng tàn sát. Chỉ
có một yếu tố then chốt để giúp người
ta ước lượng số nạn nhân đó là
yếu tố "kích tỷ lệ" được
đề cập ở phần đầu. Với dân
số miền Bắc vào giai đoạn 1956 khoảng
chừng 20 triệu người tức là vào khoảng 4
triệu gia đình nông dân, ta hãy giả sử 2% gia đình
nông dân bị liệt vào giai cấp cường hào địa
chủ nằm trong sổ đen của Việt cộng. Qua
kỹ thuật "kích tỷ lệ", những tên cán
bộ trung kiên trong các đội cải cách đã
thực hiện đúng chỉ tiêu bằng cách phát
hiện và đem ra giết đủ tỷ lệ tối
thiểu là 2% mỗi xã. Như vậy trên toàn miền
Bắc, những gia đình nông dân có thể bị
giết ít nhất là 80.000 người trong cuộc cải
cách ruộng đất nếu các đội cải cách
"kích tỷ lệ" theo đúng chỉ tiêu của
Đảng đề ra.
Trong lịch sử Việt Nam, chưa ai nghe
thấy có thời kỳ nào lực lượng ngoại
bang thống trị đã tàn sát nhân dân một cách
lạnh lùng máy móc như vậy. Nỗi căm hờn
uất hận của nạn nhân cải cách ruộng đất
cùng thân nhân của họ đã lên tới mức cùng
cực, nhưng sau khi Hồ Chí Minh đưa ra chính sách
sửa sai, thì chế độ Việt cộng đã thoát
khỏi một cuộc nổi loạn bạo động
lan rộng vì một số nguyên nhân chính:
a) Đa số những người mà tính
mệnh bị đe dọa đồng thời là những
người có tiềm năng lãnh đạo nổi
loạn thì đã chết rồi, còn lại một số
nhỏ được tha về và được khôi
phục lại công quyền, tự coi là mình đã thoát
chết trong đường tơ kẽ tóc và cần
được yên thân. Mặc dù có một số người
liều mạng đi tìm đội cải cách để
trả thù, nhưng hầu hết không dám có ý định
chống lại kẻ chủ mưu đại gian đại
ác là Hồ Chí Minh và Đảng Lao Động, hoặc là
vì họ tưởng cấp dưới làm sai chính sách
Đảng, hoặc vì họ nhìn ra Hồ Chí Minh và Đảng
của họ Hồ quá nguy hiểm và quá mạnh. Nguy
hiểm vì chúng ném đá dấu tay, xúi giai cấp nọ
giết giai cấp kia để chúng bảo toàn lực lượng.
Mặt khác, chúng quá mạnh vì có súng đạn trong tay,
còn họ thì thân cô thế cô.
b) Phần đại đa số nông dân còn
lại là phú nông, trung nông và bần nông thì như cá
nằm trốc thớt. Tuy tính mạng của họ chưa
bị đe dọa vì chưa bị liệt vào hàng cường
hào địa chủ nhưng trông gương những
vụ đấu tố chụp mũ, họ biết
rằng bất cứ ai cũng có thể bị kết
tội là "liên quan" hoặc "phản động"
("liên quan" là nói tắt của "liên quan với
địa chủ cường hào").
Vậy, cho dù có nhiều người trong lòng
còn căm hận, nhưng ngoài mặt không dám ngo ngoe. Duy có
một thành phần trí thức văn nghệ sĩ dám hiên
ngang đứng lên chống Đảng và kể tội
Đảng. Thành phần này gồm có những nhân
vật đã tham gia kháng chiến từ những ngay đầu
cho tới khi kháng chiến chống Pháp thành công. Đó là
những người đã nằm trong lòng của cuộc
kháng chiến chống Pháp và đã nhìn ra bản chất
cộng sản của bọn Hồ Chí Minh. Là những người
có tinh thần Quốc Gia, một số những người
này đã ngây thơ lựa chọn con đường
chống thực dân trước, cho tới khi thành công
rồi sẽ thanh toán cộng sản sau (!!!). Một
số còn lại đã tìm cớ nọ cớ kia để
từ từ ngưng hợp tác với Đảng ngay
từ trước khi kháng chiến chống Pháp thành công,
mặc dầu họ vẫn được mọi người
mến chuộng và được coi là giới trí
thức và văn nghệ sĩ kháng chiến.
Là những người nặng lòng với
đất nước, giới trí thức và văn
nghệ sĩ kháng chiến về thủ đô đã
rất đau lòng và căm hận chính sách tương tàn
của bọn Hồ Chí Minh, và lợi dụng hoàn
cảnh thuận lợi khi họ Hồ đề ra chính sách
sửa sai, giới trí thức văn nghệ sĩ đã vùng
lên đấu tranh, tạo nên một chấn động
trong dư luận thế giới sau khi có cuộc nổi
dậy của nông dân Quỳnh lưu, Nghệ An.
Cuộc nổi dậy của nông dân
Quỳnh Lưu gây một chấn động lớn vì nó
xảy ra ngay tại tỉnh Nghệ An, quê quán của
Hồ Chí Minh, và nó cho thấy ngay đối với nhân dân
tỉnh nhà, Hồ Chí Minh là một đứa con vô liêm
sỉ bị từ bỏ. Hồ Chí Minh rất căm
hận hành động nổi dậy, nên đã dùng các sư
đoàn Nam Bộ Tập Kết để đàn áp,
giết và đày ải hơn 6.000 nông dân, đồng
thời cố tình bít kín mọi tin tức liên quan đến
cuộc nổi dậy này không lọt ra thế giới bên
ngoài.
Trong khi nông dân Nghệ An nổi dậy dùng
gậy gộc, dáo mác đánh Việt cộng thì văn
nghệ sĩ miền Bắc dùng ngòi bút, đánh Việt
cộng bằng những bài văn, những lời thơ
sắc như thép:
Tôi muốn làm nhà văn chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi, ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá
(Phùng Quán trong bài "Lời mẹ dặn")
Trong khi thế giới biết rất ít
về những chi tiết của cuộc nổi loạn
của nông dân Quỳnh Lưu, thì trái lại những tài
liệu của cuộc nổi dậy của văn
nghệ sĩ miền Bắc đã được bí
mật gởi ra ngoài, bằng giấy trắng mực
đen, khiến cho lịch sử văn học đã ghi
được đầy đủ chi tiết về
nội dung cuộc nổi dậy, những văn nghệ sĩ
tham gia và đường lối đấu tranh của
giới văn nghệ sĩ miền Bắc, v.v.... Nhờ
đó, những văn thi họa phẩm của giai đoạn
"Trăm Hoa Đua Nở" trên đất Bắc
đã không bị mai một, dù cộng sản tìm cách
thủ tiêu, và những tài liệu trên đã đóng góp
vào kho tàng văn hóa dân tộc, tiêu biểu cho một
trong những giai đoạn văn học phản ảnh
trung thực sức đấu tranh dũng mãnh của dân
tộc.
--------------------------------------------------------------------------------
Nội Dung Cuộc Nổi Dậy Của Văn
Nghệ Sĩ Và Trí Thức Miền Bắc
Diễn đàn của giới trí thức văn
nghệ sĩ đấu tranh khởi đầu là cuốn
sách Giai Phẩm 1956 còn gọi là Giai Phẩm Mùa Xuân
được xuất bản vào khoảng tháng 3-1956, trước
khi có chiến dịch sửa sai . Sau khi Nikoyan sang Hà
Nội giải thích chính sách của Liên Xô, đưa
đến vụ sửa sai, thì phong trào nổi dậy
đã bùng lên với Giai Phẩm Mùa Thu (29-8-1956) Giai
Phẩm Mùa Đông (1956), tờ báo Nhân Văn (liên
tiếp trong nhiều số), tờ Đất Mới,
tuần báo Trăm Hoa, tờ nhật báo Thời Mới, và
ngay cả báo Văn của Đảng. Tuy nhiên, tiêu
biểu nhất trong những tài liệu trên là báo Nhân Văn
và các quyển Giai Phẩm, cho nên người ta quen
gọi phong trào nổi dậy của văn nghệ sĩ
là Phong Trào Nhân Văn - Giai Phẩm
Nội dung của Phong Trào Nhân Văn - Giai
Phẩm là đấu tranh chống chế độ
Việt cộng trên hai lãnh vực chính:
- Đường lối chính sách của Đảng
- Hệ thống lãnh đạo của
Đảng
Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm đánh vào
đường lối chính sách tức là đánh tận
gốc Chủ Nghĩa Cộng Sản, chĩa mũi dùi vào
chủ trương giai cấp đấu tranh người
bóc lột người, chính sách cải cách ruộng đất,
chính sách cải tạo công thương nghiệp tư
bản tư doanh tại thành thị, đồng thời
tấn công vào liên minh giai cấp đấu tranh giữa
Việt cộng và Trung Quốc. Một trong những tài
liệu quan trọng nhất thuộc loại này là
cuốn "Nắng Chiều" của cụ Phan Khôi,
gồm nhiều bài bút ký, tạp văn, bị Việt
cộng cấm xuất bản, may nhờ có Đoàn
Giỏi, một cán bộ Đảng đem ra mổ
xẻ phê bình trên báo Văn Nghệ của Đảng
số 15, xuất bản tháng 8-1958, người ta mới
biết về nó. Sau đó, Đoàn Giỏi đã bị
phê bình kiểm thảo là cố tình mổ xẻ chửi
bới cụ Phan Khôi nhằm mục đích phổ
biến tài liệu chống Đảng. Tội nặng
nhất của cụ Phan khôi được phát hiện
trong cuốn Nắng Chiều nằm trong các chuyện Nuôi
vịt ở miền Nam, "Tiếng Chim", "Thái Văn
Thu" và chuyện Ba Ông Vua Càn Long, Quang Trung và Chiêu
Thống.
Trong chuyện "Tiếng Chim", cụ
Phan Khôi đã thuật chuyện hai con quạ không dành nhau
miếng ăn để ngụ ý mỉa mai vấn đề
đấu tranh giai cấp là vấn đề căn
bản của chủ nghĩa Mác Lê-nin. Trong chuyện Nuôi
vịt ở miền Nam, cụ Phan Khôi thuật lại cách
làm việc và cách sống của chủ và người làm
thuê đều cực khổ như nhau, đồng
thời chủ chẳng những trả công cho thợ mà còn
chia hoa hồng cho thợ mỗi khi được mùa,
vừa có ý ám chỉ rằng cảnh người bóc
lột người theo quan niệm đấu tranh giai
cấp là không hoàn toàn có thực mà còn có ý ám chỉ
Đảng bóc lột người hơn những người
chủ nuôi vịt. Trong chuyện "Ba Ông Vua", Đoàn
Giỏi giải thích rằng cụ Phan có ý ám chỉ
"quan hệ ngoại giao giữa Quang Trung và Càn Long ngày
xưa không khác gì quan hệ hữu nghị giữa ta và
Trung Quốc ngày nay, một con cáo và một con sói đồng
tình vật chết một con dê".(Xem Trăm Hoa Đua
Nở Trên Đất Bắc, trang 94)
Ngoài việc đả kích tư tưởng
đấu tranh giai cấp, căn bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin, Phong Trào Nhân Văn - Giai Phẩm còn kêu gọi
mọi người đứng lên chống lại chủ
nghĩa đó. Trong bài "Tiếng Hát", một vở
kịch thơ ngắn, Hoàng Cầm đã cất tiếng
kêu gọi qua tiếng hát của Trương Chi:
Nào người quả phụ trắng khăn tang
Nào đứa em mồ côi khát sữa
Nào ai sống nhục chết oan
Nào ai tan lìa đôi lứa
Nghe tiếng hát này...
để ám chỉ những nạn nhân
của cải cách ruộng đất, và tiếp theo đó
kêu gọi mọi người hãy theo "Tiếng gọi
của trời cao, của đất rộng" quyết
"Vượt qua tường đá" của hệ
thống kềm kẹp áp bức của Việt cộng.
Một mặt chống đường
lối chủ trương Đấu Tranh Giai Cấp
của Đảng, một mặt khác Phong Trào Nhân Văn
- Giai Phẩm đánh thẳng vào hệ thống lãnh đạo
Đảng gồm có con người và tổ chức.
Về con người lãnh đạo, các văn nghệ sĩ
đánh từ Hồ Chí Minh trở xuống cho tới các
cán bộ cao cấp Trung Ương như Trường
Chinh, các cán bộ lãnh đạo văn nghệ như
Tố Hữu, Hoài thanh, Xuân Diệu mà mọi người
gọi là những tên "cai văn nghệ".
Một nhà thơ trẻ là Lê Đạt
đã dám ví Hồ Chí Minh như cái bình vôi:
Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại
Cụ Phan Khôi còn viết bài "Ông Bình Vôi"
trong Giai Phẩm Mùa Thu tập I, với một câu giải
thích rằng cái bình vôi sống lâu "cũng như pho tượng
đất hoặc gỗ không nói năng, không nhúc nhích,
thì người ta tôn thờ sùng bái mà gọi bằng
"Ông". Chẳng những cụ đánh thẳng vào
Hồ Chí Minh mà còn đánh luôn những bọn văn nô
đã tôn thờ sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh nữa.
Cụ Phan Khôi còn chọc quê Hồ Chí Minh là Ông Bình Vôi
vì Hồ Chí Minh đã phạm tội tầy đình trong
cuộc cải cách ruộng đất, mà còn giả đò
ù lỳ vô trách nhiệm, phủi tay chối tội và
bắt Trường Chinh chịu tội thay cho mình.
Bài thơ "Nhất định thắng"
của Trần Dần đã khiến nhà thơ này bị
ngồi tù, bị đấu tố và đã dùng lưỡi
dao cạo cứa cổ tự tử mà không chết.
Trần Dần là nhà văn Đảng viên thuộc
giới trẻ trong Phong Trào Nhân Văn - Giai Phẩm, đã
tham dự trận Điện Biên Phủ, sau đó vì
chống Đảng mà bị đi tù ở Việt
Bắc. Tới khi dư luận chống đối của
giới trí thức kháng chiến trở nên quá sôi nổi,
Trần Dần mới được Việt cộng
đưa về miền đồng bằng và bắt
đi theo chiến dịch cải cách ruộng đất.
Tiếp theo đó xảy ra Phong Trào Nhân Văn - Giai
Phẩm, Hoàng Cầm là bạn của Trần Dần đã
đem in một bài thơ của Trần Dần vốn
được viết từ năm 1954 với nội dung
đấu tranh chống đối, đồng thời
đề nghị Trần Dần viết thêm một đoạn
cho có "lập trường tốt" như thế
mới được phép xuất bản và đặt tên
bài thơ là "Nhất định thắng". Ngay trong
phần đầu có tính chất đấu tranh, Trần
Dần cũng đánh bằng những đòn rất kín
khiến Việt cộng dù đem ông ra đấu tố,
cũng chỉ bắt bẻ bâng quơ về cách dùng
chữ không ổn, "phạm húy". Đọc bài thơ
Nhất định thắng của Trần Dần, người
ta phải đặt mình vào khung cảnh 1954 với không
khí bàng hoàng của Hiệp Định Genève cắt đôi
đất nước, hàng triệu người nông dân
miền Bắc hốt hoảng bỏ trốn cộng
sản, trong tâm tư họ còn hằn vết thương
đỏ lòm của đấu tranh Giảm Tô trước
1954, rồi cảnh gia đình xé đôi vì người
đi Nam kẻ ở lại Bắc (người vợ
trẻ của Trần Dần lạc lõng giữa Hà
Nội vì cha mẹ đã di cư), rồi cảnh bộ
đội Nam bộ tập kết được sử
dụng để đàn áp cuộc nổi dậy ở
Quỳnh Lưu. Có đặt mình vào hoàn cảnh 1954 người
ta mới mường tượng đọc ra được
những ẩn ý lên án Hồ Chí Minh chia đôi đất
nước bằng cách ký Hiệp Định Genève:
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Đất hôm nay tầm tã mưa phùn
Bỗng nhói ngang lưng, máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào chém trộm?
A! Cái lưỡi dao cùn
Không giết được, mà đau
Chúng định chém tôi làm hai mảnh
Ôi cả nước! Nếu mà lưng tôi lạnh
Hãy nhìn xem có phải vết dao?
Không đứt được mà đau!
Lưng Tổ Quốc hôm nay rướm máu.
Và kế đến là cảnh đát nước
miền Bắc ngập trong điêu linh dưới chế
độ mới:
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ....
Rồi bằng những câu hỏi "buộc
tội" đối với trách nhiệm về phong trào
di cư, Trần Dần cầm bút chỉ vào Hồ Chí
Minh:
"Họ vẫn ra đi
Nhưng sao bước rã rời?
Sao họ khóc? Họ có gì thất vọng?"
Và:
"Ai dẫn họ đi?
Ai?
Dẫn đi đâu? Mà họ khóc mãi thôi"
Và cũng vẫn bằng những câu
hỏi làm Việt cộng không trả lời được:
Ai có lý và ai có lực?
Ai người tin? Ai kẻ ngã lòng tin?
Cuối cùng, Trần Dần phang bốn câu
làm cán bộ lãnh đạo văn hóa của Việt
cộng hết nhịn nổi:
Ôi! Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người
Người vẫn thường kinh hoảng trước tương lai
Người quên mất Mỹ là sư tử giấy
Người vẫn vội -
Người chưa kiên nhẫn mấy.
Trần Dần bị hạch tội đã
dùng danh từ "Người" viết bằng chữ
lớn xưa nay được cán bộ Việt cộng
dùng để chỉ Hồ Chí Minh với sự tôn sùng
tột độ. Tuy Trần Dần bị bỏ tù nhưng
cán bộ Việt cộng không dám nói đích danh tội
phỉ báng Hồ Chí Minh của Trần Dần cũng như
của cụ Phan Khôi. Giống như dưới thời
đại "cực kỳ phong kiến", riêng
việc nhắc tới những lời "khi quân"
phỉ báng của người khác cũng đủ là
một sự phạm thượng đại nghịch, và
không một tên Việt cộng nào dám làm.
Ngoài việc tấn công tên đầu
sỏ của Việt cộng, các văn nghệ sĩ và
trí thức miền Bắc còn đả kích hệ
thống lãnh đạo Việt cộng qua tổ chức
"Hội các nhà văn", tổ chức Mậu
Dịch Quốc Doanh, đồng thời đả kích tính
chất phi pháp của cải cách ruộng đất qua bài
tham luận của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường
mà ta sẽ có dịp đề cập tới trong một
đoạn khác.
Trên đây ta đã tóm lược cuộc
đấu tranh tiếp theo của Nhân Dân miền Bắc
để chống lại sự phản bội kháng
chiến của Hồ Chí Minh và cuộc tàn sát dã man qua
Cải Cách Ruộng Đất. Phong Trào Nhân Văn - Giai
Phẩm tượng trưng cho một cuộc nổi
dậy có tổ chức và tư tưởng chỉ đạo
quy mô hơn cả. Tuy nhiênnó cũng có nhược điểm
quan trọng và đã bị dập tắt sau khi Hồ Chí
Minh ký một sắc lệnh ngày 15-12-1956 chính thức
hủy bỏ quyền tự do ngôn luận, cấm lưu
hành tất cả các nhật báo, tạp chí, sách vở văn
nghệ phẩm chống đối.
Trước khi ký sắc lệnh bịt
miệng văn nghệ sĩ, Hồ Chí Minh đã phóng ra
một chiến dịch dùng báo chí Đảng chụp mũ
tội "gián điệp" của Pháp và của
Mỹ lên đầu nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, tổ
chức học tập khắp nơi, và cán bộ Đảng
thúc đẩy các đoàn thể công nông binh, học sinh
và dân Nam bộ tập kết ký kiến nghị tự xưng
là "mọi từng lớp nhân dân" đòi nhà nước
trừng trị nhóm Nhân Văn. Sau khi bịt miệng văn
nghệ sĩ, Việt cộng chỉ cho phép báo của
Đảng múa võ một mình. Hội văn nghệ
của Đảng được chỉ thị cho ra báo Văn.
Nhưng múa võ một mình trong một thời gian, báo Văn
trở nên nhạt nhẽo quá khiến ban chủ nhiệm
cũng phải cảm thấy nản, và quay ra chống
Đảng bằng cách đăng những bài của nhóm
Nhân Văn Giai Phẩm. Việt cộng bèn đàn áp
thẳng tay, bắt 304 văn nghệ sĩ đi chỉnh
huấn, sau đó đi "Lao Động Cải Tạo"
ở những vùng rừng thiêng nước độc
của Việt Bắc. Hành động bịt miệng và
đàn áp thẳng tay đối với văn nghệ sĩ
đã tạm thời chấm dứt một hình thức
chống đối trên Mặt Trận Văn Hóa, nhưng
chưa chấm dứt phong trào đấu tranh của nhân
dân dưới các hình thức khác. Cuộc đấu
tranh phi quy ước giữa Việt cộng và các
tầng lớp nhân dân bị áp bức còn đương
diễn ra trên Mặt Trận Kinh Tế qua các giai đoạn
tiếp theo gồm có công hữu hóa ruộng đất vườn
ao, hợp tác xã cấp thấp, hợp tác xã cấp
cao,v.v...
Các cuộc đấu tố của giai
đoạn đã qua cho tới năm 1956 mới chỉ là
Màn I của tấn kịch cải cách ruộng đất.Giai
đoạn đấu tranh từ 1951 đến 1956
đưa tới vụ sửa sai và Phong Trào Nhân Văn -
Giai Phẩm có một số đặc điểm rất
điển hình đáng cho ta ghi chép lại đây.
--------------------------------------------------------------------------------
IV. Những Đặc Điểm
Của Giai Đoạn Cải Cách Ruộng Đất
1951-1956 Đưa Đến Chiến Dịch Sửa Sai
Những nỗ lực và những hoạt
động của cộng sản nhằm dành giựt
quyền lực hoặc từ vai trò có quyền lực
trong tay để đàn áp quần chúng nhân dân, tất
cả đều là những nỗ lực và hoạt động
của chiến tranh mặc dầu nhiều khi không có
tiếng súng nổ. Đó là cuộc chiến tranh diễn
ra từ 1951 tới 1956 phối hợp hai loại đặc
điểm nổi bật:
- Những đặc điểm có tính cách chiến tranh phi quy ước
- Những đặc điểm có tính cách
Mác-xít Lênin-nít điển hình
Nếu ta còn nhớ những đặc
điểm của chiến tranh phi quy ước trong bài
nghiên cứu đầu tiên đại cương về
chiến tranh quy ước và phi quy ước, ta sẽ
thấy lại những đặc điểm này trong
cuộc cải cách ruộng đất của giai đoạn
1951-1956.
1. Dựa vào lực lượng quần
chúng
Đây là một đặc điểm điển hình của chiến tranh phi quy ước cũng như của chiến dịch Đấu Tranh Chống Phản Động, Đấu Tranh Giảm Tô, Đấu Tranh Cải Cách Ruộng Đất. Để tiêu diệt mầm mống chống đối, Việt cộng đã không sử dụng biện pháp pháp lý, biện pháp hành chánh, hay sử dụng cảnh sát công an, quân đội, mà đã huy động nông dân, bằng cách nhóm Đại Hội Nông Dân, dùng các "đội đấu tố" và "đội cải cách" xâm nhập vào dân để xách động dân, làm như thể nông dân đứng chủ động đòi tiêu diệt phản động, tiêu diệt địa chủ. Việt cộng còn công khai giải tán hệ thống hành chánh xã trong giai đoạn "đội cải cách" về làng phát động đấu tranh, bề ngoài làm như đề cao quyền lực của nông dân, nhưng thực sự bên trong là gán ghép trách nhiệm cho dân, làm cho bàn tay nông dân có dây máu địa chủ, nghĩa là nếu họ không có chủ động thì ít ra cũng là kẻ đồng lõa tội ác.Tại sao họ Hồ lại cần có liên minh tội ác đó? Theo sự suy đoán của các hồi chánh viên có liên hệ tới cải cách ruộng đất thì một trong những lý do có tính cách chiến lược là tương quan lực lượng giữa Đảng và giới địa chủ, phú nông, trung nông và tất cả nông dân hữu sản cho thấy Đảng là thiểu số. Quan niệm dựa vào lực lượng quần chúng vừa là một đặc điểm của chiến tranh phi quy ước lại vừa phù hợp chủ trương cố hữu của cộng sản và kỹ thuật đấu tranh của cộng sản. chủ trương của cộng sản là tiêu diệt tư hữu, tiêu diệt tư sản, tất nhiên phải tiêu diệt địa chủ là những phần tử tư sản "ngoan cố" nhất. Kỹ thuật đấu tranh của cộng sản là "lấy mâu thuẫn giải quyết mâu thuẫn": nghĩa là Tạo ra mâu thuẫn giữa các lực lượng thù địch đẩ các lực lượng này tiêu diệt lẫn nhau và cộng sản ngồi rung đùi hưởng lợi. Đó là chiến lược xúi Ngô đánh Ngụy để mình lấy ngon đất Kinh Châu (Tam Quốc Chí). Áp dụng vào trường hợp đấu tranh cải cách ruộng đất, "lấy mâu thuẫn giải quyết mâu thuẫn" là lấy bần cố nông giải quyết bài toán địa chủ. Nếu dùng biện pháp pháp lý để cải cách ruộng đất như các nước Á Châu khác, Việt cộng phải quốc hữu hóa hoặc mua rẻ ruộng đất của địa chủ rồi chia cho nông dân, như thế đích thân Đảng phải đối phó với khoảng 1 triệu người thuộc thành phần địa chủ phú nông và trung nông, mà trong đó có nhiều người có công với kháng chiến, có uy tín với dân. Tự lực đối phó với khoảng 1 triệu có tư sản, trong khi đảng viên nòng cốt của Việt cộng lúc đó chưa đầy 500 ngàn người là một việc nguy hiểm.
2. Bất chấp pháp lý, bất chấp
quy ước hành chánh
Đây là đặc điểm thứ hai
của cộng sản khi áp dụng hình thái chiến tranh
phi quy ước vào cải cách ruộng đất.
Chẳng những Việt cộng không sử dụng các
biện pháp pháp lý và các quy ước hành chánh thông thường,
mà chúng còn trắng trợn vi phạm các nguyên tắc pháp
lý và hành chánh được coi là khuôn mẫu để
duy trì trật tự quốc gia và xã hội của các nước
văn minh từ 400 năm qua.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường,
qua bài diễn văn đọc ngày 30-10-1956 trong một
cuộc họp của Mặt Trận Tổ Quốc Hà
Nội, đã nêu lên những vi phạm nguyên tắc pháp
lý, trong Cải Cách Ruộng Đất:
a) Nguyên tắc thứ nhất: Không hành
phạt các tội đã phạm quá lâu rồi mới
bị khám phá vì khó xác định các bằng chứng
buộc tội. Khi buộc tội một người
với những bằng chứng hồ đồ, xã
hội sẽ tạo ra những tiền lệ bất công
làm mất uy tín của cơ chế cầm quyền và gây
xáo trộn xã hội. Việt cộng đã vi phạm thô
bạo nguyên tắc thư nhất khi mớm cung cho
những bần cố nông vu oan gia họa cho nạn nhân
Cải Cách Ruộng Đất về những tội đã
phạm từ mấy chục năm trước, dựa vào
những bằng chứng hồ đồ (như hồi chánh
viên Nguyễn Văn Thân đã tường thuật).
b) Nguyên tắc thứ hai: Theo lời
Luật sự Nguyễn Mạnh Tường: Trách nhiệm
của phạm nhân thì chỉ một mình phạm nhân
phải chịu, không có trách nhiệm chung với vợ
con, của gia đình", chỉ trong thời đại
phong kiến dã man mới có luật tru di tam tộc để
trừng phạt bà con họ hàng của người có
tội. Nhưng riêng trong chế độ Việt cộng,
không những thân nhân của người có tội
phải trả nợ máu, mà ngay cả những người
không có liên hệ máu mủ gì với nhau mà cũng
bị chết chùm với nhau vì mang cái nhãn hiệu chung là
địa chủ, phú nông. "Kích tỷ lệ" là
một vi phạm thô bạo của nguyên tăc thứ hai
về pháp lý.
c) Nguyên tắc thứ ba: Theo luật sư
Nguyễn Mạnh Tường là "muốn kết án
một người phải có bằng chứng xác đáng.
Phải có nhân chứng là những kẻ đã mục kích
sự phạm pháp và cung khai một cách cụ thể, rõ
ràng và chắc chắn. Một nhân chứng thôi cũng chưa
đủ, ít ra phải có hai nhân chứng khai phù hợp
với nhau, mới được là đáng kể... Khi nêu
lên nguyên tắc thứ ba trên đây, có lẽ ông
Nguyễn Mạnh Tường muốn ám chỉ những
vụ Đấu Giảm Tô như anh Nguyễn Văn Thân
thuật lại, ví dụ: "Một cái sẹo cũ vì
bị ngã từ hồi còn bé sẽ được trình bày
là vết dao chém của địa chủ ác ông...
Hoặc nếu một bà lão rụng hết tóc vì già hay vì
bệnh hoạn thì sẽ dùng chứng tích này để
tố địa chủ nắm tóc giật đánh", (xem
bài trước). Những bằng chứng cần thiết
để chứng tỏ vết dao chém tối thiểu là
phải trình bày được con dao có vết máu của
nạn nhân. Vì bất chấp nguyên tắc thứ ba trên
đây, trong giai đoạn "Đấu tranh chống
phản động" đội cải cách của
Việt cộng đã "mớm cung theo dây chuyền",
khiến nhiều nạn nhân đã khai lung tung ra ngoài
sự dự liệu của cán bộ Đảng và làm trò
cười cho đấu trường cải cách, cũng
như làm trò cười cho lịch sử mai hậu.
d) Nguyên tắc pháp lý thứ tư: "Thủ
tục điều tra, xét xử phải bảo đảm
quyền lợi của bị tố nhân. Bị tố nhân
có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình, và khi
thiếu điều kiện nhờ luật sư, khi nào là
một trọng tội, tòa phải cử luật sư bào
chữa không, cho bị can... Khi điều tra, thẩm
vấn, tuyệt đối không được dùng phương
pháp tra khảo, đánh đập, hành hạ bị cn,
mớm cung cho bị can, dọa nạt hay dụ dỗ
đương sự"...
3. Thủ Tiêu Chế Độ Pháp
Trị Chân Chính
Một chế độ pháp trị chân chính
phải xác định rõ đâu là quyền lợi và trách
nhiệm của mỗi người từ thường dân
cho tới người lãnh đạo. Việt cộng
chẳng những thủ tiêu quyền lợi của người
dân qua việc bất chấp các nguyên tắc pháp lý căn
bản, mà còn lờ luôn trách nhiệm pháp lý của
cấp lãnh đạo đảng, nhất là họ Hồ,
tên chủ mưu trong chiến dịch Cải Cách Ruộng
Đất đẫm máu. Về điểm này ông
Nguyễn Mạnh Tường viết: ..."Trước
hết, bức thư của ông Hồ Viết Thắng
tự phê bình và xin rút lui khỏi Mặt Trận Trung
Ương chỉ là một giải pháp chính trị mà thôi..."
"...là một nhà luật học, tôi chưa thể nào
nhận định được trách nhiệm của ông
Thắng. Có thể trách nhiệm của ông ấy rất
lớn, có thể rất nhỏ. Đứng trên tinh
thần pháp lý, sự nhận tội lỗi của
một người không đủ để quy định
trách nhiệm của người ấy...".
Lập luận của ông Nguyễn Mạnh
Tường có ý nói rằng:
Thứ nhất: Giải pháp hạ tầng
công tác Trường Chinh và sự từ chức của
Hồ Viết Thắng chỉ là một giải pháp chính
trị, và nếu ngưng ở đó, Việt cộng
đã cố tình xí xóa trách nhiệm pháp lý đối
với các vụ sát nhân có mưu định rõ ràng. Và
ông Tường gọi đó là "chính trị lấn áp
pháp lý".
Thứ hai: Trách nhiệm của Hồ
Viết Thắng có thể rất lớn, có thể
rất nhỏ, nghĩa là nếu Hồ Viết Thắng
chỉ là một kẻ thừa hành, thì cần phải
truy nguyên ra cái trách nhiệm pháp lý cao chót vót là Trung
Ương Đảng và Hồ Chí Minh. Không xác định
quyền lợi cùa người dân và trách nhiệm pháp lý
của Đảng và nhà nước Việt cộng đã
thủ tiêu chế độ pháp trị chân chính. Mà
thủ tiêu chế độ pháp trị chân chính là
một đặc điểm có tính cách Mác-xít Lênin-nít
điển hình. Và nó là nguyên nhân của bao xương máu,
chết chóc và đau thương diễn ra trên đất
Việt Nam từ hơn 30 năm nay.
Bài nghiên cứu này kết thúc một giai
đoạn đặc biệt của Cải Cách Ruộng
Đất ở miền Bắc, và không có nghĩa
cuộc cải cách ruộng đất của Việt
cộng đã chấm dứt khi ruộng đất
được lấy từ địa chủ để
chia cho nông dân nghèo. Không! Sau khi chia ruộng cho nông dân nghèo,
Việt cộng đã từ từ lấy lại hết
tất cả ruộng đất tài sản của họ
qua các chiến dịch Tổ Đổi Công, Hợp Tác Xã
Cấp Thấp, Hợp Tác Xã Cấp Cao,v.v... song hành
với các kế hoạch kinh tế 3 năm, kế
hoạch kinh tế 5 năm,v.v.. mà chúng ta sẽ nghiên
cứu trong những bài tới.
Trong phần kết luận của bài này,
chúng ta hãy đưa ra một nhận xét về trách
nhiệm chính trị và pháp lý của một hành động
liên quan đến trật tự công cộng và tính
mạng của người dân.
Một người thường dân
phạm tội giết người phải chịu trách
nhiệm pháp lý cho hành động đó. Nếu việc
giết người có chủ mưu, đó là một
trọng tội về hình sự, và hình phạt thường
là lấy mạng đền mạng. Một cấp lãnh
đạo chính trị, nếu giết người có
chủ mưu vì mục đích chính trị thì phải
chịu trách nhiệm về pháp lý, và sau đó còn
phải chịu thêm trách nhiệm về chính trị. Trách
nhiệm pháp lý càng gia tăng gấp bội nếu là
tội tàn sát nhiều người với sự dự mưu
kỹ càng. Một chế độ, một tập đoàn
thống trị phạm tội tàn sát tập thể
cả trăm ngàn người cũng phải chịu trách
nhiệm chính trị và pháp lý như trường hợp
chế độ phát xít Đức, phát xít Ý và quân
phiệt Nhật,v.v... Những kẻ lãnh đạo, tùy
theo trách nhiệm và sự dự mưu đều phải
đền tội cả về phương diện chính
trị và pháp lý. Trước hết bị tước
hết quyền hành chính trị và sau đó lấy
mạng đền mạng.
Công lý đã được thi hành tại
Đức, tại Ý, tại Nhật, sau Đệ Nhị
Thế Chiến, và trật tự quốc gia nhờ đó
đã được tái lập tại Đức, tại
Ý, tại Nhật. Nhưng cũng kể từ sau Đệ
Nhị Thế Chiến, vì Liên Xô không bị trừng
phạt về những tội diệt chủng nên các
chế độ cộng sản từ Âu sang Á đã
thừa kế thủ tiêu nền pháp trị chân chính. Chúng
phủi tay chối bỏ mọi trách nhiệm pháp lý đối
với tội ác của chúng vì nhân dân bất lực trước
họng súng đàn áp, và vì công lý không có sức
mạnh để thực thi.
Ở Việt Nam, Hồ chí Minh và đảng
Việt cộng đã phạm nhiều tội ác chồng
chất. Tội tàn sát trong Cải Cách Ruộng Đất
chỉ là một trong nhiều tội ác tày đình
của chúng trong hơn 30 năm qua. Mỗi lần gặp
khó khăn vì nhân dân ta đấu tranh, chúng lại tìm cách
xoa dịu, xí xóa, khi thì bằng chính sách sửa sai, khi thì
bằng chính sách nới lỏng các biện pháp kềm
kẹp kinh tế, khi thì bằng màn xiệc "đổi
mới tư duy". Nhưng luôn luôn có nhiều người
bị chúng lường gạt, và mỗi lần như
thế, Việt cộng lại chối bỏ được
trách nhiệm về tội ác, và trở nên mạnh hơn
khi những nhóm người hoặc thế lực ngu
xuẩn giúp chúng cơ hội và phương tiện
phục hồi sức mạnh để tiếp tục
tội ác.
Ngày nay, dân ta đã thức tỉnh, và đã đấu tranh mạnh mẽ buộc Việt cộng phải lãnh trách nhiệm đối với tội ác của chúng. Dân ta cương quyết thì hành động công lý bằng cách lật đổ chế độ Việt cộng và thiết lập một nền pháp trị chân chính, nghĩa là bất cứ tập đoàn nào phản nước hại dân phải chịu trách nhiệm chính trị và pháp lý trước toàn dân, tức là trả lại quyền hành chính trị và chịu sự phán đoán của luật pháp quốc gia. Nhân Dân Việt Nam coi những biện pháp "sửa sai" hoặc "cởi mở" hoặc "đổi mới" hoặc "hòa giải hòa hợp" là những trò xiệc bịp bợm để bịp những nhóm người ngu xuẩn, hoặc đón gió làm tay sai cho ngoại bang.
(Phần kế…)