Cuộc cải tạo Nông Nghiệp tại miền Bắc - 4
Trich tu Dan Chu - Võ Trường Sơn
Mục tiêu của Hợp Tác Hóa Nông Nghiệp
Giai Đoạn Tổ Đổi Công
Giai Đoạn
Hợp Tác Xã Cấp Thấp
Nguyên Tắc Căn Bản
Chế Độ Đóng Góp
Chế Độ Hưởng Thụ
Phản Ứng Của Nông Dân
Mục Tiêu Của Hợp Tác Hóa Nông
Nghiệp: Khống Chế Nông Dân Bắc Việt
Giai đoạn đấu tố địa
chủ và lấy ruộng đất chia lại cho bần
cố nông chỉ là màn I của tấn kịch Cải Cách
Ruộng Đất. Mỗi bần cố nông được
chia một mảnh đất nhỏ, một số nồi
niêu, xoong chảo, bàn ghế, giường nằm của
địa chủ, cuốc xẻng cầy bừa, kể
cả chổi cùn, rế rách. Đối với bần
cố nông chất phác, đây là một cuộc đổi
đời chưa bao giờ họ ngờ tới. Trong
thời kỳ đấu tố địa chủ, các
bần cố nông bị xúi giục, bị áp lực
của cán bộ Đảng đi đến chỗ đồng
lõa tội ác nhúng tay vào máu địa chủ; nhưng
đến giai đoạn sửa sai, họ bị trả
thù khiến nhiều người phải bỏ nông thôn
chạy ra thành thị đi ở đợ. Những người
còn lại biết rằng số phận của họ khá
bấp bênh, tuy nhiên điều mà họ không ngờ
nhất là: Cuộc "đổi đời" chỉ
cho họ hưởng tài sản chiếm được
của địa chủ trong một thời gian rất
ngắn. Họ không biết rằng Đảng cho tay này
nhưng sẽ lấy lại bằng tay kia với những
thủ đoạn tráo trở lừa lọc tinh vi,
khiến ngay cả những người khôn ngoan, có
kiến thức hoặc có thế lực còn không thể
ngờ.... Sau khi đã lợi dụng bần cố nông
để đạt mục tiêu chiến lược giai
đoạn là đánh gục giai cấp địa chủ,
Việt cộng dần dần tước hết tài
sản của trung nông kể cả bần cố nông qua
chính sách công hữu hóa toàn bộ ruộng đất vườn
ao.
Cuộc cải cách được gọi là
"long trời lở đất" ở miền Bắc
đã đập nát các giai cấp, các thế lực
ở nông thôn. Đối với giai cấp phú nông địa
chủ, đó là một kinh nghiệm đẫm máu mà
họ nhớ và sợ cho đến suốt đời.
Đối với giai cấp trung nông, tuy chưa nếm mùi
đau đớn nhục nhã, nhưng họ biết họ
chỉ là con cá đang nằm trên thớt. Còn giới
bần cố nông, những người chất phác, chưa
có kinh nghiệm lãnh đạo, thì mặc dầu cuộc
cải cách ruộng đất ban cho họ một số
quyền lợi, họ thừa biết người đứng
chủ mưu là Việt cộng. Nhưng họ không
thể kết hợp thành một lực lượng nào
đáng kể.
Tóm lại, ở nông thôn không có một
lực lượng nào tồn tại để thách
thức quyền lực của Đảng. Tất cả
chỉ là những cá nhân bị bỏ rơi đơn
độc, không nơi nương tựa, trừ bần
cố nông được dựa vào Đảng để
hưởng một số ưu thế nếu chịu làm
tay sai cho Đảng. Khối dân chúng nông thôn hoàn toàn tan
rã. Mặc dầu có chiến dịch sửa sai, phục
hồi danh dự cho người có công với kháng
chiến, nhưng chiến dịch này chỉ cứu
được một số người còn sống trong tù,
chứ không cứu được cả trăm ngàn người
đã bị chôn dưới đất. Hơn nữa
chiến dịch sửa sai không tái lập giai cấp cũ
vì Việt cộng xác nhận đường lối
cải cách ruộng đất là đúng, chỉ có
những cá nhân phạm phải sai lầm mà thôi.
Sau khi chiến dịch sửa sai đã làm
xẹp cơn thịnh nộ của quần chúng, Việt
cộng phải đối phó với Phong Trào Nhân Văn
Giai Phẩm. Mặc dầu phong trào này có đường
lối quy mô (xem cuốn Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất
Bắc) nhưng không có tổ chức sâu rộng và không
có sức mạnh vũ trang trong tay nên sau một thời
gian đã bị Việt cộng đàn áp thẳng cánh.
Giải quyết được Phong Trào Nhân
Văn Giai Phẩm, Việt cộng đã triệt hạ
được lực lượng căn bản chống
lại đường lối vô sản chuyên chính, chúng bèn
tiến hành luôn giai đoạn kế tiếp của
Cải Cách Ruộng Đất. Đó là nội dung
của bài nghiên cứu kỳ này.
Kể từ cuối năm 1955 và đầu
năm 1956, chính sách ruộng đất ở miền
Bắc của Việt cộng đã được
lồng vào trong khuôn khổ đường lối công
hữu hóa tư sản và tư bản được
tiến hành qua nhiều bước liên tiếp nhau,
gọi là những "kế hoạch" kinh tế 3 năm
hoặc 5 năm. Những kế hoạch kinh tế này
nhắm vào hai ngành chính là Nông Nghiệp và Công Nghiệp
(Công nghiệp là danh từ Việt cộng để
chỉ kỹ nghệ). Ngành Thương Nghiệp sẽ
bị Việt cộng bóp chết dần theo đúng
chủ trương đường lối Mác-xít không
chấp nhận giới thương nhân trung gian trong
guồng máy kinh tế cộng sản.
Trong giai đoạn từ 1959 tới 1970,
Việt cộng đã theo đuổi những kế
hoạch kinh tế sau đây:
- Kế hoạch 3 năm lần thứ nhất (1955-1957).
- Kế hoạch 3 năm lần thứ nhì (1955-1960.
- Kế hoạch hoàn thành và chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm (1960-1961).
- Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).
- Kế hoạch 5 năm lần thứ nhì
(1966-1970).
Trong khuôn khổ nói trên, đợt Cải
Cách Ruộng Đất đưa đến "sửa
sai" là một phần căn bản của kế
hoạch 3 năm lần thứ nhất. Nó giúp Đảng
đánh gục giai cấp địa chủ và nhất là
các thành phần chống đối bị coi là nguy
hiểm, để dọn đường tiến tới
mục tiêu tối hậu là truất hữu toàn bộ
ruộng đất tài sản của nông dân sát nhập vào
tài sản Nhà Nước. Làm sao cộng sản Việt
Nam có thể ăn cướp một cách trắng trợn
như vậy mà nông dân lại cam chịu đắng cay,
và thế giới bên ngoài hầu như hoàn toàn không
biết gì hết? Để trả lời câu hỏi trên,
ta cần đi lần lượt qua các giai đoạn căn
bản của chính sách Công Hữu Hóa Ruộng Đất:
- Giai đoạn Tổ Đổi Công.
- Giai đoạn Hợp Tác Xã Cấp Thấp.
- Giai đoạn Hợp Tác Xã Cấp Cao.
Ba bước căn bản nói trên
được tiến hành nhịp nhàng với các kế
hoạch kinh tế 3 năm và 5 năm, nhưng có hai đặc
điểm rất quan trọng trong việc Việt
cộng thi hành đường lối chính sách mà ta
cần nắm vững.
Thứ nhất: Việt cộng luôn luôn
đặt ra những thí điểm để cho cán
bộ học tập kinh nghiệm và dạy lẫn nhau.
Thứ hai: Mỗi chính sách, mỗi giai
đoạn không nhất thiết phải được
tiến hành đều khắp trên toàn miền Bắc, nhưng
tùy thuộc vào điều kiện thực tế từng
vùng, ví dụ: Chính sách hợp tác xã cấp thấp có
thể hoàn thành tại một vùng và đẩy lên
hợp tác xã cấp cao, nhưng nếu tại những vùng
khác, điều kiện chưa cho phép thực hiện
hợp tác xã cấp cao, thì nông dân vẫn còn ở trong
hợp tác xã cấp thấp. Tình trạng này dẫn đến
những quy luật không đồng đều cho mỗi vùng,
chẳng hạn như tiêu chuẩn lương thực khác
nhau, và thuế nông nghiệp cũng khác nhau, cho mỗi vùng.
I. Giai Đoạn Tổ Đổi Công
Như đã trình bày, giai đoạn
tổ đổi công nằm trong kế hoạch 3 năm
lần thứ nhất sau khi kết thúc cuộc đấu
tố "long trời lở đất". Mỗi nông dân
đều được chia một mảnh đất
nhỏ để canh tác, phù hợp với tinh thần tư
sản thiên nhiên của con người. Trong không khí
mới đó, một số đông quần chúng la bần
nông đều cảm thấy hân hoan. Việt cộng khơi
dậy không khí vui vẻ phấn khởi bằng cách
phổ biến thơ văn của các văn nô như hai
câu thơ dưới đây:
Từ đây ta có đất cày
Con ơi bưng bát cơm đầy nhớ ai
(văn nô Trần Hữu Thung)
Không phải tất cả các bần nông
đều hăng hái cánh tác trên mảnh đất
mới. Có một số bỏ ra thành thị sinh sống,
một số khác cần tiền hoặc thiếu nông
cụ sản xuất nên bán ruộng đi để làm
thuê. Do đó, những người có khả năng mua
lại ruộng và có khả năng canh tác trở nên sung
túc hơn. Đó là điều Việt cộng kỵ
nhất, vì khi có sự tích lũy tư sản trong tay
một số người là có sự suy yếu quyền
lực của Việt cộng. Nhưng tình trạng này không
kéo dài vì Việt cộng tung hàng loạt cán bộ về
nông thôn tổ chức nông hội và "Nhóm sản
xuất". Một nhóm sản xuất là một tập
hợp từ 5 đến 10 hay 15 gia đình giúp nhau
sản xuất trong tất cả các công tác nông nghiệp.
Nhóm sản xuất là hình thức giới thiệu cho
"Tổ Đổi Công". Tổ đổi công cũng
tương tự như nhóm sản xuất nhưng số
gia đình tham gia lớn hơn, từ 25 đến 30 gia
đình. Một sự khác biệt quan trọng ở
sự giúp đỡ lẫn nhau dựa trên căn bản
trao đổi ngày công.
Để hướng dẫn về tổ
đổi công, cán bộ Việt cộng giải thích cho
nông dân như sau:
- Một anh nông dân A không có trâu để cày hoặc bừa mảnh đất cho kịp gieo mạ, có thể mượn trâu của anh nông dân B. Khi mạ đã lên, tới lúc cần cấy lúa, anh nông dân B tuy có trâu nhưng không sử dụng vào việc cấy lúa được, mà trong gia đình lại neo người. Vậy anh nông dân B có thể mượn người trong gia đình anh nông dân A để cấy lúa, cũng trên căn bản ngày công.
Một ngày công của một người cũng tính bằng một ngày công của trâu, và có thể trả bằng lúa, ví dụ 3 kg lúa một ngày công cho người thì cũng trả như vậy cho trâu. Với tổ đổi công, Đảng ủy xã ấn định một lịch trình theo đó các gia đình trong tổ luân phiên làm giúp nhau, mang cày bừa, cuốc xẻng đi canh tác giúp, hoặc sửa nhà, lợp mái cho các gia đình trong tổ.
Quan niệm của tổ đổi công
đã tạo một ấn tượng tốt trong đầu
nông dân, vì nó đưa ra những tiêu chuẩn đẹp
và đề cao tinh thần liên đới hỗ tương.
Không những thế, nó còn có vẻ hợp lý vì giúp nông
dân giải quyết được tình trạng bế
tắc khi thiếu phương tiện hoặc nông cụ
cánh tác để cho kịp "thời vụ". Ví
dụ nếu không kịp có trân để cày bừa thì
không kịp gieo mạ lúc ruộng đang có nước.
Nếu lấy sức người để cày bừa
sẽ quá lâu, và sau một trận nắng lớn đất
khô sẽ không cấy lúa được nữa, và ngôn
ngữ Việt cộng gọi là "không kịp thời
vụ".
Ngoài ra, trên phương diện kinh tế,
lối làm ăn trong tổ đổi công có các đặc
điểm (trên nguyên tắc) như sau:
- Quyền tư hữu ruộng đất vẫn còn được duy trì như trước.
- Quyền làm chủ hoa màu vẫn thuộc về người chủ đất nông dân.
- Công của ai người ấy hưởng.
Duy có ba ý niệm mà Việt cộng
muốn mớm cho nông dân qua hình thức tổ đổi
công:
Thứ nhất: Nếu có thể sử
dụng trâu bò, nông cụ của nhau, tại sao không
tập trung vào một nơi để sử dụng chung
(mở đầu cho giai đoạn hợp tác hóa nông
nghiệp).
Thứ hai: Trong tổ đổi công,
mọi người cùng chung vai làm việc tập trung nhân
lực, khiến cho dân quen dần với lối làm ăn
tập thể.
Thứ ba: Trong tổ đổi công có
tổ trưởng, tổ phó, tổ nông hội, tổ
thanh niên, tổ chức như công đoàn sau này, có sinh
hoạt học tập đôn đốc chủ trương
của Đảng, của nhà nước, đặc
biệt là chính sách thuế nông nghiệp. Với guồng
máy tổ chức này, một mặt Việt cộng gài cán
bộ vào làm tai mắt theo dõi hành vi và tư tưởng
chính trị của mỗi nông dân, một mặt đôn
đốc chuẩn bị dân sản xuất dưới
chiêu bài nhân dân làm chủ và Đảng lãnh đạo (chưa
tới giai đoạn Nhà Nước Quản Lý). Trong
mỗi buổi sinh hoạt tổ hoặc sinh hoạt
rộng lớn hơn, thành phần Đảng viên thường
len lỏi vào chiếm chừng một phần ba, thành
phần cảm tình viên cũng vào khoảng một
phần ba, và đã được Đảng vận
động trước để ủng hộ những
đề nghị có lợi cho chính sách Đảng. Như
vậy bất cứ những nghị quyết nào quan
trọng đều được hai phần ba biểu
quyết, lợi cho Đảng mà bề ngoài Đảng
vẫn khoe khoang là dân chủ vì dân quyết định
mọi việc.
Trong giai đoạn Tổ Đổi Công,
thuế nông nghiệp bắt đầu tăng cao. Ngay
ở những vùng đất nghèo nàn cằn cỗi như
phía Nam Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, thuế nông
nghiệp cũng từ 20% đến 25%, nghĩa là cứ
1000 kg thóc thì phải nộp tới 250 kg, và số thóc
đó phải phơi thật khô và quạt thật
sạch. Ở những vùng đất tốt như Thái Bình
Nam Định, thuế nông nghiệp còn cao hơn nữa,
và nói chung, thuế nông nghiệp có tiêu chuẩn cố
định, bất kể thiên tai, hạn hán hoặc
lụt lội.
Việc tiến hành kế hoạch Tổ
Đổi Công không đồng loạt và đều
khắp trên toàn cõi Bắc Việt, vì Việt cộng
rất dè dặt và tiến hành làm nhiều đợt
tại nhiều thí điểm khác nhau. Tại khu Tự
Trị Việt Bắc (xem bản đồ) gồm các
tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng,
Bắc Kạn, kế hoạch tổ đổi công mãi
tới năm 1964 mới bắt đầu. Như vậy,
cho tới tháng 12-1958 kế hoạch tổ đổi công
vẫn chưa thực hiện xong hết trên toàn miền
Bắc, chỉ mới có 65% gia đình nông dân tham gia
tổ đổi công. Tuy nhiên, tại những nơi mà
tổ đổi công tiến triển điều hòa thì
chế độ hợp tác xã cấp thấp bắt đầu
được thí nghiệm.
Trong giai đoạn tổ đổi công,
đời sống nông thôn Bắc Việt tương
đối còn tạm dễ thở. Mặc dầu có
một số cá nhân đi làm thuê, nhưng những gia
đình đông người nhờ nhiều nhân công đã
sản xuất nhiều, trở nên sung túc, mua thêm trâu cày,
mua thêm nông cụ. Những gia đình ít người, tuy
sản xuất ít hơn, nhưng vì ít miệng ăn nên cũng
dành dụm được ít tư sản. Đó là
hiện tượng "tích lũy tư bản" mà
cộng sản không chấp nhận. Thực ra, giai đoạn
công hữu hóa đã được hoạch định
tiếp theo để giải quyết vấn đề tích
lũy tư bản này. Một ích lợi hiển nhiên
trong giai đoạn tổ đổi công là Việt
cộng đã có cơ hội ước lượng chính
xác năng suất trung bình của nông dân, để đo
lường trước xem tối thiểu có thể bóc
lột được của nông dân là bao nhiêu khi bước
lên giai đoạn hợp tác xã cấp thấp (danh từ
Việt cộng dùng để chỉ thủ đoạn bóc
lột này là: "Giải Phóng Sức Sản Xuất").
Tổ Đổi Công
Thời điểm
thực hiện Số Tổ
Đổi Công Tỷ số gia đình
tham gia Tài Liệu
10-1957 72000 24,3% Báo Nhân Dân 3-10-57
11-1957 8569 29% Báo Nhân Dân 28-11-57
01-1958 102000
07-1958 137600 31,6% VNI 15-8-58 (+)
10-1958 203582 51,1% VNI 23-1-59 (+)
12-1958 300000 (++) 65% Đài Hà Nội 29-12-58
Ghi chú:
(+) VNI: Tạp chí Viet Nam Information xuất bản ở Rangoon
(++) 300000 tổ đổi công gồm khoảng 2 đến 3 triệu gia đình nông dân
II. Giai Đoạn Hợp Tác Xã Cấp Thấp
Trong khi chế độ Tổ Đổi Công
chưa hoàn tất đều khắp trên toàn cõi Bắc
Việt, thì vào năm 1958, nghị quyết 14 của Trung
Ương Đảng Lao Động Bắc Việt đề
ra nhiệm vụ và mục đích của Kế Hoạch
3 Năm lần thứ hai là để "Xây Dựng
Nền Kinh Tế Dân Chủ Nhân Dân", khác với
nền kinh tế trong giai đoạn Tổ Đổi Công
mà Việt cộng gọi là Nền Kinh Tế Dân Tộc Tư
Sản.
Cán bộ Việt cộng tổ chức
học tập khắp nơi về nhu cầu phải vượt
qua giai đoạn Kinh Tế Dân Tộc: "Cảnh Làm Thuê
Cho Chủ" vẫn còn, từ đó đưa đến
tình trạng bất bình đẳng, và kềm chế
sức sản xuất, vậy phải tiến lên giai đoạn
kinh tế dân chủ nhân dân để "giải phóng
sức sản xuất và thành lập quan hệ kinh tế
bình đẳng giữa con người.
Hệ thống sản xuất mới trong
ngành nông nghiệp được gọi là Hợp Tác Xã
Cấp Thấp. Cùng lúc với Hợp Tác Xã Cấp
Thấp ở nông thôn, có cuộc cải tạo Công Thương
Nghiệp Tư Bản Tư Doanh ở thành thị mà ta
sẽ nghiên cứu sau này. Mặc dầu từ cuối năm
1957 trong khi các tổ đổi công chưa hoàn tất,
một số Hợp Tác Xã Cấp Thấp đã được
phát động làm thí điểm, nhưng chính thức vào
năm 1958 phong trào Hợp Tác Xã Cấp Thấp mới ra
đời, và được thực hiện sớm
muộn tùy nơi. Nhất là tại Khu Tự Trị Thái
Mèo và ở Việt Bắc như Tuyên Quang, Thái Nguyên v.v...,
phong trào hợp tác xã được thực hiện
rất muộn vì Đảng còn phải ve vuốt các nhóm
thiểu số.
Khi chế độ Hợp Tác Xã mới ra
đời, Việt cộng chưa bắt buộc toàn
thể dân chúng phải gia nhập, và phần lớn
chỉ có đảng viên, giai cấp bần nông gia
nhập trước và được hưởng
những ưu quyền như con em được đi
học, xã viên được cấp phân bón, nông cụ
v...v....
Những khẩu hiệu trong giai đoạn
này là:
Đảng viên đi trước
Làng nước đi sau,
Đoàn viên đầu tàu
Vào hợp tác xã.
Việt cộng đã phát động phong
trào hợp tác xã một cách rầm rộ như một
đại hội, với bích chương, biểu ngữ,
chiêng trống, chương trình phát thanh, báo chí, phim
ảnh cổ động cho quan niệm hợp tác xã làm
ăn,
"Buôn có bạn, bán có phường
Làm ăn có xóm có làng mới vui"
hoặc:
"Làm ăn riêng lẻ như nghé không đàn
Có tổ có đoàn, mạnh lắm ai ơi"
Để diễn tả sức mạnh
của lối làm ăn hợp tác, các văn nô nghĩ ra
những lời thơ nghe rất phấn khởi và khoái
lỗ tai:
"Nghiêng đồng đổ nước
ra sông"
hay là:
"Vắt đất ra nước thay trời làm mưa"
Câu trên ngợi ca cảnh tát nước từ những cánh đồng bị úng nước để cứu cho lúa khỏi chết. Câu dưới tả cảnh tát nước từ sông vào cánh đồng khô cạn để cứu hạn hán. Ngoài ra, hai câu trên còn đề cao khả năng "cải tạo thiên nhiên" của lối làm ăn tập thể.
1. Nguyên Tắc Căn Bản của
Hợp Tác Xã Cấp Thấp
Hợp tác xã cấp thấp có một
số khác biệt căn bản so với Tổ Đổi
Công.
Thứ nhất: Trong Hợp tác xã cấp
thấp, những xã viên không còn làm chủ đất
đai và dụng cụ làm ruộng của mình (Việt
cộng gọi là "phá vỡ quyền tư hữu tư
liệu sản xuất của tư nhân"), những nông
dân, sau khi được chia ruộng đất qua
cuộc cải cách, được cán bộ tuyên
truyền gia nhập hợp tác xã bằng cách nộp
hết ruộng đất cho hợp tác xã, nông cụ
được tập trung vào một nơi gọi là kho
vật liệu.
Thứ hai: Ban quản trị hợp tác xã
gồm những thành phần đảng viên ưu tú mà thôi.
Ban quản trị này lãnh đạo việc "Phân
phối sức kéo" (tức là người và trâu bò),
phân phối nông cụ thành các đội hoặc tổ
sản xuất. Một xã viên sẽ không còn làm việc
trên mảnh đất cũ của mình, mà sẽ làm trên
mảnh ruộng của hợp tác xã.
Thứ ba: người nông dân sau khi vào
hợp tác xã không còn làm chủ hoa màu do mình sản
xuất, không còn gánh thóc về nhà sau mỗi mùa gặt,
mà gánh thóc vào kho lẫm của hợp tác xã. Thay vì hoa màu
thu được, người nông dân xã viên được
trả lương như một công nhân viên Nhà Nước.
Tiêu chuẩn trả lương ra sao là điều ta
sẽ nói tới sau.
Mặc dầu những nguyên tắc trên
đi ngược lại tinh thần tư sản cố
hữu của người nông dân, nhưng cán bộ Đảng
đã vẽ ra trước mắt người dân quê
Việt Nam một hình ảnh huy hoàng của tương
lai: Nhờ hợp tác làm ăn, năng suất sẽ cao hơn
trước, và người hưởng lợi trực
tiếp là xã viên. Những khẩu hiệu như: "Hợp
Tác, cánh đồng năm bảy tấn" trở thành
những chỉ tiêu về gia tăng năng suất trong
những kế hoạch 3 năm và 5 năm. Ngoài ra cán
bộ Đảng còn hứa hẹn những tiến
bộ kỹ thuật để nâng cao đời sống
xã viên như máy cày, máy bơm nước, điện khí
hóa nông thôn....
Nông dân miền Bắc nói chung vốn
cầu an và có tinh thần làm ăn theo xóm theo phường,
nên ban đầu cũng có nhiều người nghe
lời tuyên truyền của Đảng gia nhập hợp
tác xã. Có một số ít không gia nhập hợp tác xã vì
lúc này chưa có sự bó buộc. Theo nông dân Lê văn Hùng,
thì tại làng Hàm Cách của anh, thuộc huyện Thành Hà,
tỉnh Hải Dương, ban đầu chỉ có 20% nông
dân tham gia hợp tác xã cấp thấp. Những nông dân không
gia nhập hợp tác xã nghĩ rằng họ có thể làm
ăn riêng lẻ được, và Việt cộng cũng
tạm để cho họ yên trong giai đoạn đầu.
Đối với những nông dân gia
nhập hợp tác xã, chỉ trong vòng một thời gian
ngắn đã vỡ mộng vì những thu hoạch mà
họ mang về cho gia đình không tương xứng
với một phần nhỏ của mồ hôi nước
mắt mà họ nhỏ xuống gốc rạ. Họ đã
phải đóng góp rất nhiều cho hợp tác xã, nhưng
đến cuối mùa họ tổng kết lại thì
thấy phần lớn những đóng góp của họ rơi
vào một cái thùng không đáy. Sở dĩ như vậy
là vì sự cách biệt quá xa giữa một bên là
chế độ đóng góp (gồm có lao động,
thuế, và các quỹ xã hội...), và một bên là
chế độ hưởng thụ theo công điểm (ghi
công làm việc của mỗi người).
Chế độ lao động ấn định
mức làm việc của mỗi người. Chế độ
thuế ấn định bổn phận tài chánh của
mỗi công dân. Còn các quỹ đóng góp thì trên lý
thuyết tượng trưng cho sự để dành
hoặc sự đầu tư của nông dân giống như
quỹ an sinh xã hội hoặc những quỹ bảo
hiểm của các nước tự do. Chế độ công
điểm ghi chép số giờ lao động mỗi người
đóng góp mỗi ngày để dựa vào đó trả
tiền công cho mỗi người.
Để dễ dàng nhìn thấy sự lợi hại của hợp tác xã, ta hãy đặt lên bàn cân để so sánh sự đóng góp công sức tài vật của nông dân, với những số thù lao mà họ được hưởng.
2. Chế Độ Đóng Góp Của Xã
Viên
Một đặc điểm quan trọng và
nổi bật của chế độ hợp tác xã là
"hạch toán kinh tế", danh từ Việt cộng
chỉ mọi tính toán thu chi lời lỗ, ở đây
chỉ về sự đóng góp của xã viên cũng như
sự hưởng thụ của xã viên. Đây là đặc
điểm quan trọng vào bậc nhất vì nó liên quan
mật thiết đến sự tình trạng đói
của xã viên, vì thế cho nên hầu như bất
cứ hồi chánh viên nông dân nào khi được
phỏng vấn cũng biết tính toán một cách rành
mạch từng đồng, từng xu những đóng góp
và hưởng thụ của xã viên. Vì những con số
đó tượng trưng cho sự no đói của xã viên
nên sẽ được trình bày khá tỉ mỉ trong bài
nghiên cứu này.
a. Đóng Góp Lao Động
Trong một hợp tác xã nông nghiệp, ban quản trị gồm những người được Đảng lựa chọn từ trước và được vận động ngầm từ trước, mặc dầu cũng được bầu cho đủ hình thức dân chủ.
Sơ đồ này cho thấy cái khung
của hợp tác xã gồm có những xã viên nằm trong
các đội sản xuất và tổ sản xuất tượng
trưng cho bộ máy sản xuất. Bộ máy này
được điều khiển bởi các đội
trưởng sản xuất theo nguyên tắc "làm
việc tại đồng, phân công tại sở" có
nghĩa là các đội trưởng trở lên ban
quản trị hợp tác xã chỉ việc ngồi rung
đùi tại sở để phân công tác, và các xã viên
mới là những người phải đổ sức
lao động ra tại đồng. Các tổ trưởng
là những phần tử bần nông trung kiên vừa làm
việc vừa đôn đốc, và ban kiểm soát theo dõi
ở trên, đánh giá sự làm việc của mỗi người
theo từng loại:
- Loại A: loại khỏe mạnh, làm
nhanh, tích cực đi làm sớm.
- Loại B: là loại làm việc trung bình.
- Loại C: là loại làm việc kém, hay đi trễ, không tích cực.
Bình Công Chấm Điểm
Sau mỗi ngày làm việc, mỗi người
được đánh giá lao động bằng cách Bình
Công Chấm Điểm tức là dựa vào một người
giỏi nhất để làm tiêu chuẩn cho điểm
những người khác, và gọi tiêu chuẩn đó là
"mốc khoán". Ví dụ: Trên một mảnh
ruộng do một số người làm việc gồm
đủ cả 3 loại A, B và C.
Khi chấm điểm mỗi người, loại A được 10 điểm nếu làm đủ 12 giờ một ngày, loại B được 8 điểm và loại C chỉ được 6 điểm. Và số 10 điểm trong một ngày làm việc của một xã viên loại A được dùng làm chuẩn gọi là một công. Một người loại A làm việc 3 ngày được số điểm tương đương với 3 công lao động, trong khi một người loại C làm việc 3 ngày chỉ được ghi có 18 điểm, tức là chưa được 2 công lao động. Muốn đạt được 3 công, xã viên loại C chỉ có hai cách, một là làm thêm ngày, hai là tăng thêm giờ làm việc mỗi ngày. Nhưng cách thứ nhất không thể thực hiện được vì không ai có ngày nghỉ để làm bù nên xã viên loại C chỉ còn một sự lựa chọn là tăng số giờ làm mỗi ngày. Do đó mới có câu "Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm".
Tại Sao Phải Làm Cho Đủ Công?
Ban quản trị giao khoán cho từng gia
đình phải làm đủ một số công điểm
cho mỗi vụ mùa, và danh từ Việt cộng gọi là
"mức giao điểm", tùy theo số nhân khẩu
trong mỗi gia đình.
Nếu gia đình đông người thì
mức giao điểm cao. Ví dụ một gia đình có
hai lao động chính và một lao động phụ thì
mức giao điểm là 5000 điểm, tức là trong
một vụ 6 tháng phải làm đủ 5000 điểm,
tức là 500 công (10 điểm là một ngày công) mỗi
lao động chính phải làm khoảng 170 công và lao động
phụ 140 công.
Nghĩa là trung bình mỗi người trong gia đình đó phải làm 170 ngày trong 6 tháng (180 ngày) và mỗi ngày 12 giờ mới hy vọng đạt được mức điểm giao để được tính khẩu phần theo loại A.
Nói như vậy, có phải cứ sáu tháng
thì có 10 ngày nghỉ?
Không, con số 170 ngày công là con số lao
động được trả lương gọi là
"lao động sản xuất" như cày, bừa,
gặt, hái. Mỗi năm, nông dân còn phải làm lao động
không công tức là lao động "Nghĩa Vụ".
Việt cộng đặt ra hai loại lao động nghĩa
vụ chính:
- Loại A: Lao Động Thủy Lợi -
đó là lao động bắt buộc như đắp
bờ đập, tát nước, khai nương v...v...,
mỗi năm từ 15 đến 30 công.
- Loại B: Lao Động Xã Hội - như
đắp đường, xây trụ sở, xây cầu,
đi gác ban đêm.
Hai loại nghĩa vụ trên không tính công
để lãnh lương, trái lại chỉ có phạt
nếu thiếu nghĩa vụ. Ví dụ một người
được ban quản trị hợp tác xã phân công
đi đắp đường mà vì lý do gì đó không
đi thì bị phạt từ 1 cho tới 3 công (3 ngày công).
Như vậy, nếu gồm cả lao động
nghĩa vụ với lao động sản xuất,
một xã viên không có đủ số ngày trong một năm
để làm cho đủ công điểm. Vì thế
hầu như ai cũng phải làm thêm bằng cách ra đồng
sớm hơn và ở lại tới khuya để làm thêm.
Nhưng không phải ngày nào cũng có thể ở
lại khuya để làm thêm, vì còn phải đi họp
để học tập về chính sách nông nghiệp,
học tập chính trị và đủ thứ học
tập khác.
Điều đó có nghĩa là dù có
muốn làm cho đủ công điểm, cũng không có
đủ giờ để làm theo ý muốn. Và thiếu công
điểm là thiếu ăn.
Dù có làm đủ công điểm cũng
chưa có nghĩa là đủ ăn, vì đến lúc thu
hoạch vào cuối mùa, hợp tác xã cộng điểm
của toàn gia đình và khấu trừ ra 25% gọi là
điểm Kiến Thiết Xã Hội Chủ Nghĩa, còn
lại bao nhiêu mới tính ra giá bằng lúa tùy theo
từng vụ. Số lúa tương ứng với mỗi
công điểm cũng không nhất định, vì gặp
năm mất mùa, số lúa cũng giảm theo, mặc dù
công điểm không đổi.
Công dân Lê văn Hùng giải thích rất rõ
như sau:
"Tiền chia cho mỗi điểm tùy theo số thu tổng kết của Hợp Tác Xã. Hợp tác xã hàng tháng cộng chung số điểm của toàn thể dân làng. Đem số tiền tổng thu chia cho số điểm chung của cả dân làng, ta có tiền cho mỗi điểm. Thí dụ hợp tác xã tổng thu được 10000 đồng và số điểm chung của hợp tác xã là 100000 điểm, như vậy mỗi điểm trị giá 10 xu. Mặt khác nếu số tổng thu chỉ có 8000 đồng, thì giá trị mỗi điểm chỉ còn có 8 xu. Tóm lại giá trị mỗi điểm tùy số tổng thu, cho nên, nếu nông dân muốn được số tổng thu cao hơn thì phải gia tăng sản xuất. Hạn hán hay mất mùa là một thảm họa cho nông dân".
Hình thức bình công chấm điểm
bắt buộc mọi người, đàn ông cũng như
đàn bà, ông già cũng như bà lão phải làm việc
như máy suốt ngày:
"Mệt nhọc đến độ tình vợ chồng cũng bị ảnh hưởng, không còn sức nào mà yêu thương ân ái với nhau được nữa". (Lời anh Lê văn Hùng)
Tuy số giờ làm việc chính thức là
12 giờ một ngày, nhưng vì ai cũng sợ đói, và
nếu có một hai đứa con thì phải làm việc
suốt từ 4 giờ sáng tới 10 giờ đêm (18/24
giờ một ngày) mới đủ ăn.
b. Đóng Góp Thuế Nông Nghiệp Và Thuế Đảm Phụ.
Khi nhà nước đã nắm toàn bộ
sinh hoạt, lợi tức của dân, thì nông dân có còn
phải đóng thuế nữa không?
Câu hỏi này được anh Lê văn Hùng
trả lời như sau:
"Người dân quê đâu còn gì là của riêng nữa mà đóng thuế. Nhưng trên thực tế họ vẫn gián tiếp phải đóng thuế vì hợp tác xã nhân danh tập thể đóng thuế cho nhà nước: Thuế Nông Nghiệp, Thuế đảm phụ nghĩa vụ, Thuế đảm phụ nghĩa thương.
"Khi hợp tác xã đóng thuế cho nhà
nước dĩ nhiên số thóc còn lại để chia
cho xã viên phải ít đi. Thí dụ cụ thể cho
dễ hiểu: Tại làng Hàm Cách của tôi chẳng
hạn, mỗi vụ lúa phải đóng 15 tấn thóc
thuế nông nghiệp, 5 tấn thóc thuế đảm
phụ nghĩa vụ và 3 tấn thóc thuế đảm
phụ nghĩa thương. Tổng số thu hoạch
mỗi mùa là 100 tấn thóc, đóng thuế xong chỉ còn
77 tấn. Thuế nông nghiệp ấn định là 15%
sản lượng, thuế đảm phụ nghĩa
vụ tùy theo tình hình chung, nhưng không quá 5% sản lượng".
Thuế đảm phụ nghĩa vụ
được cán bộ Đảng giải thích như là
một thứ thuế đóng thế chân cho việc đi
lính làm nghĩa vụ quân sự. Còn thuế đảm
phụ nghĩa thương là để giúp cho các thương
bệnh binh bị đau ốm hoặc bị thương
vì đi làm nghĩa vụ quân sự.
Thuế nông nghiệp là một thứ
thuế nặng nề nhất đối với nông dân
Bắc Việt, và cán bộ Đảng trong hợp tác xã
thi hành rất khắt khe, ví dụ một cán bộ làm
thổ sản ở Thanh Thủy, tỉnh Thanh Hóa tên là Hoàng
văn Kính, là cán bộ phụ trách của tỉnh, có người
cha thiếu thuế hai năm liền, tức là phạm vào
tội "dây dưa thuế nông nghiệp". Anh Hoàng văn
Kính đã bị Đảng thi hành biện pháp kỷ
luật bằng cách khai trừ khỏi Đảng. Sau
đó, anh Kính đã "thắc mắc" với chính
quyền địa phương nên bị đi cải
tạo.
Chẳng những thuế nông nghiệp là
một sự bóc lột khắt khe, nhưng nông dân oán
hận nhất là nhà nước bắt trả các thứ
thuế bằng thóc, chứ không phải bằng tiền.
Nông dân Nguyễn văn Hùng đã giải thích tại sao
trả thuế bằng thóc lại thiệt hại cho dân hơn
là trả bằng tiền:
"Nhà nước mỗi mùa lấy 23 tấn thóc (gồm thuế nông nghiệp, thuế đảm phụ nghĩa vụ và thuế đảm phụ nghĩa thương, áp dụng cho làng Hàm Cách mỗi mùa sản xuất 100 tấn phải đóng thuế 23 tấn), như vậy nghĩa là dân mất đi 23 tấn thóc mỗi mùa. Tại miền Bắc mỗi hột thóc quý như hột vàng. Nếu nhà nước lấy tiền thay thóc thì hợp tác xã thay mặt tập thể dân chúng chỉ phải đóng 6200 đồng (giá chính thức 270 đồng một tấn thóc). Như vậy đổ đồng mỗi người dân (làng tôi có 100 dân) đóng 62 đồng. Với 62 đồng đó, trên thị trường chợ đen chỉ tương đương với 70 kg thóc hay 50 kg gạo mỗi mùa. Trong khi đó nếu dân được giữ lại 23 tấn thóc (nếu đóng thuế bằng tiền) thì chia đều mỗi người được 230 kg thóc (tức là khoảng 164 kg gạo, và nếu chia cho 6 tháng thì trung bình mỗi ngày một nông dân được thêm gần 1 kg gạo tức là 4 bát cơm đầy). Giá trị một hột thóc ở chỗ đó".
Chú thích: giá thóc chính thức là 270 đồng
một tấn, trong khi giá chợ đen là khoảng 800
đồng tới 900 đồng một tấn vào lúc
đó.
Sau khi đã được đóng góp
sức lao động, đóng các thứ thuế "nghĩa
vụ cao cả" nghe khoái lỗ tai, nông dân còn
được Đảng thương cho đóng nhiều
loại quỹ khác nữa.
c. Đóng Góp Cho Các Thứ Quỹ Của Hợp Tác Xã.
Hợp tác xã cũng "thay mặt xã viên"
để đóng vào các loại quỹ dưới đây:
Quỹ Thủy Lợi: "Ban quản trị nói là để mua dụng cụ máy móc làm công tác thủy lợi như dẫn nước vào ruộng khô, hút nước ra khỏi ruộng ngập nước, hoặc hệ thống đập nước v.v... nhân dân đóng khá nhiều cho quỹ này, nhưng trên thực tế, quỹ thủy lợi thực sự đi đâu mất tiêu và không ai thấy có bằng chứng cụ thể là quỹ thủy lợi được dùng vào mục tiêu thủy lợi. Quỹ thủy lợi đã như nước ngấm vào sa mạc hết trơn, máy bơm nước, máy hút nước không thấy đâu, chỉ thấy nông dân tiếp tục dùng gầu để tát nước thấy ông bà nội".
Quỹ Tích Lũy: "Cán bộ Việt
cộng tuyên truyền rằng quỹ này được dùng
để giúp đỡ xã viên gặp hoàn cảnh khó khăn.
Trên thực tế một phần nhỏ được dùng
để mua dụng cụ làm việc, còn phần lớn
để tổ chức những buổi liên hoan của
ban quản trị hợp tác xã, tức là các ông trời
con ở nông thôn".
Quỹ Xã Hội: "Được dùng
để xây trường học, xây nhà thương.
Tất cả quỹ này được nộp cho xã và
từ xã đưa về huyện, hoàn toàn do nhà nước
nắm giữ, nhân dân làm chủ nó, nhưng không hề
biết nó được chi tiêu ra sao".
Quỹ Bảo Hiểm: Cán bộ Việt
cộng tuyên truyền cổ động như sau về
quỹ bảo hiểm:
"Lao động phải an toàn.
An toàn để lao động"
Việt cộng đã lên tới đỉnh
cao trong việc sản xuất những khẩu hiệu nghe
qua thấy mê mẩn tâm thần, nhưng không có liên
hệ gì tới thực tế của vấn đề
bảo hiểm cả. Các xã viên sau khi "nhờ"
hợp tác xã "đóng tiền dùm" vào các quỹ
bảo hiểm, thì chẳng biết những quỹ này
đi đâu, mà cũng chẳng bao giờ được
hưởng những quyền lợi do quỹ này mang
lại. Tuy biết rằng mất của, đa số nông
dân vẫn đành để cho "của đi thay người"
mà không dám thắc mắc, sợ rằng có thể
được Việt cộng cho đi xa để tìm ra
sự thật như trường hợp anh Hoàng văn Kính
đã nói ở trên.
Tuy nhiên họ cũng phản ứng
lại bằng cách khác như ta sẽ thấy sau này. Trong
hiện tại nông dân còn nhẫn nhịn thì Việt
cộng còn tiếp tục nhẩn nha làm tới. Việt
cộng coi nông dân miền Bắc như một thứ trái
cây có nhiều lớp vỏ ngọt ngào tha hồ bóc
lột từ lớp vỏ này tới lớp vỏ khác
để mà ăn. Từ Hồ Chí Minh cho đến tên cán
bộ hạng bét của Việt cộng đều thi
đua phát huy sáng kiến để bóc lột nông dân.
Sau khi bắt dân góp sức lao động,
đóng các thứ thuế, góp các thứ quỹ, hợp tác
xã còn "phát huy sáng kiến" ra một thứ "nhiệm
vụ tình nguyện" nuôi gà, nuôi heo cho nhà nước.
Anh Lê văn Hùng kể lại như sau:
"Về chăn nuôi, mỗi gia đình bắt buộc phải nuôi một số lợn tương đương với 100 kg thịt mỗi năm để bán cho hợp tác xã. Việc nuôi lợn là việc cưỡng bách và người nuôi không được bán ra ngoài hoặc giết ăn thịt. Mỗi gia đình còn phải nuôi hai con gà cho hợp tác xã. Không ai muốn nuôi lợn vì bị lỗ vốn, nhưng vẫn bị bắt buộc phải nuôi".
Vấn đề nuôi heo lỗ vốn đã
thành quy luật của xã hội chủ nghĩa Việt
cộng. Anh Lê văn Hùng giải thích lý do:
"Hợp tác xã không cung cấp lợn giống, mà cũng không bán lợn con cho dân. Vì thế, người nuôi lợn phải mua lợn giống ở ngoài với giá tự do. Những người nuôi lợn giống được bán lợn con tự do. Một con lợn con nặng 10 kg giá 30 đồng (tiền miền Bắc). Lợn ở ngoài Bắc thì nhỏ và chậm lớn. Phải nuôi tới tám chín tháng mới lớn tới 50 kg. Lợn được nuôi bằng cám, mà cám thì rất đắt. Mỗi con lợn ăn hết 4 hào tiền cám, nghĩa là 12 đồng một tháng, hay là 96 đồng trong 8 tháng. Hai con lợn mất 192 đồng tiền cám, và giá mua 2 con hết 60 đồng, tổng cộng là 252 đồng tiền vốn. Hai con lợn nặng 100 kg bán cho hợp tác xã 1 đồng mỗi kg thịt theo giá chính thức, tức là lỗ hết 152 đồng không kể công lao khó nhọc trong tám tháng. Do đó không ai muốn nuôi lợn nếu không bị cưỡng bách. 152 đồng là tiền công 4 tháng lao động cực nhọc ở ngoài đồng. Nhưng nếu không chịu nuôi lợn thì sẽ không được ăn thịt và bị kết tội là phản động chống lại xã hội chủ nghĩa, chỉ biết nghĩ đến quyền lợi ích kỷ làm hại quyền lợi chung. Ngoài ra còn bị phạt 30% số thóc được mua của hợp tác xã ...".
Lý do căn bản khiến việc nuôi
lợn lỗ vốn là vì phải mua lợn con và thức
ăn ở thị trường tự do (gần như
chợ đen) và cuối cùng bán thịt heo giá chính
thức cho nhà nước. Khi tất cả nông dân bị
lỗ, thì chỉ có một bọn hưởng lời trên
sức lao động của nông dân. Ai cũng đoán
đước bọn đó là bọn nào. Khi anh Lê văn
Hùng nói đến việc "bị phạt 30% số thóc
được mua của hợp tác xã" thì các độc
giả chưa nếm mùi Việt cộng có thể không
hiểu điều đó nghĩa là cái gì, và có thể
sẽ có người bảo "cần chi phải mua thóc
của hợp tác xã?".
Thực ra đây là căn bản của chế độ hưởng thụ, tức là vấn đề no đói của xã viên mà ta sắp phân tích dưới đây.
3. Chê Độ Hưởng Thụ
Của Hợp Tác Xã Cấp Thấp
Chế độ hưởng thụ
của hợp tác xã cấp thấp thay đổi theo
từng mùa hay từng vụ tùy theo sự thu hoạch. Vì
thế, cứ tới mùa gặt hái là tất cả ba ban
kiểm soát, kế hoạch và kế toán châu đầu
lại họp với ban quản trị hợp tác xã để
ấn định mức hưởng thụ của xã viên,
và danh từ Việt cộng gọi việc này là "làm
phương án kết toán ăn chia".
a. Định Giá Trị Của Một Công
Phương án kết toán ăn chia là
đường lối đại cương mỗi
vụ mùa. Sau khi phương án làm xong, ban quản trị
quyết định mức ăn chia tức là mức
độ hưởng thụ dựa trên giá trị
của mỗi công theo cách thức mà anh Lê văn Hùng
đã mô tả (một công có thể từ 8 xu tới 10
xu). Cán bộ Việt cộng đi kiểm tra tất
cả các mảnh ruộng bằng cách đo năng
suất mỗi mảnh, rồi từ đó tính ra mức
tổng thu.
Xã viên không được trả công
dựa trên mức tổng thu. Hợp tác xã trích một
phần của số tổng thu để đóng các
loại thuế, các loại quỹ, các loại công khác. Còn
lại mới chia cho số điểm tổng cộng
của toàn thể xã viên để ấn định giá
trị của công điểm.
Hợp tác xã sẽ tùy theo công điểm
của mỗi xã viên để trả tiền cho từng
người, và với số tiền đó xã viên đến
hợp tác xã để mua gạo về ăn. Dĩ nhiên
ai cũng muốn mua gạo của hợp tác xã theo giá chính
thức thay vì mua ở ngoài theo giá chợ đen. Nhưng
điều đó không có nghĩa là "có tiền mua tiên
cũng được". Thật ra ít có xã viên nào có
đủ công điểm để mua gạo theo đúng
tiêu chuẩn ăn của mình. Và dù có dư công điểm,
số gạo được mua cũng bị hạn
chế bởi cái "mức ăn quy định"
giống như gông cùm để kềm kẹp cái
miệng và bao tử.
b. Mức Ăn Quy Định:
Tức là tiêu chuẩn lương thực,
bao gồm những "cấp bậc ăn uống" khác
nhau tùy theo khả năng lao động cũng như
loại lao động. Khả năng lao động
được chia theo cấp bậc A, B, C như đã nói
ở trên.
Còn các loại lao động gồm có: Lao
động chính: Những người sản xuất nông
nghiệp. Lao động phụ: Những người làm các
nghề khác như đánh cá, thủ công nghiệp, chăn
nuôi, thợ nề, thợ mộc. Mất sức lao động:
Những người già cả. Không lao động: Con nít
dưới 8 tuổi.
Mức ăn quy định còn thay đổi
tùy theo vùng và tùy theo từng giai đoạn.
Nguyễn văn Việt, một cán binh xâm
nhập từ Bắc Việt vào Nam, sinh năm 1952, khi
hồi chánh năm 1970 mới được 18 tuổi cho
biết về vấn đề thực phẩm ở
tỉnh Tuyên Quang (khu tự trị Việt Bắc là nơi
anh sinh trưởng). Trước khi Hoa Kỳ oanh tạc
miền Bắc (1965) thì anh Việt còn nhỏ tuổi nên
không lưu ý về khẩu phần gạo là bao nhiêu, nhưng:
"...Sau khi người Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, đời sống của nhân dân riêng tỉnh Tuyên Quang trở nên sung túc hơn.... Tiêu chuẩn gạo hàng tháng của người dân khu tự trị Việt Bắc là 21 cân gạo (21 kg) cho một lao động chính, học sinh được 18 cân, trẻ em được 6 cân".
Về lý do tại sao người dân ở
khu tự trị được tiêu chuẩn gạo cao
trong khi đa số người dân đồng bằng
miền Bắc chỉ được tối đa là 13
đến 18 cân gạo, anh Việt giải thích như sau:
"Người dân ở khu tự trị Việt Bắc vốn được ăn uống tự do, nên tiêu chuẩn 21 cân gạo một tháng cũng là quá ít ỏi. Nếu phải ăn ít hơn nữa họ sẽ không tin tưởng vào nhà nước".
Tình trạng anh Việt mô tả là tình
trạng dễ thở tại khu tự trị Việt
Bắc mà Việt cộng cần ve vuốt nhẹ tay để
tránh sự nổi loạn. Ở những vùng khác như
Thanh Hóa, vào năm 1967-1968, tiêu chuẩn lương
thực đại khái như sau:
Tiêu chuẩn gạo mỗi tháng
(lao động cừ, thừa công điểm) Loại A Số lượng
Lao động chính 9,6kg
Lao động phụ 7kg
Mất sức lao động 6,4kg
(trung bình, vừa đủ công điểm) Loại B Số lượng
Lao động chính 8,4kg
Lao động phụ 6kg
Mất sức lao động 4,8kg
8 tuổi trở xuống 4-6kg
(lao động kém, thiếu công điểm) Loại C Số lượng
Lao động chính 7kg
Lao động phụ 5,25Kg
Mất sức lao động 4kg
Dưới
8 tuổi 2-3kg
Ở làng Hàm Cách, huyện Thanh Hà, tỉnh
Hải Dương, tiêu chuẩn gạo cao hơn vùng Thanh
Hóa nhưng, câu hỏi đáng đặt ra ở đây là:
"nếu đã trả tiền theo công điểm thì
cần gì Việt cộng phải ấn định tiêu
chuẩn lương thực?"
Anh Lê văn Hùng đã trả lời câu
hỏi trên theo hoàn cảnh ở làng Hàm Cách, nhưng câu
trả lời của anh cũng áp dụng được
cho tất cả các địa phương khác:
"Vấn đề mức ăn quy định thực sự không giản dị. Nhà nước ấn định cho mỗi lao động chính là 14,4 kg gạo một tháng, lao động phụ 12 kg gạo một tháng, trẻ nhỏ dưới 10 tuổi được 6 hoặc 7 kg gạo. Thí dụ gia đình tôi 2 vợ chồng, 2 đứa con dưới 10 tuổi, tôi được quyền mua gạo theo tiêu chuẩn 14,4 kg cho tôi 12 kg cho vợ tôi, và 12 kg cho 2 đứa con, tổng cộng 38,4 kg gạo một tháng. Hợp tác xã tính công điểm trả thành tiền. Tôi lấy tiền đó mua thóc (hoặc tính ra gạo) ở hợp tác xã. Nếu tôi làm khỏe được nhiều điểm, tôi mua thóc đủ tiêu chuẩn, còn thừa tiền mang về tiêu riêng và mua thực phẩm, chứ không được quyền mua thêm quá tiêu chuẩn. Nếu chẳng may vì ốm đau hay vì một lý do nào đó tôi làm không đủ điểm, nhất định tôi không đủ tiền mua thóc, thì nguy hiểm vô cùng. Thí dụ cho dễ hiểu: Tháng X, tôi làm ít công điểm, cả gia đình chỉ đủ mua 24 kg gạo, tức là thiếu 14,4 kg gạo. Theo như tiêu chuẩn ấn định, tôi không được quyền mua 14,4 kg đó, cho dù tôi có tiền".
Tới đây, độc giả có thể hiểu "bị phạt 30% số thóc được mua của hợp tác xã" nghĩa là gì, và hậu quả ra sao. Đó là 30% số lương thực để ăn trong cả vụ mùa. Nếu bị phạt 30% số thóc được mua của hợp tác xã, người ta phải mua bù ở chợ đen với giá cắt cổ thì chỉ có nước treo cổ lên xà nhà để tự vận (Nhưng khổ là Đảng không cho ai chết vì Đảng cần lao động để sản xuất).
4. Phản Ưng Của Nông Dân Đối
Với Hợp Tác Xã Cấp Thấp
Sau khi đa số nông dân dại dột
nghe theo Đảng để vào hợp tác xã cấp
thấp, cuộc đời của họ tuy được
sống trong những năm hòa bình và ổn định hơn
thời đấu tranh sắt máu trước đó, nhưng
điều kiện làm việc thật là khắt khe và
sự thu hoạch về cho gia đình không đủ
số dù đã làm việc như trâu bò. Hơn nữa,
họ hoàn toàn mất hết quyền tư hữu,
quyền tự do, lại thêm bị nhồi sọ ngày
đêm về chính trị riết rồi phát khùng. Nông dân
nhìn ra hợp tác xã không nhằm mục đích giúp đỡ
dân, mà thực ra là để bóc lột dân đến
kiệt quệ, và họ đã phản ứng.
Nhưng rút kinh nghiệm của cuộc
đấu tranh cải cách ruộng đất, những nông
dân bất mãn không dám tỏ ra chống đối
hoặc vi phạm những quy luật chính trị mà
chỉ dám phản ứng trong phạm vi có thể
được. Vì Đảng nói rằng không ép buộc
mọi người vào hợp tác xã nên những nông dân
bất mãn đã làm đơn rút ra khỏi hợp tác xã.
Có hai loại gia đình xin ra khỏi
hợp tác xã.
Loại thứ nhất gồm những gia
đình có đông người mạnh khỏe, có trâu bò,
và họ lại là những người lao động
giỏi, siêng năng. Nhưng ở trong hợp tác xã dù làm
giỏi, dư công điểm cũng phải bán hết
số thu hoạch cho nhà nước theo chế độ
"thu mua".
Loại thứ hai gồm những gia đình
thiếu người lao động giỏi, nên vụ mùa
nào cũng thiếu điểm, mang nợ liên tiếp trong
nhiều mùa, mà còn bị nhục mạ là lười
biếng, ích kỷ, không tích cực đối với
quyền lợi tập thể.
Khi những cá nhân riêng lẻ này rút ra
khỏi hợp tác xã thì họ đã hành động
đơn phương chứ không dám rủ nhau, nhưng vì
nhiều người đơn phương rút ra nên tình
cờ đã biến thành phong trào xảy ra khắp nơi,
làm cho nhiều hợp tác xã phải giải tán. Ví dụ
ở vùng Bình Cát, Thanh Thủy, Thanh Hóa, Việt cộng
phải giải tán 3 hợp tác xã để gom lại làm
một. Ở vùng Xích Thổ, Ninh Bình, nhiều hợp tác
xã phải giải tán toàn bộ để tổ chức
lại.
Đối với khu tự trị Thái Mèo, vì đồng bào thiểu số chống đối mạnh nên cho mãi tới năm 1964 vẫn chưa tiến lên được hợp tác xã cấp thấp. Nói chung trên toàn miền Bắc trước kia vẫn có một số nông dân đứng ngoài hợp tác xã và Việt cộng vẫn để yên cho họ sống. Những người này trao đi đổi lại những sản phẩm với nhau và làm thành một thứ thị trường ngoài hợp tác xã mà ta gọi là thị trường tự do và chợ đen.
Việt Cộng Đối Phó Ra Sao?
Khi những người xã viên rút ra
khỏi hợp tác xã, lối làm ăn cá thể và
thị trường tự do đột nhiên lớn
hẳn lên và đe dọa quyền lực Đảng, do
đó Việt cộng chỉ thị cho các chính quyền
địa phương và ban quản trị hợp tác xã
phải có biện pháp đối phó. Có ba biện pháp chính
được áp dụng.
Biện pháp tuyên truyền giáo dục và dùng
đoàn viên vận động với gia đình
Đối với các đoàn viên (chưa
phải là đảng viên) có gia đình ra khỏi hợp
tác xã, Đảng và Đoàn áp dụng biện pháp
kỷ luật như phê bình kiểm thảo, áp lực
để đoàn viên dùng tình cảm lôi kéo gia đình
trở lại hợp tác xã. Nếu không thành công có
thể dùng biện pháp khai trừ khỏi Đoàn.
Biện pháp này cũng không đạt
nhiều kết quả, và Việt cộng phải tiến
thêm một bước nữa.
Biện pháp cấp thẻ xã viên
Thẻ xã viên có công dụng cho xã viên có thể mua đồ dùng hay thực phẩm ở Mậu Dịch Quốc Doanh. Biện pháp này tương đối hữu hiệu hơn, vì đa số xã viên sống bằng nông nghiệp, nên khi ra khỏi hợp tác xã chỉ có thể cấy lúa. Nhưng khi muốn có muối ăn, vải mặc, họ phải tới cửa hàng mậu dịch Diêm-Nghiệp hoặc mậu dịch của hợp tác xã dệt vải để mua. (các ngành này đều được tổ chức thành hợp tác xã). Nếu không có thẻ xã viên thì không mua được muối được vải. Biện pháp này tương đối có hiệu quả hơn và đã buộc nhiều người quay trở vào hợp tác xã.
Biện pháp khoanh vùng
Nói chung, đối với những xã viên
ra khỏi hợp tác xã, ban quản trị phải trả
lại đất. Nhưng vì những bờ ruộng đều
phá hết cả, nên không ai có thể nói rằng đất
cũ của mình ở đâu. Lợi dụng tình
trạng này, hợp tác xã đã đưa ra biện pháp
khoanh vùng để bóp chết những nông dân này.
Hợp tác xã đã dành những mảnh đất
thật xấu hoặc ở những vùng cao không có nước,
lại bị ruộng của hợp tác xã bao vây, muốn
lấy nước vào ruộng không được vì
hợp tác xã không cho nước chảy qua. Cuối cùng
nhiều người đành phải trở vào hợp tác
xã, và tất cả đều phải bị phạt công
điểm rất nặng.
Cũng vào khoảng mùa Đông 1957,
miền Bắc bị mất mùa rất trầm trọng,
khắp nơi bị đói, và Đảng đã tổ
chức cứu trợ, nhưng chỉ cứu những người
ở trong hợp tác xã mà thôi. Dĩ nhiên, những ai
ở ngoài hợp tác xã nếu muốn khỏi chết
đói thì phải gia nhập hợp tác xã. Thật ra
nếu năm 1957 không có nạn đói thì sớm muộn
gì cũng có một nạn đói khác để giúp Đảng
thanh toán hợp tác xã cấp thấp vì từ năm 1956
tới 1968 miền Bắc đã trải qua 7, 8 lần
mất mùa đói kém.
Tại những nơi mà đa số nông dân
bị bắt buộc phải quay trở lại hợp tác
xã, Đảng bèn thừa thắng xông lên, đẩy
mạnh phong trào Hợp Tác Xã Cấp Cao. Điển hình là
tại làng Hàm Cách lúc này nông dân đã hoàn toàn bị
đoàn ngũ hóa và Đảng đề ra chiến
dịch cải tiến đợt I với khẩu hiệu
"công hữu hóa ruộng đất trâu bò", và thanh
toán nốt số 5% hoa mầu mà nông dân được hưởng
trong hợp tác xã cấp thấp.
Trong giai đoạn hợp tác xã cấp cao, Đảng đã gia tăng năng xuất nông dân như thế nào, và nông dân "sung sướng" như thế nào, đó là điều chúng ta sẽ nghiên cứu trong kỳ tới.
(Phần kế…)