HỒ CHÍ MINH - NHÀ NGOẠI
GIAO, 1945-1946
Trich tu Dan Chu - Vũ Ngự Chiêu
[trích dịch từ “Social and Cultural Change in Vietnam
Between 1940-1946,” Vũ Ngự Chiêu's Ph.D. dissertation, Univ
of Wisconsin-Madison (1984), Part III: “The Brutality of World Politics.”]
Sự việc Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập và thành lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] ngày 2 tháng 9 năm 1945 không bảo đảm rằng nền độc lập của Việt Nam và chế độ này được quốc tế công nhận. Người Pháp, dù tiến bộ hay bảo thủ, đều nhấn mạnh phải đưa ‘con thuyền lạc bến’ Ðông Dương trở lại với đế quốc Pháp, bằng vũ lực nếu cần. Những cường quốc khác, vì những lý do khác nhau, đều yểm trợ sự tái xâm lăng Ðông Dương của Pháp.
Chính sách ngoại giao của Hồ Chí Minh
trong giai đoạn từ tháng 8/1945 tới tháng 12/1946
bởi thế tập trung vào chính sự sinh tồn
của chế độ. Ðể đạt mục đích
này, Hồ tìm cách quốc tế hóa chính nghĩa quốc
gia của Việt Nam, kêu gọi quốc tế yểm
trợ nền độc lập của Việt Nam và
chống lại cuộc tái xâm lăng của Pháp. Nỗ
lực của Hồ gồm kháng thư hay công hàm đến
các cường quốc, phản đối sự xâm lăng
của Pháp và gợi nhớ lại những nguyên tắc
‘cao cả’ của Hiến chương Ðại Tây Dương,
bản tuyên bố của Liên Hiệp Quốc và Hiến
chương San Francisco. Hồ đặc biệt quan tâm
đến sự yểm trợ của Liên bang Mỹ,
thậm chí yêu cầu được hưởng giống
như tình trạng của Phi-lip-pin [Philippines] trong vùng
ảnh hưởng của Mỹ. Tất cả những
thỉnh nguyện của Hồ đều không có hồi
âm. Hồ phải đương đầu với cả
Trung Hoa và Liên minh Pháp-Bri-tên (sau đó, chỉ với Pháp)
để sinh tồn. Với Trung Hoa, Hồ mua chuộc
đút lót các quan tướng để họ cho Hồ
được tự trị. Với người Pháp,
vấn đề phức tạp hơn. Ngay sau cuộc cách
mạng tháng 8/1945, Hồ cương quyết chống
việc Pháp trở lại và nhấn mạnh trên nền
độc lập toàn vẹn của Việt Nam. Sau đó,
Hồ phải giảm dần đòi hỏi, chấp
nhận thực tế, đồng ý được hưởng
tình trạng một nước Việt Nam ‘tự do’
trong Liên Bang Ðông Dương và Liên Hiệp Pháp. Mặc dù
Pháp chỉ thương thuyết với Hồ để kéo
dài thời gian, hầu có thể tăng gia lực lượng
và thiết lập sự thống trị quân sự trên toàn
cõi Ðông Dương, Hồ được gần một năm
để thủ diễn vai trò nhà ngoại giao ngay tại
Việt Nam cũng như tại Pháp. Hồ không đạt
được những gì mình mong muốn, nhưng qua
tiến trình thương thuyết, đã phần nào đạt
được mục tiêu quốc tế hóa chính nghĩa
của người Việt và đồng hóa mục tiêu
của phe đảng Hồ với tinh thần quốc gia
của người Việt.
I. ÐI TÌM ‘CHÍNH THỐNG’:
Sau khi sống hơn phần tư thế
kỷ ở quốc ngoại và làm việc cho các cơ
quan tình báo quốc tế-trước hết cho cơ quan
Comintern (Bộ Phương Ðông) của Liên Sô tại Trung
Hoa và Xiêm, và các cơ quan tình báo Mỹ tại Việt
Nam-Hồ Chí Minh hiểu rõ sự tàn nhẫn của
nền chính trị quốc tế. Kể từ những ngày
tháng đen tối ở Paris, khi kiếm tìm tài liệu
để hoàn tất bản thảo Les Opprimés [Những
kẻ bị áp bức], Hồ đã hiểu rằng
nếu Việt Nam muốn giành được độc
lập, phải phá vỡ lớp băng giá của sự
thản nhiên (nếu không phải đồng lõa) của
thế giới đối với các xứ thuộc địa.
Hồ (lúc ấy còn mang bí danh Nguyễn Ái Quấc) đã
có lần hy vọng được các nhà xuất bản
và tác giả mà Hồ đã trích dẫn nhưng không xin
phép sẽ truy tố Hồ ra tòa để được
chú ý. (CAOM (Aix), SLOTFOM, II, c. 6 (Hồ sơ M. Jean); Chính Ðạo,
Hồ Chí Minh: Con người & Huyền thoại,
1892-1969, tập I: 1892-1924, tái bản có bổ sung (Houston:
Van Hóa, 1997), tr. 202-3) Nhưng chuyện đó không xảy ra.
Bị các cường quốc không thèm đếm xỉa,
Hồ chỉ tìm thấy nguồn tiếp trợ từ Liên
Sô. Nhưng chua chát cho Hồ là ‘tinh thần quốc
tế vô sản’ cũng đầy những mặn,
ngọt, chua cay. Từ năm 1930, sau khi thành lập Ðảng
Cộng Sản Việt Nam [CSVN] ngày 6/1/1930, Hồ bị
bỏ quên bên lề phong trào Quốc tế Cộng
Sản, không những bị chỉ trích là ‘nặng tinh
thần quốc gia,’ ‘thời cơ,’ mà còn bị tình
nghi là có liên hệ với tình báo tư bản. Suốt
bốn năm dài ở Mat-scơ-va từ tháng 10/1934
tới tháng 9/1938, Hồ chẳng được giao
một công tác quan trọng nào, trong khi nhóm QTCS trẻ trung
từ Nga về như Livitnov Lê Huy Doãn (Hồng Phong),
Cinitchkin Hà Huy Tập, Kan Nguyễn Ngọc Vi (Phùng Chí Kiên),
Bourov Dương Bạch Mai, Pallat Nguyễn Văn Phong (Minh),
v.. v... thống trị Ðảng Cộng Sản Ðông Dương
tại nội địa. Ngay đến người
vợ cách mạng của Hồ là ‘Fan Lan,’ tức
‘Nguyễn Thị Minh Khai’ (1910-1941) cũng trở thành
vợ Livitnov Doãn trong hai năm 1937-1938. Mãi tới cuối
tháng 9/1938, Hồ mới được phép trở lại
Trung Hoa để chỉnh đốn lại Ban chấp
ủy Trung ương Ðảng CSÐD, đưa tổ
chức này vào chính sách ‘mặt trận thống nhất’
do CSQT tái phát động từ mùa Thu năm 1935. Nhưng
tới Diên An từ tháng 11/1938, Hồ vẫn không móc
nối được với Ban Chấp ủy trung
ương của Ðảng CSÐD, trước khi các lãnh
tụ cao cấp bị mật thám Pháp bắt giữ trong
hai ngày 17-18 tháng 1/1940-phần nào do sự tố cáo gián
tiếp của một liên lạc viên người Việt
gốc Hoa của Hồ. Mãi tới tháng 2/1940, Hồ
mới tái xuất hiện ở Côn Minh, thủ phủ Vân
Nam, tiếp xúc với Ban Lãnh đạo Ở Ngoài của
Ðảng CSÐD tại đây, và trực tiếp chỉ huy
nhóm Kan Vi, Hoàng Văn Hoan, Vũ Anh.
Sau ngày Pháp thất trận ở Âu Châu
(23/6/1940), Hồ quyết định tìm đường
về nước. Ðể che mắt chính phủ Tưởng
Giới Thạch, Hồ quyết định xâm nhập và
khuynh đảo tổ chức Việt Minh của Hồ
Học Lãm, biến tổ chức không Cộng Sản này
thành cánh tay ngoại vi của Ðảng CSÐD. Rồi, tháng
5/1941, Hồ triệu tập Hội nghị thứ 8, khóa
I, của Ðảng CSÐD tại Pác Bó, tái lập Ban chấp
ủy trung ương, với Ðặng Xuân Khu (sau này
trở thành Trường Chinh) làm Tổng Bí thư.
Trong Thế chiến thứ II (1939-1945),
cuộc liên kết Tư bản-Cộng Sản của Ðồng
Minh chống lại phe Trục mang lại cho Hồ cơ
hội để quốc tế hóa chính nghĩa của
Việt Nam. Dự đoán được vai trò thắng vượt
của Liên bang Mỹ trong thời hậu chiến, Hồ
không ngừng mua chuộc cảm tình của người
Mỹ. Quyết định giải tán QTCS (Comintern) của
Josef Stalin vào tháng 3/1943 cho phép Hồ theo đuổi
một chính sách mềm dẻo: Hồ được
tự do làm việc cho cả cơ quan tình báo Trung Hoa và
Liên bang Mỹ. Ðổi lại, Hồ được phóng
thích khỏi nhà tù Trung Hoa ở Liễu Châu, tự do
hoạt động trên lãnh thổ Trung Hoa, có những
vật liệu cần thiết và triển vọng
được Mỹ yểm trợ trong tương lai.
Hồ có những thủ thuật đặc
biệt để mua chuộc cảm tình của các quan tướng
Mỹ tại địa phương. Một mặt,
Hồ tự mô tả và diễn giải rằng các đồng
chí mình là những người quốc gia chân chính đã
bị người Pháp chụp mũ là Cộng Sản.
Mặt khác, Hồ cố tình chiều chuộng người
Mỹ bằng những lời tâng bốc và tận
lực thỏa mãn nhu cầu của họ.
A. ÐƯỜNG DÂY TÌNH BÁO MỸ:
Từ cuối năm 1944, đầu năm
1945, Hồ đã mở được đường dây
liên lạc với Cơ Quan Tình Báo Chiến Lược [OSS]
Mỹ. Trong mùa Hè 1945, đã có lúc hai toán tình báo Mỹ có
mặt tại mật khu "Tân Trào," thuộc địa
phận Kim Lộng, Tuyên Quang. Toán
Con Nai (Deer Team) của Thiếu tá Allison K. Thomas đã giúp
huấn luyện khoảng 100 binh sĩ Việt Minh và
cứu thoát Hồ trong cơn đau thập tử nhất
sinh tại Kim Lộng. Cũng chính Thomas và các nhân viên
thuộc toán Air Ground Aid Service [AGAS] của Không lực
Lục Quân Mỹ nhiều lần khẳng định
với cấp chỉ huy rằng tổ chức Việt Minh
của Hồ "không phải là Cộng Sản, hay
Cộng Sản kiểm soát, hay Cộng Sản lãnh đạo."
(US Senate, Hearings, 1973:249) Thomas và đại diện OSS
tại Côn Minh cũng chuyển cho Jean Sainteny, trưởng
đoàn tình báo M-5 Pháp tại Hoa Nam, một lá thư
của Việt Minh, đề nghị hợp tác. (Jean
Sainteny, Une paix manquée, tr. 68. Sainteny (tên thực Roger) tới
Côn Minh ngày 30/7/1945; nhưng gặp Nguyễn Tường
Tam mà không phải Hồ Chí Minh; Ibid., tr. 52-56; Patti 1980:104)
Nhân viên OSS đã trên thực tế hành xử như Ban
Ngoại Giao đầu tiên của Hồ.
Hồ rất rộng rãi trong việc ca
ngợi sự vĩ đại và truyền thống dân
chủ, chống thực dân của nước Mỹ.
Từ tháng 7/1945, Hồ đã bàn thảo với các sĩ
quan tình báo Mỹ tại Bộ Chỉ huy Việt Minh
tại Kim Lộng [Tân Trào] về bản Tuyên ngôn độc
lập của Mỹ, chứng tỏ mình rất quen
thuộc với văn kiện này. Vài tháng sau, Hồ đã
khởi đầu bản Tuyên ngôn độc lập
của mình bằng câu mở đầu của Tuyên ngôn
độc lập Mỹ. Sau đó, Hồ thường
nhắc đến nước Mỹ như ‘vô địch
về dân chủ’ [‘champion of democracy’] hay ‘cứu tinh
của mọi quốc gia’ [‘saviour of the nations’]. (Báo cáo
ngày 22/8/1945, William J. Donovan gửi Byrnes; Bộ Quốc Phòng,
US-Vietnam Relations, 1947-1967 (Washington, DC: GPO, 1971), Bk I, p. C 67)
Bản Hiến Chương Ðại Tây Dương
(14/8/1941) do Tổng thống Franklin D. Roosevelt đề xướng,
bản Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc, và Hiến chương
Liên Hiệp Quốc ký kết tại San Francisco (1945), và
ngay cả bài diễn văn của Tổng thống Harry S.
Truman (1945-1953) vào Ngày Hải quân, 27/10/1945, cũng
được ca ngợi nồng nhiệt chẳng kém gì
chủ thuyết của Lê-nin hơn hai thập niên trước.
(Public Papers of the President of the United States (Harry S. Truman,
April-December 1945), pp. 433-434; US-Vietnam Relations, 1971, I:C-60-61))
Trong thư gửi Ngoại trưởng
Mỹ ngày 22/10/1945, Hồ viết:
Những nguyên tắc cao thượng
về công pháp quốc tế và sự bình đẳng
trong Hiến chương Ðại Tây Dương đã
được người Việt hưởng ứng và
đóng góp vào việc biến tổ chức kháng
chiến Việt Minh trong chiến khu thành một phong trào
chống Nhật trên toàn quốc, một phong trào phản
ảnh mạnh mẽ khát vọng dân chủ của dân chúng.
Hiến chương Ðại Tây Dương được
coi như nền tảng của nước Việt Nam trong
tương lai. Một kế hoạch xây dựng quốc
gia được soạn thảo theo đúng tinh thần
Hiến chương Liên Hiệp Quốc tại San Francisco
và đã được thực hiện trong những năm
vừa qua. . . . (US-Vietnam Relations)
Bài diễn văn ngày 27/10/1945 của Truman
về chính sách ngoại giao hậu chiến của
Mỹ-trong đó Truman không hề nhắc đến Ðông
Dương và đã khéo léo dùng cách diễn tả mơ
hồ, chung chung hầu ai nấy đều có thể
tự do diễn giải-được Hồ tán thưởng
ngay là chứa đựng ‘những lý tưởng cao
cả của sự độ lượng và nhân bản.’
(Cable No. 4936, 13 Feb 1946, Smith to Byrnes; US-Vietnam Relations, Bk I, p.
C-94) Sau đó, Hồ tuyên bố chế độ của
Hồ ‘dựa trên, và lấy sức mạnh từ các
điều thứ hai, thứ tư và thứ sáu trong bài
diễn văn 12 điểm của Truman.’ (Ho Chi Minh's Note
of 18 Feb 1946, to China, USA, USSR & Britain; US-Vietnam Relations, Bk I,
p. C-99)
Về phương diện vật chất,
Hồ chăm sóc các cán bộ OSS rất chu đáo. Trung úy
Phelan [‘John’] nhận xét:
[Hồ] là một người thật
dễ thương. Nếu tôi phải chọn ra một
điểm để nói về ông già nhỏ bé ngồi
trên ngọn đồi trong rừng rậm đó thì đó
là sự mềm mỏng của ông ta. [He was an awfully sweet
guy. If I had to pick out one quality about that little old man sitting on his
hill in the jungle, it was his gentleness].( Robert Sharplen, The Lost
Revolution, 1965:31; US-Vietnam Relations, 1971, Bk I:C-58-59)
Frank Tan, một người Mỹ gốc
Hoa lo việc truyền tin của toán GBT/AGAS tại Bộ
chỉ huy của Hồ từ tháng 4 tới tháng 6/1945, cũng
đầy thiện cảm với Hồ. Theo lời Frank,
sau khi được biết Frank mới bị một cô gái
Mỹ bỏ rơi, Hồ khuyến khích Frank ‘theo đuổi
một cô nữ du kích [Việt] nào đó.’ Hồ cũng
tiết lộ với Frank rằng ‘trước kia Hồ
rất yêu thương một cô gái nhưng sau khi
đăng ký đi tàu đành phải quên cô ta.’( Fenn, Ho
Chi Minh, tr. 83) Sau khi Frank đã rời chiến khu, Hồ còn
gửi tặng mấy cái vòng đeo tay bằng bạc
để biếu các nhân viên tham mưu GBT tại Trung
Hoa.(Fenn, Ho Chi Minh, tr. 83)
Sau khi đã nắm chính quyền vào tháng
8/1945, Hồ tiếp tục mua chuộc những người
bạn Mỹ của rừng xanh. Thiếu tá Thomas và toán
Con Nai được ăn uống sang trọng và chăm sóc
kỹ lưỡng khi ở Thái Nguyên, giữa lúc những
cuồng sóng bạo lực cách mạng loáng rộng
khắp đất nước. Khi tới Hà Nội, họ
cũng vẫn được tiếp đãi như thượng
khách cho tới lúc lên đường hồi hương.
(Porter, Documentation, vol I, tr. 76-77)
Hai nhân vật Mỹ được người
Pháp coi như bạn thân của Hồ là Thiếu tá
Archimedes L. A. Patti, trưởng Ðoàn OSS tại Hà Nội, và
Thiếu tướng Philip E. Gallagher, Trưởng toán liên
lạc bên cạnh Bộ Tư lệnh Trung Hoa ở
Bắc Việt. Ðể mua chuộc cảm tình của OSS
Mỹ, và cũng để quảng cáo cho sự "đồng
minh" với Mỹ, bốn ngày sau khi Patti tới Hà
Nội, sáng Chủ Nhật 26/8/1945, Võ Nguyên Giáp dẫn
một phái đoàn 4 người tới thăm Patti ngay
tại chỗ tạm trú. Sau khi chuyển lời chúc
mừng cá nhân của Hồ, Giáp trang trọng mời Patti
và thuộc hạ đến tham dự một buổi
diễn binh đặc biệt để đón tiếp
một số "ủy viên trong chính phủ và phái
bộ điều tra Mỹ [của Patti] mới về Hà
Nội." (Cứu
Quốc (Hà Nội), 29/8/1945)
Ngay chiều đó, Hồ tiếp Patti
tại Phủ Chủ tịch. (Patti, Why Viet-Nam, 1980:196)
Từ ngày này, Patti thay Thomas trở thành một cố
vấn không chính thức của Hồ. Không những
chỉ chuyển các thông điệp của Hồ về
Oat-shinh-tân, qua Tòa Ðại sứ Mỹ ở Trùng Khánh,
hoặc Tòa Lãnh sự Côn Minh (Vân Nam), Patti còn dàn xếp
cho Pháp và Việt Minh thương thảo, hay can thiệp
với quan Tướng Trung Hoa khi cần. Vai trò của
Patti làm lu mờ hẳn Trung tá A. Peter Dewey, trưởng toán
Embarkment (thu hồi tù binh) của OSS tại Sài Gòn, dù Dewey
cũng thường xuyên liên lạc với các cán bộ
Việt Minh địa phương, trước khi bị
giết ngày 26/9/1945. (Ibid., tr. 199-200. Philippe Devillers, trong
cuốn Histoire du Viet-Nam (tr. 202), cho rằng Hồ đã
biếu Patti một số vàng lớn trích ra từ
Tuần Lễ Vàng (18-25/9/1945))
Tuy nhiên, Hồ và rất nhiều người
không biết rằng các nhân viên OSS Mỹ được
lệnh phải hoàn toàn đứng ngoài cuộc tranh
chấp quyền lực tại Ðông Dương. Ngày
16/9/1945, toán Thomas rời Hà Nội. Các đoàn OSS cũng
lục tục rời Việt Nam sau ngày Truman ký nghị
định giải tán tổ chức này. Cái chết
của Dewey, trưởng toán Embarkment, có nhiệm vụ
điều tra các tội phạm chiến tranh tại phía
Nam vĩ tuyến 16, khiến giao tình giữa Hồ và OSS
phần nào bị suy giảm. (Toán EMBARKMENT tới Sài Gòn
ngày 2/9/1945; CAOM (Aix), INF, c. 338, d.2717). Ngày Chủ Nhật,
30/9/1945, hầu hết nhân viên OSS đều đã hồi
hương. Ngày 11/10, Bộ trưởng Lục quân
Mỹ George C. Marshall cũng thông báo cho Pháp biết sẽ
tập trung tất cả người Mỹ ở Hà
Nội, chờ di tản.
Phần Gallagher, Cố vấn của Lư
Hán, được Hồ chiếu cố đặc
biệt. Ngay sau khi Gallagher vừa đến Hà Nội,
Hồ đã đích thân tới chào mừng. Trong một lá
thư gửi Tướng Robert B. McClure, Phó Tư lệnh
Lực lượng Mỹ tại Trung Hoa, Gallagher thuật
lại về buổi hội kiến này như sau:
[Hồ] đến thăm tôi và nồng
nhiệt chào mừng phái đoàn, tặng tôi một lá
cờ có tên tôi trên đó và vài nhận xét về ‘nước
Mỹ vĩ đại’, v.. v... Hồ nhìn về nước
Mỹ như người cứu nạn của các quốc
gia, và mọi hành động của ông ta đều
dựa trên lời tuyên bố của bản Hiến chương
Ðại Tây Dương, rằng các cường quốc
sẽ bảo đảm nền độc lập cho các nước
nhỏ. Dĩ nhiên, chúng ta biết rằng Hiến chương
trên chẳng có chữ ký của ai cả. (Thư ngày
20/9/1945, Gallagher gửi McClure).
Sự khéo léo của Hồ và thiện
cảm của Gallagher với nền độc lập
của Việt Nam tạo nên một liên hệ khá chặt
chẽ giữa hai người. Trong buổi gặp mặt
đầu tiên, Gallagher khuyên Hồ ‘phải thu được
lòng tin cậy của Lư Hán [tức Tư lệnh đạo
quân Trung Hoa] và tìm cách liên hệ với ông ta.’ (Ibid) Sau
khi Patti rời Hà Nội vào cuối tháng 9/1945, Gallagher
lại trở thành cố vấn của Hồ. Tư
liệu văn khố cho thấy Gallagher đã chuyển các
công điện của Hồ ra thế giới bên ngoài qua
Tòa Ðại sứ Mỹ ở Trùng Khánh. Gallagher, theo
một nguồn tin, còn tham dự buổi họp thành
lập Hội Hữu nghị Việt-Mỹ tại Hà
Nội vào tháng 10/1945, và trong dịp này còn hát một bài
hát tiếng Việt. (See Leon B. Blum, The United States and Vietnam,
1944-1947 (Washington: GPO, 1972), tr. 4-5. Theo tài liệu Việt Nam,
vào tháng 10/1945, hội này gồm 500 người Việt,
20 người Mỹ; Việt Nam Thời Báo (Hà-nội),
số 3 và 4 (24 và 25/10/1945). David G. Marr tìm thấy một
bản Ðiều Lệ của Hội này tại Thư
viện Quốc Gia Pháp)
Tuy nhiên, liên hệ tốt giữa Hồ và
các quan chức Mỹ tại chỗ không bảo đảm
rằng chính phủ Truman yểm trợ Hồ. Gallagher
phản ảnh:
Cá nhân tôi muốn người Việt
được độc lập, nhưng dĩ nhiên, chúng
tôi chẳng có tiếng nói nào về vấn đề này.
Thật vậy, mặc dù sự hiện
diện của người Mỹ có thể viện
dẫn làm bằng chứng cho điều khoa trương
rằng Hồ liên hệ thân thiết với Liên Bang
Mỹ, điều tối đa mà các quan chức Mỹ
tại chỗ có thể giúp Hồ là chuyển các điện
tín tới Oat-shinh-tân hay thủ đô một số nước,
và giúp Hồ sống còn dưới chế độ quân
quản của Trung Hoa. (Xem US-Vietnam Relations, Bk I, C 63-104)
B. NỖ LỰC XIN MỸ NHÌN NHẬN:
Từ tháng 4/1945, Hồ đã bắt đầu
vận động xin được chính phủ Truman nhìn
nhận. Tuy nhiên, Patti đã nhấn mạnh với Hồ
rằng liên hệ giữa hai người chỉ thuần
túy có việc tình báo. Qua tháng 8, khi vai trò Hồ và
Việt Minh ngày một lên cao, Hồ liên tục kêu
gọi sự trợ giúp của Liên bang Mỹ. Ngày 15/8,
một đại diện ‘Ðảng Quốc Gia’ của
Hồ tại Côn Minh tuyên bố như sau về Ủy Ban
Khởi Nghĩa Hà Nội:
Ủy Ban Trung ương muốn người
Mỹ biết rõ rằng dân Ðông Dương muốn
được độc lập, và hy vọng rằng nước
Mỹ, như một nhà vô địch về dân chủ,
sẽ giúp Ðông Dương được độc
lập. . . .
Tóm lại, dân Ðông Dương muốn
được hưởng tình trạng như Phi-lip-pin
trong một thời gian vô hạn định. (Báo cáo ngày
22/8/1945, William J. Donovan gửi Byrnes; US-Vietnam Relations, 1947-1967,
Bk I, C 67)
Trong một buổi nói chuyện giữa
Hồ và George M. Abbott ngày 11/9/1946-tức ba ngày trước
khi ký Tạm ước 14/9/1946 ở Paris-Hồ trực
tiếp xin viện trợ quân sự và kinh tế. Hồ cũng
nhắc đến vịnh Cam Ranh ở Trung Bộ.
(US-Vietnam Relations, Bk I, tr. C 95-6) Cho tới tháng 12/1946, Hồ
tiếp tục xin viện trợ Mỹ. Thứ trưởng
Ngoại giao Hoàng Minh Giám còn xin thẳng với Trưởng
Sở Ðông Nam Á tại Bộ Ngoại Giao Mỹ là Abbott
L. Moffat, trong dịp Moffat đang viếng thăm các nước
Ðông Nam Á, là nhờ Mỹ giúp phát triển căn cứ
Cam Ranh và can thiệp để Pháp ngừng chiếm đóng
toàn nước Việt Nam. (Ibid., Bk I, tr. 96-7)
Trong giai đoạn từ tháng 9/1945 tới
tháng 3/1946, Hồ còn mở nhiều cánh cửa cho việc
phát triển liên hệ Việt-Mỹ. Ngoài việc thành
lập Hội Thân hữu Việt-Mỹ, Hồ đề
nghị gửi 50 sinh viên qua Mỹ để thiết
lập liên hệ văn hóa giữa hai nước-giống
hệt thủ thuật Hồ đã sử dụng hai
thập niên trước, với kết quả là loạt
cán bộ Cộng Sản đầu tiên huấn luyện
tại Mat-scơ-va. (Ibid., Bk I, tr. C-103-104)
Tuy nhiên, chính phủ Mỹ quyết định
giữ trung lập, không hề chính thức hồi đáp
các thỉnh nguyện thư của Hồ. Oat-shinh-tân
chỉ khuyến khích hai phe Pháp và Việt Minh đạt
một giải pháp chính trị qua thương thuyết.
Ngày 29/9/1945, Gallagher khuyên Hồ nên gửi một phái
đoàn qua Trùng Khánh, dù Tướng Marcel Alessandri, Ðại
diện Pháp ở phía Bắc vĩ tuyến 16, chỉ
mời Việt Minh tham dự với tư cách một đảng
mà không phải một chính quyền. (Memorandum of 29 Sept.
1945, Gallagher Papers; Porter, Documentation, vol I, tr. 80-81) Ngay tới
tháng 12/1946, Moffat còn khuyên Giám nên tránh chiến tranh, đạt
một thỏa ước với Pháp. (Thư Moffat gửi
BNG (12/1945); trong Blum, United States and Vietnam, Phụ bản II,
tr. 40-2) Quyền Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson còn
đề nghị Hồ nên tạm thời bỏ đòi
hỏi trưng cầu dân ý ở miền Nam để
quyết định thể chế của Nam Kỳ. (Tel. ngày
5/12/1945, Acheson gửi Moffat (Sài-gòn); US-Vietnam Relations, Bk 8,
VB2, tr. 85-6)
C. ÐƯỜNG DÂY LIÊN HIỆP QUỐC:
Trong giai đoạn từ tháng 8/1945 tới
tháng 3/1946, Hồ cũng tìm chính thống cho chế độ
qua các cơ quan Liên Hiệp Quốc. Một trong những
thỉnh nguyện thư đầu tiên của Hồ liên
quan đến vấn đề hội viên của Ủy
Ban Tư vấn Viễn Ðông, nhóm họp ở Oat-shinh-tân
ngày 30/10/1945. Ngày 17/10, tức gần hai tuần trước
ngày Ủy Ban Tư vấn nhóm họp, Hồ gửi cho
Truman một điện văn, chỉ trích việc
nhận Pháp làm hội viên. Theo Hồ, ghế hội viên
của Pháp thiếu căn bản pháp lý cũng như
thực tế. Việt Nam mới xứng đáng làm
hội viên theo đúng tinh thần Hiến chương Ðại
Tây Dương, cũng như do thiện chí và lập trường
dân chủ. (CÐ ngày 17/10/1945, Hồ gửi Truman; US-Vietnam
Relations, 1971, Bk I, C 73-4. Ủy Ban Tư vấn Viễn Ðông
gồm 9 nước: Mỹ, Bri-tên, Pháp, Trung Hoa, Nu-zí-lân
[New Zealand], Hâu-lân [Holland], Phi-líp-pin, Os-trá-li-a [Australia] và
In-đi-a [India]) Trong thư gửi Ngoại trưởng
Byrnes ngày 22/10/1945, Hồ cũng trở lại vấn đề
này. Sau khi bác bỏ lập luận của Bri-tên và Pháp
về những gì diễn ra tại Ðông Dương,
Hồ yêu cầu cho một đại diện Việt Nam có
mặt trong phiên họp khai mạc để nói lên quan
điểm của Việt Nam. Hồ cũng đề
nghị Liên Hiệp Quốc gửi một phái đoàn qua
Ðông Dương nghiên cứu tình hình, và yêu cầu LHQ nhìn
nhận nền độc lập của Việt Nam. (Ibid.,
Bk I, C 80-1) Sau khi chẳng nhận được hồi âm
về kiến nghị của mình, Hồ lại gửi công
điện cho Byrnes, khẳng quyết Pháp không có quyền
đại diện cho dân Việt Nam tại buổi Hội
thảo về Viễn Ðông ở Oat-shinh-tân, và kêu gọi
quốc tế can thiệp để chấm dứt
việc giết chóc tại Nam Việt Nam. (Tel. No. 820, 26 Nov
1945, Chungking to Washington; Ibid., Bk I, C 92) Các viên chức Mỹ
vẫn nghĩ rằng không nên có hành động gì.
(Ibid., Bk I, C 71)
Ngoài việc kêu gọi Liên Hiệp
Quốc yểm trợ và nhìn nhận, Hồ còn lợi
dụng cả Cơ quan Cứu trợ LHQ [UNRRA] để
được sự nhìn nhận trên thực tế
chế độ VNDCCH. Hồ khẩn thiết kêu gọi cơ
quan UNRRA lập tức yểm trợ để ngăn
chặn nạn đói tại miền Bắc. (Ibid., Bk I, C
87-8) Nhưng UNRRA thích làm việc với Pháp hơn Hồ.
D. PHẢN ÐỐI CUỘC TÁI XÂM LĂNG
CỦA PHÁP:
Trong tháng 10/1945, giữa lúc quân Bri-tên, dưới
danh nghĩa giải giới quân Nhật, hướng
dẫn quân Pháp đi chiếm đóng hầu hết các
tỉnh lÿ quan trọng ở phía Nam vĩ tuyến 16,
Hồ gửi nhiều điện văn đến các cường
quốc-đặc biệt là Mỹ, Liên Sô và Trung Hoa-yêu
cầu can thiệp.
Ngày 21/10/1945, John C. Vincent công bố chính sách
của Mỹ về Ðông Dương và Indonesia. Bài
diễn văn này khéo léo đến độ cả hai
phe Pháp và VM đều ca ngợi.
Thực ra, chính phủ Mỹ, hoặc ít
nữa một số viên chức ngoại giao, tình báo và
quân sự địa phương vẫn đặc
biệt lưu tâm đến tình hình Việt Nam. Ðã có
những nỗ lực khuyến khích hai bên sớm giải
quyết dị biệt bằng đường lối thương
thuyết.
Ngày 30/1/1946, chẳng hạn, Thiếu tướng
Gallagher, từng ở Hà Nội từ tháng 8 tới tháng
12/1945, thuyết trình về hiện trạng Ðông Dương
tại Bộ Ngoại Giao. Tham dự có Tân Tổng Lãnh
sự Charles S. Reed; Woodruff Wallner, Vụ Tây Âu; Moffat và
Richard L. Sharp của Vụ Ðông Nam Á. Theo Gallagher, thái độ
trung lập của Mỹ khiến cả Pháp lẫn
Việt Minh đều thất vọng. Sainteny cho Gallagher
biết Pháp sẽ thành công trong việc thương
thuyết. Hồ Chí Minh sẽ thủ diễn một vai trò
quan trọng trong những diễn biến ở Việt Nam.
(FRUS, 1946, VIII:15-20; US-Vietnam Relations, 1945-1947, Bk 8:53-7).
Ngày 28/1/1946, Ngoại trưởng Byrnes
chỉ thị cho Phó vụ trưởng Ðông Nam Á Kenneth P.
Landon, lúc này đang ở Sài-Gòn, ra Bắc và ở
lại đây bao lâu cũng được để báo cáo
về hiện trạng và diễn tiến cuộc thương
thuyết Pháp-Việt Minh. Theo Byrnes, d'Argenlieu tiết lộ
là thương thuyết đã diễn ra từ cuối tháng
11/1945, và có thể sẽ đạt được
thỏa ước vào cuối tháng 1/1946. Lại có tin cho
biết không hề có thương thuyết. Vẫn theo
Byrnes, Linh mục/Cao ủy Georges Thierry d'Argenlieu từng
tiết lộ là có thể cho Việt Nam tình trạng
của Phi-li-pin [Philippines] trong vòng 30 năm, sau đó
trả độc lập. Công điện này cũng thông
báo là Lãnh sự Reed sẽ tới Sài Gòn vào cuối tháng
2/1946.(FRUS, 1946, VIII:15. (Thực tế, Reed tới Sài Gòn vào
thượng tuần tháng 2/1946)
Vào tháng 1 và tháng 2/1946, sự kiên nhẫn
của Hồ bị bào mỏng dần. Ðối diện
việc quân Pháp sẽ trở lại miền Bắc
Việt Nam, Hồ viết cho Truman ngày 16/2/1946:
Sự xâm lăng [của Pháp] đi ngược
lại những nguyên tắc công pháp quốc tế và
những lời hứa của Ðồng Minh trong Thế
Chiến. . . .
Sự xâm lăng của Pháp với một
dân tộc hiếu hoà là một đe dọa trực
tiếp cho nền an ninh thế giới. Nó hàm ý sự
đồng lõa [complicity], hoặc ít nữa, là mưu đồ
[connivance] của những cường quốc dân chủ.
Liên Hiệp Quốc phải giữ lời hứa của mình.
Liên Hiệp Quốc phải can thiệp để ngưng
ngay cuộc chiến bất công này, và để chứng
minh rằng họ muốn thực hiện trong thời bình
những nguyên tắc mà vì đó họ đã chiến
đấu trong thời chiến. (US-Vietnam Relations, Bk I,
1971:C-96)
Hai ngày sau, 18/2/1946, trong thỉnh nguyện thư
gửi bốn cường quốc Mỹ, Liên Sô, Bri-tên và
Trung Hoa, Hồ kêu gọi sự can thiệp tức thời
để trước hết, ngăn chặn cuộc
chiến tại Việt Nam và dàn xếp một giải pháp
công bằng; và, thứ hai, đưa vấn đề Ðông
Dương ra trước Liên Hiệp Quốc. Hồ
kết thúc bản thỉnh nguyện bằng tuyên bố dân
tộc Việt ‘đã quyết tâm chiến đấu
đến giọt máu cuối cùng để chống
lại sự tái thiết lập chế độ thực
dân Pháp.’ (US-Vietnam Relations, Bk I, 1971:C-100)
Các ‘đại cường dân chủ’
không can thiệp cấp thời, mà có vẻ cũng
chẳng coi trọng lời đe dọa của Hồ. Ngược
lại, vì những lý do khác nhau, tất cả đều
coi Ðông Dương là vấn đề nội bộ
của Pháp. Hơn nữa, dĩ vãng Cộng Sản
của Hồ khiến các viên chức Mỹ ngần
ngại. Ngay đến cố vấn của Hồ là
Gallagher cũng khó thể quay mặt trước thành tích
Cộng Sản của Hồ. Một trong những báo cáo
đầu tiên của Gallagher ghi nhận Hồ là
‘một tay cách mạng lâu đời, . . . . một
sản phẩm của Mat-scơ-va, một tên Cộng
Sản.’ (Porter, Documentation, I, tr. 78. Trước đó, ngày
22/8/1945, Giám đốc OSS cùng một ý kiến: ‘The Viet
Minh is 100% Communist Party, with a membership of approximately 20% of the
active political element;’ US-Vietnam Relations, Bk I, C-66) Quan trọng
hơn, giới ngoại giao Mỹ biết rõ liên hệ
với Quốc tế CS của Hồ. Việc Hồ chính
thức giải tán Ðảng Cộng Sản Ðông Dương
ngày 11/11/1945-hành động có một không hai trước
ngày sụp đổ của Ðông Âu và Liên Sô trong
thập niên 1980-chưa đủ khiến các viên chức
Mỹ xóa bỏ thành kiến về Hồ. Ngày 5/12/1946,
chẳng hạn, trong khi cho lệnh Moffat ra Hà Nội
gặp Hồ, Quyền Ngoại trưởng Acheson nhấn
mạnh:
Nhớ kỹ rằng Hồ là một cán
bộ QTCS, và chưa có bằng chứng nào về việc
Hồ đã cắt đứt liên hệ với Mat-scơ-va.
. . . và sự yểm trợ của Ðảng Cộng
Sản Pháp mà Hồ nhận được. (Tel. ngày
5/12/1945, Acheson gửi Moffat (Sài-gòn); US-Vietnam Relations, Bk VIII,
VB2, tr. 85-6. Trước đó gần hai tháng, ngày 9/10/1946,
Acheson từng yêu cầu Tổng lãnh sự Reed ở Sài-gòn
giải thích ý nghĩa lá cờ đỏ sao vàng của
Việt Minh-cờ của Liên đoàn chống Nhật
của các sắc dân Malay [Malayan Peoples Anti-Japanese Union, hay MPAJU] cũng màu đỏ, 3 sao vàng (tượng
trưng cho 3 sắc tộc ở Malaya); FRUS, 1946, VIII:6?).
Mặc dù không được đọc
điện văn trên trước khi gặp Hồ tại
Hà Nội, Moffat có vẻ chia xẻ quan điểm trên. Vào
giữa tháng 12/1946, Moffat báo cáo lên Bộ Ngoại Giao
Mỹ:
[Hồ] nói tiếng Anh, nhưng tôi không
hiểu rõ ý nghĩa của những chữ Hồ dùng. Tâm
ý chính của Hồ là nụ cười và vẻ thân
mật ‘Ðừng ngại gì cả!’-trùng hợp với
quan điểm của một thiểu số người
Pháp có khả năng (khác với dư luận của
đám đông) rằng nhóm cầm đầu Việt Nam
hiện nay đang ở giai đoạn đầu là
quốc gia, và sử dụng các thủ thuật cùng
kỷ luật đảng để thực hiện
mục tiêu cuối cùng; tình trạng một chế độ
quốc gia như thế là điều kiện cần
để thực hiện một chế độ Cộng
Sản, mà hiện tại vấn đề thời gian
chỉ là thứ yếu. (Thư Moffat gửi BNG (12/1945);
trong Blum, United States and Vietnam, Phụ bản II, tr. 40-2)
Không kém quan trọng, ít nữa cho tới
trước khi áp dụng chính sách bài Liên Sô tại
Mỹ, là sự đồng thuận trong giới chức
Mỹ rằng người Việt thiếu khả năng
tự quyết. Vào đầu năm 1946, khi nói chuyện
với Sharp thuộc Phòng Ðông Nam Á BNG, Gallagher bày tỏ
quan điểm riêng rằng mặc dù đòi hỏi độc
lập lan tràn trong mọi giới, ‘người An-nam-mít
chưa sẵn sàng để tự cai trị và trong
cuộc chen vai với những nước khác, họ
sẽ thua.’ (Báo cáo ngày 30/1/1946 của Sharp; US-Vietnam
Relations, Bk VIII, tr. 53-7)
Cách nào đi nữa, diễn đàn
quốc tế hoàn toàn đóng cửa với Hồ. Vì
sự sinh tồn của chính chế độ và đảng
CSÐD, Hồ phải đương đầu với các
thế lực trong nội địa Việt Nam. Mặc dù
quân Pháp đã bắt đầu cuộc tái xâm lăng
miền Nam từ tháng 9/1945, và dân quân miền Nam đã
phất cờ kháng chiến sau ngày quân Bri-tên yểm
trợ cho Pháp cướp chính quyền ở Sài Gòn ngày
22-23/9/1945, đối tượng ngoại giao khẩn
cấp và trực tiếp của Hồ là Lư Hán và hơn
155,000 quân Tưởng Giới Thạch tại phía Bắc
vĩ tuyến 16.
II. HỒ VÀ QUÂN TRUNG HOA:
Không rõ vào dịp nào Hồ được
biết tin quân Tưởng Giới Thạch sẽ
chiếm đóng miền Bắc Ðông Dương. Chỉ
biết ngày 26/8/1945-đúng ngày Hồ về tới Hà
Nội, và hai ngày trước khi Thạch công bố chính
sách chiếm đóng-Patti cho Võ Nguyên Giáp, và rồi Hồ
biết sự thực này. (Patti, Why Viet-Nam, 1980:202; Giáp, Không
thể nào quên, 2001:18) Hôm sau, Sainteny cũng báo cho Giáp và Dương
Ðức Hiền biết tin trên, với sự hiện
diện của Patti. (Patti, Why Viet-Nam, 1980:209; Sainteny, Paix
manquee, tr. 86-7. Giáp không nhắc đến chi tiết này)
Hồ và các thuộc hạ rất bối
rối. Sự chiếm đóng của quân Trung Hoa sẽ
tạo nên những khó khăn muôn mặt. Trái ngược
với dư luận và những lời đồn đãi,
quan tướng Trung Hoa biết rất rõ về Hồ và
mặt trận Việt Minh. Họ đã từng cầm tù
Hồ hơn một năm vì tội nhập cảnh
bất hợp pháp, tình nghi Cộng Sản, và vì các cán
bộ của Hồ tìm cách phá hoại việc thành
lập các đơn vị tiền tiêu Việt kiều
trong kế hoạch Hoa quân Nhập Việt. Năm 1943, quan
tướng Trung Hoa trả tự do cho Hồ, có lẽ vì
áp lực Mỹ.
Một số Tướng Trung Hoa tại
địa phương, đặc biệt là Trung tướng
Tiêu Văn, vốn không ưa Hồ. Thêm vào đó, quân
Trung Hoa sẽ mang về nội địa nhiều tổ
chức Việt kiều ở Hoa Nam. Ngoài hai nhóm nhỏ liên
hệ với Ðảng CSÐD bên cạnh Chỉ đạo
thất Việt Cách tại Ðệ tứ Quân khu (sau đổi
thành Ðệ nhất phương diện quân của Trương
Phát Khuê), đa số Việt kiều cũng chống
Cộng hăng say như chống Pháp.
Việt Cách (hay Ðồng Minh Hội) là
tổ chức do quan tướng Trung Hoa lập nên từ mùa
Thu 1944, để chuẩn bị cho chiến dịch "Hoa
quân nhập Việt," dưới quyền Tiêu Văn.
Tham gia tổ chức này có nhiều nhân vật tên
tuổi ở Hoa Nam như Trương Bội Công (Nguyễn
Văn Chiêu), Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh,
Trương Trung Phụng, Hoàng Lương, Lê Tùng Sơn,
Bồ Xuân Luật, Vũ Kim Thành, Lương Văn Ý v..
v... Chính Hồ cũng là một ủy viên dự
khuyết của Ban Hành Ðộng, và được Văn
cho mang 18 cán bộ Việt Cách (kể cả ‘chị
Thuần’ Ðỗ Thị Lạc) về nước vào tháng
9/1944. Tuy nhiên, Hồ móc nối được với cơ
quan OSS, và sau tháng 3/1945, làm việc trực tiếp với
OSS dưới bí danh "Lucius." Cho rằng sau khi Hồ
bắt được chân cẳng Mỹ không còn kính
trọng mình nữa, Tiêu Văn đã có lần nhắn
tin đe dọa sẽ bắt sống Hồ và tiêu
diệt Việt Minh.
Tổ chức Việt Cách-ít nhất trên
danh nghĩa dưới sự lãnh đạo của
Nguyễn Hải Thần, một nhà cách mạng đã qua
Trung Hoa từ đầu thế kỷ XX, và bị Pháp
kết án tử hình năm 1913 do những hành động
chống Pháp-có một lực lượng quân sự khá
mạnh. Mùa Hè 1945, Việt Cách có khoảng 500-600 người,
với 150 súng. Vào tháng 6/1945, tại Bảo Lạc có 200
binh sĩ Việt Cách, 600 lính đào ngũ của toán
Seguin, do Thượng sĩ Loung, thuộc đại đội
11, Tiểu đoàn 9 Cao Bằng chỉ huy. Tại Pan Cra có
200 quân; và giữa Bảo Lạc-Pan Cra có 500 dọc theo biên
giới. Trong mùa Hè 1945, lực lượng Việt Cách cũng
từng hoạt động phá hoại vùng biên giới
Ðông Bắc. (CAOM (Aix), HCI, CP, c. 192; INF, c. 121, d. 1102. Xem thêm
Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, II, 1993:288-304)
Phần tổ chức VNQDÐ hải ngoại
được Trung Hoa Quốc Dân Ðảng bảo trợ,
và sử dụng như những toán tiền tiêu của các
đơn vị Vân Nam. Trong số các lãnh tụ có Vũ
Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Chu Bá Phượng,
Nguyễn Tường Tam v.. v... Lực lượng VNQDÐ có
khoảng 2,000 tay súng.
Bất kể sức mạnh của các
tổ chức này ra sao, họ sẽ tạo nhiều
rắc rối cho Hồ. Tháng 8/1945, Vũ Kim Thành đã
về tới Móng Cáy. Sau đó, khi Việt Minh tuyên bố
thành lập chính phủ, Thành cũng lập một chính
phủ lâm thời, với Trương Bội Công phụ
trách Quân sự vụ; Nguyễn Hải Thần làm Bí thư;
Hoàng Lương, Ngoại vụ; và Nông Kính Giu, Tài chính.(1)
Vài ngày sau, Nguyễn Hải Thần cùng Nông
Quốc Long mang quân vào Lạng Sơn. Long là một
thổ hào Nùng, từng chạy qua Hoa Nam sau cuộc nổi
dạy năm 1940. Việt Minh cố chống cự, nhưng
cuối cùng phải rút lui. (CMTT, tập I, tr. 111. Xem thêm
hồi ký của Thượng tướng Phùng Văn Tài,
2001)
Trong khi Nguyễn Hải Thần xuôi Hà
Nội để gặp Lư Hán để xin ủng
hộ cũng như tiếp xúc các phe phái trong nước,
đặc biệt là các tổ chức Ðại Việt và
thanh niên thân Nhật đã bị Việt Minh giải tán,
đặt ra ngoài vòng pháp luật và tận tình truy
diệt, Nông Quốc Long đóng quân ở Kỳ Lừa,
một quận lÿ nhỏ gần biên giới. Tuy nhiên,
một số lãnh tụ Việt Cách thực ra là cán
bộ Cộng Sản, như Hồ Ðức Thành, hoặc
đã bí mật ngả theo Cộng Sản như Lê Tùng Sơn
và Bồ Xuân Luật. Sơn, một lãnh tụ trung ủy
Việt Cách, trên thực tế hành xử như một cán
bộ "ngoại giao" giữa Việt Minh và các
lực lượng của Tiêu Văn.
Phía Tây Bắc, lực lượng võ trang
Việt Quốc của Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường
Tam theo Quân đoàn 93 Vân Nam nhập Việt qua ngả Lào
Kay.(2)
Họ chiếm một số thị xã như
Lào Kai, Cốc Lếu, Yên Bái, Phú Thọ, Việt Trì,
Bạch Hạc, Vĩnh Yên, Vĩnh Phú v.. v... Vì tình
trạng ngập lụt, đạo quân Vân Nam di chuyển
chậm chạp như một đoàn châu chấu khổng
lồ. Ngoài ra, các đơn vị Việt Quốc
nhiều lần chạm súng với Việt Minh. Mãi tới
giữa tháng 10/1945, mới về tới Hà Nội. Vào
thời điểm này, hầu hết đồng chí
của họ trong nội địa đã bị các ‘đội
danh dự’ của Võ Nguyên Giáp tiêu diệt hay xử
tử trước những ‘tòa án nhân dân’ với
bản án ‘Việt gian.’(3) Hàng ngàn người khác
bị bắt giữ và an trí.
Nguy hiểm hơn nữa cho chế độ
Hồ là quan điểm của quan tướng Trung Hoa
đối với Việt Minh. Trong khi ra nghiêm lệnh
cấm các quan tướng không được mở
bất cứ liên hệ chính thức nào với chế
độ Hồ,(Chen, 1969:126-7) Thạch tảng lờ
mọi thỉnh nguyện của Hồ, kể cả
việc xin cử một phái đoàn thân hữu qua thăm
Trùng Khánh, (Thư ngày 22/10/1945, Hồ Chí Minh và Nguyễn Vĩnh
Thụy gửi Tưởng Giới Thạch; US-Vietnam
Relations, Bk I, C-83. Mãi tới tháng 3/1946, Thạch mới cho
phép một phái đoàn Việt Nam qua thăm Nam kinh, do Nghiêm
Kế Tổ cầm đầu) và lời kêu gọi Trung
Hoa can thiệp để ngăn chặn việc Pháp xâm lăng
Nam Việt Nam. (Tel. ngày 28/10/1945, Hồ gửi Tưởng;
Ibid., Bk I, tr. C 91)
Ðối với chính phủ Việt Minh,
Hội đồng Quân quản Trung ương Trung Hoa không
nhìn nhận; nhưng vẫn sử dụng nó như
một công cụ hành chính để thu góp chiến
lợi phẩm. Vì quan tướng Trung Hoa nắm toàn
quyền chỉ huy tại các tỉnh quan trọng miền
Bắc, bất cứ buổi hội họp hay biểu tình
nào phải xin giấy phép trước. Hồ và các
bộ trưởng phải có giấy phép đi đường
do Ban Cảnh vệ Trung Hoa cấp. Ngay đến Bộ trưởng
Nội vụ Giáp từng bị câu lưu vài giờ trên
đường đi ra Hà Ðông. (Giáp, Không thể nào quên,
1974:63; 2001:57) Tháng 11/1945, Tướng Chu Phúc Thành, Tư
lệnh Lộ quân 53 Trung ương, từng tra vấn
Hồ gần một ngày về việc ám sát một Pháp
kiều tại Hà Nội. Sau khi phóng thích Hồ, Thành cho
lệnh câu lưu tài xế và tạm giữ xe của
Hồ. (Ibid., tr. 107-108; Idem., 2001:96-98; Sơn, Nhật ký, tr.
200ff ) Sự dọa nạt của quan Tướng Trung Hoa
trầm trọng đến độ đêm nào Hồ cũng
phải thay chỗ ở. (Giáp, Không thể nào quên, 1974:64;
2001:58)
Là một tay lão luyện về nghệ
thuật sống còn, Hồ mau chóng thay đổi ‘đường
kách mệnh’ để làm vui lòng quan tướng Trung Hoa.
Ba thập niên sau, Giáp ghi nhận:
Với Bác, chân lý cách mạng là cụ
thể. Vận động sách lược, cũng là
cụ thể. Tuy tất cả bọn Tưởng đều
là những tên phản động, nhưng với từng
đối tượng cụ thể, ta cần có cách
đối xử cụ thể. . . . (Ibid., 1974:99; Idem,
2001:89)
Nói một cách vắn tắt, theo Giáp,
chiến lược chung của Hồ là tránh đụng
chạm với quan tướng Trung Hoa bằng mọi giá.
(Ibid., 1974:94; 2001:85) Trong khi đó, Hồ cũng thực
hiện một chính sách thực tế và sáng tạo hơn
là hối lộ quan tướng Trung Hoa về cả hai
mặt tinh thần cũng như vật chất. Với
những Tướng nhiều uy quyền, đặc
biệt là Lư Hán và Tiêu Văn, cố vấn chính
trị của Hán, Hồ đích thân đến chào và xin
chỉ thị, cùng làm cho đầu họ to hơn
với những lời ca ngợi Tam Dân Chủ Nghĩa
của Tôn Dật Tiên. (US-Vietnam Relations, Bk I, C-99; Chen,
1969:84-5) Ngoài ra Hồ còn khiến ngay cả Giáp cũng
phải sửng sốt khi thấy Hồ quen biết các
quan cấp nhỏ Trung Hoa, nhờ họ mua chuộc các
cấp chỉ huy cần hối lộ. (Giáp, Không thể nào
quên, 1974:98; 2001:88-89) Ðể có tiền hối lộ các
quan Tướng Trung Hoa, Hồ phát động nhiều
chiến dịch quyên góp tiền bạc qua các Quỹ Ðộc
Lập, Tuần lễ vàng, Tuần lễ Văn hóa, Quĩ
Kháng Chiến v... v... Một số không nhỏ tiền và
quí kim này-lên tới khoảng 20 triệu đồng và 375
[370] cân Tây vàng (Ibid., 1974:98; 2001:71-72)-cuối cùng lọt vào
tay quan Tướng Trung Hoa. Nhờ vậy, Hồ và chính
phủ Việt Minh qua được nhiều cơn sóng gió.
Ngay đến Tiêu Văn cũng ra sức bênh vực
Hồ. (US-Vietnam Relations, Bk I, C-82 (yêu cầu cho một phái
đoàn Việt Nam qua thăm Trùng Khánh); Chen, 1969:127. Theo
một tác giả Pháp, Hồ biếu Lư Hán cả
một bộ bàn đèn hút thuốc phiện bằng vàng;
Devillers, 1952:193)
Không những chỉ tự do bóc lột
tiền bạc, quí kim, gạo và thuốc phiện, quan Tướng
Trung Hoa còn dàn xếp việc thành lập một chính
phủ liên hiệp giữa Hồ với các lãnh tụ lưu
vong mới hồi hương. Từ trung tuần tháng
9/1945 đã có tin đồn ở Hà Nội về việc
thành lập một chính phủ liên hiệp, thân Trung Hoa.
Theo những tin đồn này, Nguyễn Hải Thần
sẽ làm Chủ tịch và Hồ làm Phó. (Xem những tin
tức về Hồ Chí Minh và Nguyễn Hải Thần
trong Department of State, Interim Research and Intelligence Service, Research
and Analysis Branch, RAA No. 3336, ‘Biographical Information on Prominent
Nationalist Leaders in French Indochina (25 Oct 1945)’) Hàng rào ngăn
cản là lập trường khác biệt giữa hai phe
Cộng Sản và chống Cộng, mà sự hiềm khích
đã hiển lộ tại Trung Hoa từ đầu
thập niên 1940, nếu không phải sớm hơn.
Việc chế độ Hồ ám sát, thủ tiêu và
bắt giữ hàng ngàn người không Cộng Sản,
đặc biệt là đảng viên Ðại Việt và
Việt Quốc, tạo nên một cuộc nội chiến
sắt máu tại các vùng nông thôn và không khí ngột
ngạt tại các thành phố và tỉnh lÿ. Cả hai
tổ chức Việt Cách của Nguyễn Hải Thần,
và Việt Quốc của Vũ Hồng Khanh-Nguyễn Tường
Tam (tức liên minh Việt Quốc và Ðại Việt) công
khai tố cáo gốc gác Cộng Sản của Hồ.
Việt Nam Thời Báo, cơ quan ngôn luận của
Việt Quốc, và các báo tư nhân ấn hành sau tháng
10/1945 công khai đả kích Hồ. (Việt Nam Thời Báo
thường được biết như báo Việt Nam.
Trong thư viện của Văn khố Bộ thuộc
địa Pháp có 20 số báo này (vào năm 1983).) Từ
khu tự trị Ngũ Xã (tây bắc Hà Nội), những
cuộc đấu khẩu bằng loa phóng thanh ra rả ngày
đêm. Và, dĩ nhiên, cũng có những cuộc biểu
tình, ẩu đả, bắt cóc hầu như mỗi ngày.
Sự chống đối của phe không
Cộng Sản mạnh mẽ đến độ Hồ
không thể tổ chức được cuộc bầu
cử Quốc Hội vào ngày 8/11/1945 như đã hứa
hẹn. (Nghị định số 14, ngày 8/9/1945; Cứu
Quốc, 10/9/1945) Bị dồn vào thế tiến thoái lưỡng
nan, Hồ tung ra một thủ thuật cực kỳ độc
đáo: Ngày 5/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng
CSÐD "nghị quyết tự động giải tán Ðảng....
Những tín đồ của Chủ nghĩa CS muốn
tiến hành việc nghiên cứu chủ nghĩa sẽ gia
nhập Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư
[Marx] ở Ðông Dương." Trường Chinh
được cử làm Tổng Thư ký Hội Nghiên
Cứu CNMKT này. (Cờ Giải Phóng [CGP], số 33,
18/11/1945) Mục đích của việc này, theo Hồ, là
đánh tan tất cả những sự hiểu lầm,
ở ngoại quốc cũng như trong nước, có
thể khiến cản trở việc giải phóng Tổ
quốc. (Ibid.)
Thực ra, đây chỉ là màn kịch
của Hồ. Từ tháng 10/1945, tất cả các cán
bộ Ðảng CSÐD đã được lệnh rút vào bóng
tối. Cơ quan ngôn luận của Ðảng CS, tờ
Cờ Giải Phóng, được cải danh thành tờ
Sự Thật. Việc giải tán Ðảng CS, bởi
thế, được diễn giải như nhắm vào dư
luận đám đông, làm hài lòng các quan tướng
Trung Hoa cùng thế giới.
Việc làm của Hồ được các
quan tướng Trung Hoa đón nhận nồng nhiệt.
Trong những ngày kế tiếp, nhóm Thiều Bá Xương,
Tiêu Văn và rồi Chu Phúc Thành đứng ra hòa giải
giữa Hồ và các đối thủ. Tuy nhiên, Hồ
phải tạm hoãn cuộc bầu cử Quốc Hội
đến hai lần vì mãi tới ngày 24/12, sau nhiều
đợt thương thảo, Hồ và hai phe Việt Cách,
Việt Quốc mới đạt được một
thỏa hiệp.
Mặt khác, sau khi Thạch chính thức
đồng ý trao trả Bắc Ðông Dương cho Pháp,
quan Tướng Trung Hoa còn khuyến khích Hồ phải thương
thuyết với Pháp về việc cho phép Pháp thay thế
quân Trung Hoa tại Bắc Ðông Dương.
III. THƯƠNG THUYẾT VỚI PHÁP:
Từ mùa Hè 1945 đã có những dàn
xếp cho Pháp và Việt Minh thương thuyết, nhưng
không thành công. (Salan, I:353; Chronique 1985:229-241) Ngày 25/7, Hồ
Chí Minh lại nhờ tình báo Mỹ làm trung gian để
nói chuyện với một nhân vật cao cấp của Pháp.
Thiếu tá Thomas, người cầm đầu Ðoàn Con Nai
của OSS Mỹ chuyển ý kiến này về Bách-sắc
(Quảng Tây). Toán AGAS cũng chuyển ý kiến của
Hồ sang Côn Minh (Vân Nam). (Giáp, 1974:222) Theo Jean Sainteny, người
chỉ huy lực lượng M-5 tại Hoa Nam, thời gian
này Việt Minh đồng ý chấp nhận sự trở
lại của Pháp, với điều kiện "được
độc lập trong vòng từ 5 tới 10 năm".
(Causes, etc.; Sainteny 1970:68. Xem thêm chi tiết trong Hồ Chí
Minh: Con người & huyền thoại, II, 1993)
Sau khi Việt Minh giành được chính
quyền, ngày 27/8, Ðại úy OSS Patti đã giới
thiệu Sainteny với Võ Nguyên Giáp và Dương Ðức
Hiền; và chính Sainteny đã báo cho hai người này
biết quyết định của tam cường tại
Potsdam là sẽ chia Ðông Dương làm hai vùng chiếm
đóng. (Sainteny 1953:86-7; Patti 1980:209)
Phần Hồ chỉ trực tiếp
gặp các đại diện Pháp tại Hà Nội từ
hạ tuần tháng 9/1945, tức gần một tuần
lễ sau ngày Pháp tái chiếm Sài Gòn. Ngày 28/9-đúng ngày
lễ giải giới Nhật tại Hà-nội-Hồ
tiếp Tướng Alessandri cùng Pignon. (Giáp 1974:140; 2001:128)
Sau đó, Alessandri và Pignon bí mật thương
thuyết với Hoàng Minh Giám. Từ ngày 15/10, giữa lúc
đường phố Hà Nội như dầu sôi lửa
bỏng vì tin quân Pháp đổ bộ ở miền Nam, và
tin đồn về ám sát, hành hung loan truyền, Sainteny
mới chính thức mật đàm với Hồ. (Sainteny
1970:51)
Tuy nhiên, những cuộc mật đàm này
không đưa đến kết quả mong muốn. Có
nhiều lý do. Trước hết, lập trường
Hồ đã thay đổi, cứng rắn hơn. Hồ
đòi hỏi Việt Nam phải được độc
lập, và thống nhất lãnh thổ. Những điều
kiện trên được bạch hoá trong buổi họp
báo tại Hà Nội ngày Thứ Bảy, 20/10/1945. Dịp này,
Hồ nhấn mạnh:
Pháp phải thừa nhận nền độc
lập của Việt Nam, bằng không thì không thể nói
chuyện gì được cả.( CQ, 23/10/45)
Phía Pháp, vì de Gaulle vẫn đặt quân
sự lên ưu tiên hàng đầu, các đại diện
của Paris muốn ‘mua thời gian.’ Theo họ, Việt
Minh chỉ là một trong những đảng phái cách
mạng tại Việt Nam, và chính phủ Pháp muốn ký
hiệp ước với một chính phủ đại
diện mọi thành phần, khuynh hướng. Cũng
với mục đích làm suy yếu Việt Minh, và đặt
để những thành phần thân Trung Hoa vào chính
quyền, nhóm Thiều Bá Xương, Tiêu Văn và rồi
Chu Phúc Thành không ngừng áp lực Hồ phải liên
hiệp-hoà giải, hoà hợp-với các lực lượng
không Cộng Sản, đại biểu bằng Việt Nam
Cách Mệnh Ðồng Minh Hội và Việt Nam Quốc Dân
Ðảng (VNQDÐ), mới theo các toán quân chiếm đóng
hồi hương. Mặt khác, quan Tướng Trung Hoa
khuyến khích Hồ phải thương thuyết với
Pháp về việc cho phép Pháp thay thế quân Trung Hoa
tại Bắc Ðông Dương.
Thời gian này, chiến cuộc Nam bộ
đang bùng nổ dữ dội. Ngày 23/10, chẳng hạn,
Cứu Quốc, cơ quan tuyên truyền của Tổng
bộ Việt Minh, đi tin 4 cột trang nhất: "Chiến
sự tại Nam Bộ; Quân ta đương thực
hiện khẩu hiệu: Ðốt Sài Gòn ra tro." (CQ,
23/10/45) Cũng ngày này,
Hồ công bố quyết định chọn ngày 5/11/1945 làm
Ngày Kháng chiến Toàn quốc. Trong khi đó, bạo động
diễn ra trên đường phố, vì Ủy ban Hoa
kiều treo cờ Liên Hiệp Quốc, kể cả cờ
Pháp, trước một rạp hát để chào đón
quan tướng Trung Hoa mà không treo cờ Việt Minh. Ðám
đông xé cờ Pháp, tấn công Pháp kiều, giết
chết 2 sĩ quan Pháp lận súng ngắn trong người.
(United States Senate, Committee on Foreign Relations, The United States and
Vietnam: 1944-1947; A Staff Study Based on the Pentagon Papers, Prepared for the
Use of the Committee on Foreign Relations United States Senate (Washington, DC:
GOP, 1972), tr. 24)
Ðầu tháng 11/1945, không khí Hà Nội ngày
thêm bốc lửa. Tin đồn về đình công, bãi
thị, hành hung hay bắn giết Pháp kiều ngày một
gia tăng. Quan tướng Trung Hoa phải cho lệnh
bắt giữ cả Trưởng Ty Công An Việt Minh
tại Hà Nội. Ngày 3/11, Việt Minh đề nghị nói
chuyện với Pháp về vấn đề an ninh,
trật tự ở thủ đô. (Hale, 1945:24-5) Qua
những cuộc thương thuyết này, ngày 25/11,
d'Argenlieu có thể tuyên bố với một viên chức
cao cấp Mỹ là "những cuộc thương
thuyết với dân An-nam-mít để giải quyết
những dị biệt tiến triển rất khả quan,
và chúng tôi đã hứa không xét xử những lãnh
tụ An-nam-mít như tội phạm chiến tranh".
(Hale, 1945:30)
Ðầu tháng 12/1945, do sự dàn xếp
của Hoàng Minh Giám, Hồ, Giáp và Giám gặp Sainteny, Salan
và Pignon tại Hà Nội, mở đầu một đợt
mật đàm mới. (Chronique 1985:98)
Thái độ Hồ lúc này mềm dẻo
hơn. Ngày 4/12, Giám thúc dục Pignon nên thương
thảo càng nhanh càng tốt, và tiết lộ là Hồ
muốn gặp d'Argenlieu. Ngày 7/12, Pignon bí mật giao cho Giám
một bản dự thảo Hiệp ước. (Chronique
1985:99)
Qua ngày Thứ Bảy 8/12, Giám yêu cầu
gặp Pignon hôm sau; và tiết lộ chính phủ Hồ
sợ quân Trung Hoa làm đảo chính. (Chronique 1985:100) Trong
buổi gặp mặt ngày 9/12 này, Giám tâm sự với
Pignon rằng đây có lẽ là lần cuối cùng mình thương
thuyết với Pháp, vì một chính phủ Liên Hiệp
sẽ thành lập trong một tương lai gần.
Một tuần sau, ngày 16/12, Pignon vào Sài Gòn gặp
d'Argenlieu, báo cáo kết quả những cuộc mật
đàm với Giám. D'Argenlieu đồng ý gặp Hồ trên
chiến hạm Richelieu ngoài khơi Ðồ Sơn trước
cuối tháng 12/1945. Tuy nhiên, cuộc gặp mặt này không
thực hiện được vì Sainteny sợ Tướng
Trung Hoa ngăn cản. (Chronique 1985:106-7. Ngày 16/10/1945, Sainteny
từng bị lính Trung Hoa bắt giữ ít giờ; nhưng
sau đó được tha do sự can thiệp của
Mỹ; CAOM (Aix), INF, c. 159,
d. 1363)
Hơn nữa, tại Paris, giới quân
sự khẳng quyết rằng ngoại trừ có một
biến cố đặc biệt nào, vào khoảng đầu
Xuân 1946, quân lực Pháp có thể làm chủ tình hình Ðông
Dương. (Note ngày 4/12/1945; Papiers Bidault; Valette 1984:4)
Thời gian này, tưởng cũng nên thêm,
cả Paris lẫn Sài Gòn đều bắt đầu nghĩ
đến việc tìm "một nhân vật mới" có
thể dễ thỏa hiệp hơn Hồ. Nhưng khi Paul
Mus, đặc sứ viên của d'Argenlieu về Paris, "nhân
vật mới" trên, tức Hoàng tử Vĩnh San
(1900-1945), ‘đã tan biến như một giấc mơ
đẹp.’ Quan trọng hơn, ngày 20/1/1946, lãnh tụ
lớn của nhóm Gaullist bỗng đột ngột từ
chức. Cùng ra đi với de Gaulle là chính sách luật
kẻ mạnh. Cuối tháng 1/1946, sau khi chính phủ Félix
Gouin thành lập, có sự thay đổi đáng kể
trong chính sách Ðông Dương của Pháp. D'Argenlieu
được lệnh phải xúc tiến nhanh việc thương
thuyết. Phía Hồ, thời gian này cũng bận rộn
vì sự dàn xếp một chính phủ liên hiệp để
có thể tổ chức bầu cử Quốc Hội như
đã loan báo, và thiết lập vị thế pháp lý
hầu thảo luận với Pháp.
A. CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP-BẦU CỬ
QUỐC HỘI:
Ðể bảo đảm sự hợp pháp
của chính phủ VNDCCH, từ ngày Thứ Bảy, 8/9/1945,
Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 14, quyết định
tổ chức bầu "Quốc dân đại biểu
đại hội" trong vòng 60 ngày.(CQ, 10/9/45) Ngày 26/9,
Hồ lại ký sắc lệnh số 39, thành lập
Ủy ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng
tuyển cử. Nhưng sau đó, phải dời ngày
bầu cử tới 23/12/1945.
Cả Pháp lẫn Trung Hoa đều tìm cách
ngăn chặn việc tổ chức bầu cử chỉ
có phần hình thức này. Do nhu cầu sinh tồn, từ
tháng 10/1945, Việt Minh phải thương thuyết
với Việt Cách và VNQDÐ về việc thành lập
một chính phủ liên hiệp hầu có thể tổ
chức bầu cử Quốc Hội như đã dự trù.
Ngày 23/10, đúng ngày Hồ chọn ngày 5/11/1945 làm ngày Kháng
chiến Toàn quốc, phe Hồ tung tin hai phe Việt Minh và
Ðồng Minh Hội ký thỏa ước hợp tác
lần thứ nhất. Tuy nhiên, đây chỉ là một màn
kịch do Võ Nguyên Giáp và Lê Tùng Sơn chủ trương.(4)
Ít ngày sau, Vũ Kim Thành rút chân khỏi Hội liên
tịch Ðồng Minh Hội và Việt Minh.
Những cuộc bạo động và công
kích trên báo chí giữa Việt Minh và phe VNQDÐ-Ðồng Minh
Hội diễn ra hàng ngày. Tại Hà Nội, phe VNQDÐ-Ðồng
Minh Hội thành lập được một khu vực
tự trị tại vùng Quan thánh/Ngũ xã, mở trận
chiến phản tuyên truyền chống Việt Minh, tố
cáo gốc gác Cộng Sản của Hồ cùng các tay chân
thân tín. Các toán cảm tử VNQDÐ còn ám sát "Ba" [Ðại
úy] Viên, một "đảng viên" phản bội, và
mưu sát Bồ Xuân Luật. Trương Trung Phụng, người
cầm đầu Ðồng Minh Hội, cũng bị
bắt cóc, nhưng sau đó Tiêu Văn can thiệp
phải thả. Một vài cán bộ Cộng Sản, như
Trần Ðình Long-tốt nghiệp Ðại học Ðông phương
[KUTV] Mat-scơ-va cùng thời với Litvinov Doãn và
được bí mật cử làm người thay Litvinov
Doãn trong thời gian tái tổ chức Ðảng CSÐD vào
đầu thập niên 1930, nếu có chuyện bất
trắc, lúc ấy đang hoạt động dưới
danh nghĩa Ðảng Dân Chủ-bị thủ tiêu. Có
lần, phe VNQDÐ còn bắt cóc được cả Võ Nguyên
Giáp.
Theo Giáp, trong tháng 11/1945, Tướng Chu Phúc
Thành, Tư lệnh Quân đoàn 53 Trung ương ở Hà
Nội, cũng đã hỏi cung Hồ gần một ngày
về cái chết của một người Pháp. Cuối
cùng, Hồ được tha, nhưng tài xế và xe riêng
bị giữ lại. (Giáp, KTNQ, 1974:63; 2001:96-98; Sơn
1978:200ff. Phần Lê Tùng Sơn cũng bị bắt giữ.
Không rõ chi tiết này có trùng hợp với tin Hồ
bị bắt ngày 2/2/1946, sau cái chết của Beylin ngày
9/1/1946 hay chăng)
Ðể đối phó với những
lời tố cáo Việt Minh là Cộng Sản, từ tháng
9/1945, Trung ương Ðảng CSÐD cho lệnh các đảng
viên phải rút vào bí mật. Rồi, như đã lược
nhắc, ngày 5/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng
CSÐD "nghị quyết tự động giải tán,’
hiệu lực từ ngày 11/11/1945. (CGP, 33, 18/11/1945)
Dưới áp lực của Tiêu Văn, ngày
24/11, ba phe Việt Minh, Việt Cách và VNQDÐ ký một
thoả ước liên hiệp, nhưng sớm đổ
vỡ. (DPSG, Rapport mensuel, Décembre 1945 (7/1/1946); CAOM (Aix), CP, c.
125)
Tại Hà Nội và các địa phương,
phe Việt Minh và các đảng phái khác tìm đủ cách
triệt hạ nhau. Ngày 10/12, chẳng hạn, Việt Minh
tấn công một số căn cứ của VNQDÐ tại
Vĩnh Yên. Phe Ðồng Minh Hội cũng chia làm hai. Trương
Trung Phụng tiếp tục hợp tác với Hồ; trong
khi phe Nguyễn Hải Thần chống đối. Theo
Thiều Bá Xương, sở dĩ việc thương
thuyết liên hiệp bị bế tắc vì phe không
Cộng Sản đòi ghế Chủ tịch và 6 ghế
Bộ trưởng. Hồ thì chỉ chịu nhường
3 ghế Bộ trưởng và một ủy ban Cố
vấn. (Thư của Thiều Bá Xương gửi King C.
Chen; Chen 1969b:129)
Do nỗ lực của Tiêu Văn, ngày
19/12, ba phe lại gặp nhau tại Bộ Tư lệnh quân
Trung Hoa. Rồi ngày 24/12, ký một thoả ước "hợp
tác tinh thành" khác tại số 40 Ðại lộ Gia Long,
dưới sự chủ tọa của Văn. Thỏa
ước này gồm 18 điểm, có những điểm
chính sau:
1. Thành lập ngày 1/1/1946 một chính
phủ liên hiệp với 10 bộ, do Hồ làm Chủ
tịch, Nguyễn Hải Thần làm phó. Số ghế
được chia 2 ghế cho VM, 2 cho VNQDÐ, 2 cho Ðảng Dân
Chủ, 2 cho Ðồng Minh Hội, 2 cho độc lập.
2. Tổ chức bầu cử ngày 6/1/1946.
3. VNQDÐ được dành 50 ghế, ÐMH, 20
ghế.
4. Các đảng tự nguyện không gây
hấn với nhau.(5)
Hai ngày sau, 26/12, báo chí thủ đô đều
đăng thông cáo "Ðoàn Kết" của Hồ Chí
Minh, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh. Nguyên văn
thông cáo này như sau:
Ngày 24-12-1945, chúng tôi là Hồ Chí Minh,
Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh thay mặt
cho Việt Minh, Quốc Dân Ðảng và Cách Mệnh Ðồng
Minh Hội, cùng ký tên công nhận những điều
ước sau đây:
1. Ðộc lập trên hết, đoàn
kết trên hết. Căn cứ vào thái độ thân ái,
tinh thành cùng nhau thảo luận để giải
quyết hết thẩy những vấn đề khó khăn
trước mắt. Ai dùng ngang vũ lực gây nên
những cuộc nội loạn sẽ bị quốc dân
ruồng bỏ.
2. Kể từ ngày 25-12-1945, đôi bên
phải ủng hộ một cách thiết thực cuộc
tổng tuyển cử, quốc hội và kháng chiến.
3. Bắt đầu từ ngày 25-12-1945,
đôi bên đều đình chỉ hết thẩy
những việc công kích nhau bằng ngôn luận và hành
động.
Ký tên: Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải
Thần và Vũ Hồng Khanh.
(CQ, 26/12/1945)
Ngày 26/12, trong một buổi họp báo,
Hồ chính thức tuyên bố là từ ngày 1/1/1946, chính
phủ lâm thời sẽ mở rộng, nhưng chỉ có
10 bộ. VNQDÐ sẽ nắm hai bộ Kinh tế Quốc Gia
và Vệ Sinh. Riêng Quốc Hội sẽ được
bầu vào ngày 6/1/1946. Số nghị sĩ trong Quốc
Hội sắp tới sẽ dành riêng 70 ghế cho phe
Quốc Dân Ðảng. (CQ, 28/12/1945; Giáp, KTNQ, 1974:110-1; 2001:99)
Ðúng ngày 1/1/1946, chính phủ Liên Hiệp lâm
thời ra mắt tại Nhà Hát lớn, Hà Nội. Hồ
vẫn giữ chức Chủ tịch; với Nguyễn
Hải Thần làm Phó. Giáp mất chức Bộ trưởng
Nội Vụ, nhưng được cử làm Chủ
tịch Hội đồng Quốc Phòng, với Vũ
Hồng Khanh (VNQDÐ) và Vũ Kim Thành (ÐMH) là hai trong
những thành viên. Năm ngày sau, cuộc bầu cử
Quốc Hội đầu tiên của Việt Nam được
tổ chức. Trong số 356 ghế dân biểu, như
đã dàn xếp sẵn, Việt Cách (tức Ðồng Minh
Hội) và VNQDÐ được dành riêng 70 ghế, và Nam
Bộ 18 ghế.
Gần hai tháng sau, ngày 23/2, ba phe VM, VNQDÐ và
Việt Cách lại đồng ý đổi tên Chính
phủ Lâm thời thành Chính phủ Liên Hiệp Kháng
Chiến. Hai bộ Canh Nông và Công Chính dành cho miền Nam.
Bộ Quốc Phòng và Nội Vụ dành cho người
trung lập (Phan Anh và Huỳnh Thúc Kháng). Việt Minh và Ðảng
Dân Chủ được 4 bộ; VNQDÐ và Việt Cách 4
bộ còn lại. Hội Ðồng Quốc Phòng được
cải danh thành Ủy ban Kháng Chiến Toàn quốc. Ðoàn
Cố vấn quốc gia thì ngoài Vĩnh Thụy có thêm Lê
Hữu Từ, Giám mục Ki-tô Phát Diệm. (La République (Hà
Nội), 10/3/1946. Theo Giáp, Hồ đã bàn về việc thành
lập chính phủ Liên Hiệp này với Tiêu Văn; vì các
đảng phái chống đối. Cuối cùng, hai bên
đồng ý thành lập một chính phủ Liên Hiệp
Kháng Chiến gồm 10 bộ; Giáp 1974:149-50; 2001:136-137)
Ngày Thứ Bảy, 2/3/1946, Quốc Hội
Việt Nam chính thức khai mạc. Ngày này, chính phủ
Hồ từ chức. Quốc Hội ủy Hồ thành
lập chính phủ mới. Nửa giờ sau, Hồ công
bố danh sách "Chính Phủ Liên Hiệp Kháng Chiến"
đã được bí mật dàn xếp từ trước.(6)
Ngày Thứ Hai, 4/3, chính phủ Liên hiệp
Kháng chiến họp lần đầu tiên. Tuy nhiên,
Thần vắng mặt. Tam cũng chưa chịu nhận
chức. (Hồ tiết lộ với Sainteny ngày 1/3 là Tam
đã nhận lời thay mình nắm chức Bộ trưởng
Ngoại Giao; Chronique 1985:182. Tuy nhiên, Tam chỉ nhậm
chức ngày 12/3/1946; Giáp 1974:214; 2001:150-156)
Trong khi đó, tin đồn Thần, và
rồi Cố Vấn Vĩnh Thụy, tức Cựu hoàng
Bảo Ðại, sẽ thay thế Hồ được loan
truyền khắp nơi. Theo một tin tình báo Mỹ,
Hồ tuyên bố đã đề nghị nhường
chức Chủ tịch cho Bảo Ðại, nhưng nhiều
lãnh tụ Việt không đồng ý, sợ làm mất
tinh thần dân chúng. (Hearings, 1946:330)
Tại Hà Nội và Hải Phòng, nhiều
gia đình giàu có bắt đầu tản cư vì có tin
quân Pháp sắp đổ bộ. Sự thờ ơ
với quyền lực, chức tước của Hồ
hay nhóm Tam, Thần này thực ra có hai nguyên ủy chính;
đó là Hoà ước Trung-Pháp ngày 28/2/1946, và một
hiệp ước Việt-Pháp đang thành hình. Cả hai
bản hoà ước này có liên hệ mật thiết
với nhau, và là môi sinh tạo nên những chuỗi
diễn biến chính trị vừa lược thuật.
Việc thành lập chính phủ Liên
Hiệp Kháng Chiến, thực ra, chỉ là sản phẩm
của luật kẻ mạnh. Cả Trung Hoa và Pháp đều
áp lực để có được chính phủ này. Các
phe phái Việt Nam phải cách này hay cách khác cúi đầu
tuân phục.
B. HIỆP ƯỚC SƠ BỘ 6/3/1946:
Như đã nhắc ở một đoạn
trên, lập trường hoà đàm đầu tiên của
Hồ là Pháp phải chấp nhận nền độc
lập và sự thống nhất lãnh thổ của
Việt Nam. Pháp thì chỉ đồng ý cho Việt Nam
tự trị, và Việt Nam chỉ có nghĩa phần lãnh
thổ Bắc bộ và Bắc Trung bộ.(7)
Một biến cố vào đầu tháng
2/1946 khiến Hồ thay đổi hẳn lập trường.
Ngày 2/2, tức đúng ngày mồng một Tết Bính
Tuất, Hồ bị Chu Phúc Thành, Tư lệnh Quân đoàn
53 TH, tạm giữ vài giờ.(8)
Hai tuần sau, ngày 16/2, Hồ đồng ý
bỏ hai tiếng độc lập, chấp nhận trên
nguyên tắc gia nhập Liên Hiệp Pháp, và đồng ý
cho quân Pháp thay thế quân Trung Hoa phía Bắc vĩ
tuyến 16. Một trong những hứa hẹn mật là tương
lai Nam Kỳ sẽ được thảo luận sau; và,
chính phủ Pháp phải trả lời tức khắc. (Tel
No. 515/Cab, Cororient gửi EMGDN Paris, ngày 17/2/1946; SHAT (Vincennes),
10H 143; Chronique 1985:156-157)
Sự lùi bước của Hồ
khiến Paris vô cùng hồ hởi. Thực ra, từ ngày
14/2, chính Tướng Leclerc-lúc đó đang xử lý thường
vụ chức Cao Ủy vì d'Argenlieu phải về Pháp
nhận chỉ thị của chính phủ Felix Gouin-đã yêu
cầu Pháp nên nhìn nhận tiếng "độc lập"
vì trên thực chất chỉ có nghĩa tự trị.
(SHAT (Vincennes), 10H 143. Tướng Juin giao công điện này
cho d'Argenlieu ngày 18/2/1946 tại Paris; Chronique 1985:155)
Bởi thế, ngày 21/2, từ Paris,
d'Argenlieu chấp thuận đề nghị của Hồ;
nhưng nhấn mạnh: không bảo đảm rằng
Việt Nam sẽ có cả Nam Kỳ. (Tel. số 232/C.I., ngày
21/2/46, D'Argenlieu gửi Sainteny; SHAT, 10H 143)
Vì đã có dụng tâm muốn quân Trung Hoa
rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt, Hồ đồng
ý. Tuy nhiên, sau gần một năm độc lập, tinh
thần bài Pháp ở miền Bắc đã lên cao độ.
Việc Pháp tái chiếm miền Nam và những chiến
dịch tuyên truyền chống Pháp đã được
Việt Minh phát động một cách tinh xảo càng như
đổ dầu vào lửa. Ðơn phương ký kết
với Pháp lúc đó là một hành động tự sát
chính trị. Khi các đối thủ loan tin Hồ đang
bí mật thương thuyết với Pháp, dư luận
chống đối đã bắt đầu nổi lên. Ngày
20/2, đối thủ Hồ tổ chức biểu tình
đả đảo chính phủ tại Hà Nội, và yêu
cầu Bảo Ðại lên cầm quyền. (Giáp 1974:142-4) Có
lẽ vì thế đã có lúc Hồ ướm hỏi
Bảo Ðại muốn thay mình hay chăng.
Dẫu vậy, Hồ và Sainteny tiếp
tục gặp nhau hầu như mỗi ngày để bàn
về tương lai Nam bộ và Liên Bang Ðông Dương
trong Khối Liên Hiệp Pháp. Lúc này Hồ chỉ còn
muốn được thống nhất lãnh thổ và quan
tâm đến quân số Việt Minh. Sau khi Salan đã nhượng
bộ về vấn đề quân sự, Hồ chịu nhượng
bộ về vấn đề lãnh thổ-tức đồng
ý cho dân Nam bộ trưng cầu dân ý để tự
quyết định thể chế tương lai như
d'Argenlieu nhấn mạnh. (Xem công điện số 152/E, ngày
3/3/1946, d'Argenlieu gửi Sainteny; số 2960-2962, ngày 5/3/1946, và
số 404-407, ngày 5/3/1946, Comrep [Sainteny] gửi Hausaire [d'Argenlieu];
SHAT (Vincennes), 10H 143)
Phần những lãnh tụ không Cộng
Sản như Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường
Tam, trước một sự thực khó tránh, đã
chọn giải pháp "mất tích" từ sau ngày ký
Hiệp ước Pháp-Trung 28/2/1946. Tuy nhiên, dưới áp
lực của Trung Hoa, họ cuối cùng vẫn phải
tham gia chính phủ Liên Hiệp của Hồ. Tối 5/3,
sau khi hội kiến với phái đoàn Trung Hoa, Hồ
đồng ý chọn một giải pháp trung dung-chấp
thuận ký Hiệp ước với Pháp, nhưng có
một lãnh tụ VNQDÐ là Vũ Hồng Khanh đồng ký.
Sau đó, Hồ và Sainteny duyệt lại lần cuối
bản Hiệp ước. (Giáp 1974:179-82. Theo Giáp, cuộc
thương thuyết vẫn còn bế tắc vì hai
chữ độc lập; Ibid. Ðiều này không đúng, và
Giáp hoặc không rõ nội tình, hoặc không nói sự
thực. Ðiểm khúc mắc là vấn đề thống
nhất, tức Nam Kỳ-Hồ đồng ý bỏ
chữ "độc lập" từ nhiều tuần
trước. Ngoài ra, còn có vấn đề tìm "người
tế thần.")
Sáng hôm sau, Hồ trình bản dự
thảo Hiệp định cho Quốc Hội. 5 giờ
chiều cùng ngày, Hồ cùng Khanh gặp phái đoàn
Sainteny tại số 38 đường Lý Thái Tổ, và ký
vào bản hoà ước chấp nhận cho quân Pháp thay
thế quân Trung Hoa ở phía Bắc vĩ tuyến 16. (SHAT
(Vincennes), 10H 143)
Theo Hiệp định sơ bộ này, Pháp
nhìn nhận Việt Nam là một "quốc gia tự
do" (L'Etat libre) trong Liên hiệp Pháp (L'Union francaise); và dân
Việt Nam sẽ tự quyết định sự
thống nhất lãnh thổ của mình qua một cuộc
trưng cầu dân ý (referendum). Trong bản Phụ ước
về quân sự, 10,000 quân Việt Nam và 15,000 quân Pháp
sẽ giữ nhiệm vụ "tiếp phòng" 180,000 quân
Trung Hoa. Pháp còn hứa sẽ rút quân khỏi Việt Nam
trong vòng 5 năm.(9)
Vì chưa biết rõ chi tiết trong
những phụ bản quân sự, Paris cực lực hoan
hỉ. Hai ngày sau, 8/3, Thư ký Ủy ban Ðông Dương (Comindo)
là Francois de Langlade viết thư khen ngợi d'Argenlieu. Ngày
hôm sau nữa, 9/3, chính phủ Gouin cũng thông báo cho
d'Argenlieu biết là chấp thuận Hiệp ước này.
(SHAT (Vincennes), 10H 141. Ðồng thời hỏi ý kiến
về việc tạo một khu vực tự trị cho người
Thượng)
Sự vui mừng của các viên chức Pháp
có lý do của nó. Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 là
chiếc chìa khoá cuối cùng về mặt ngoại giao
để hợp thức hoá cuộc tái xâm lăng của
Pháp. Hiệp ước, như Moutet nhận định hơn
một năm sau, đã giúp tránh đổ máu cho 20,000
kiều dân Pháp bị Nhật tập trung ở Hà Nội,
và bảo đảm rằng quân Pháp có thể chiếm
lại Bắc Ðông Dương không tốn một giọt
máu, khi lực lượng quân sự hai bên hoàn toàn chênh
lệch: Pháp chỉ có 16,000 quân so với "185,000" quân
Trung Hoa, cộng thêm 30,000 lính Nhật. (AAN, 1947:876, col 2.
Thực ra số quân Trung Hoa chỉ có 152,500 người.)
Tuy nhiên, khi nhận được những
phụ bản về quân sự, Paris bắt đầu có
ý nghĩ khác. Moutet không dấu sự bất mãn của mình,
yêu cầu d'Argenlieu giải thích rõ ràng hơn, như ai
sẽ chịu trách nhiệm trả lương bổng cho
quân đội Việt Nam. D'Argenlieu cũng báo cáo là mình
không hay biết gì về phụ bản quân sự này, và
sẽ gửi Salan về Paris để giải thích tường
tận hơn. Ðồng thời, d'Argenlieu tìm cách ‘sửa
lại’ những điều khoản không hợp ý.
C. HỘI NGHỊ TRÙ BỊ ÐÀ LẠT:
Ngày Chủ Nhật, 24/3, Hồ Chí Minh,
Nguyễn Tường Tam, Hoàng Minh Giám cùng Sainteny và Pignon
bay ra Vịnh Hạ-long, gặp d'Argenlieu trên soái hạm L'
Emile Berlin. Hồ đề nghị sẽ dẫn một phái
đoàn qua Paris để tiếp tục thảo luận
hầu đạt được những hiệp ước
chính thức giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, d'Argenlieu
chỉ đồng ý họp ở Ðà Lạt; và, cho
một phái đoàn thiện chí 10 người của
Quốc Hội Việt Nam qua thăm Quốc Hội Pháp
đúng ngày Hội nghị Ðà Lạt khai mạc. Sau đó,
hai bên đồng ý là sẽ gửi một phái đoàn
thiện chí qua Pháp, họp trù bị tại một địa
điểm trên lãnh thổ Ðông Dương, và rồi chính
thức ký kết ở Paris. Vì Hồ cần trở
lại Hà Nội trước buổi tối, hai bên đồng
ý sẽ tiếp tục thảo luận thêm giữa Sainteny
và Hồ tại Hà Nội. (VNNB, I:A, 1996:323)
Ðáng lưu ý là dù Leclerc có mặt trên soái
hạm L'Emile Berlin, d'Argenlieu không cho Leclerc tham dự vào
những buổi mật đàm. Sự rạn nứt
giữa Leclerc và d'Argenlieu từ mùa Thu 1945 đã bộc phát
thành cừu hận sau ngày Leclerc gửi bức điện
tín ngày 14/2/1946 cho Tướng Juin, yêu cầu chấp
thuận hai tiếng "độc lập," trong khi
d'Argenlieu đang trên đường từ Sài Gòn về
Paris. Bởi thế, chiều ngày 24/3, Leclerc phải bỏ
về Sài Gòn.
Giữa lúc Sainteny-theo chỉ thị mật
của d'Argenlieu, và với sự trung gian của Louis Caput,
một đảng viên Ðảng Xã Hội Pháp tại Ðông
Dương-đang cố thuyết phục Hồ bỏ ý
định thương thuyết ở Paris, thay vào đó
bằng Ðà Lạt, tai nạn đầu tiên xảy ra
ở Hà Nội. Ngày 27/3, Valluy cho quân Pháp chiếm Sở Tài
Chính, tháo gỡ cờ đỏ sao vàng, ngăn cấm công
chức vào làm việc. (Giáp 1974:222) Hôm sau, 28/3, Valluy
gặp Giáp và Khanh, cho lệnh phải nhường dinh Toàn
quyền cho Cao Ủy. Ngày 29/3, Việt Minh ra lệnh bãi công,
bãi chợ. Valluy phải nhượng bộ, trả
lại Sở Tài Chính. Cũng ngày này, một tiểu
đoàn Pháp chiếm Huế. Sau đó, ngày 3/4, Giáp, Khanh cùng
Salan và Valluy ký thêm một thoả ước quân sự
tại Hà Nội. Việt Minh đồng ý cho Pháp trú
đóng 5,000 lính tại Hà-nội, 1,750 lính ở Hải-phòng,
825 tại Nam Ðịnh và Ðiện Biên Phủ; 650 tại
Hải Dương, và 1,025 người ở Hòn Gay. (SHAT
(Vincennes), 10H 141; Giáp 1974:224-5) Hai bên thành lập một
Ủy ban liên lạc và kiểm soát trung ương tại
Hà Nội để kiểm soát việc "tiếp phòng"
quân Trung Hoa. Hai bên cũng thoả thuận thành lập
một Ủy ban đình chiến vào Nam Trung Bộ. Ðại
diện Việt Nam là Hoàng Quốc Việt (Hạ Bá Cang).
Chính Bộ trưởng Pháp quốc
Hải ngoại Marius Moutet cũng chỉ muốn thương
thuyết diễn ra ở Ðà Lạt. Nhưng Hồ vẫn
cương quyết phải họp tại Paris. Cuối cùng,
hai bên đồng ý sẽ mở một phiên họp trù
bị tại Ðà Lạt, rồi ký kết Hiệp ước
tại Paris. Ít ngày sau, d'Argenlieu cử Tướng Jean
Valluy làm Ủy viên Cộng Hoà miền Bắc, thay Sainteny
về Paris chuẩn bị đón tiếp phái đoàn
thiện chí của Việt Nam. Salan được cử vào
thành phần của Liên Bang Ðông Dương tham dự
Hội nghị trù bị Ðà Lạt, rồi sau đó hoàn
trả cho Bộ Tổng Tham Mưu cùng Leclerc.
Ngày 29/3, Pháp đã ra nghị định
bổ nhiệm thành phần phái đoàn thương
thuyết với Việt Nam. Chủ tịch phái đoàn này
là d'Argenlieu. Các thành viên khác gồm có Bloch-Lainé, thuộc
Bộ Tài Chánh; Bourgoin, công cán ủy viên thuộc Bộ
Kinh tế và Tài chính; Bousquet, thuộc Nha Kinh tế Bộ
Pháp quốc Hải ngoại; Pierre Gourou, thuộc Ðại
học Bordeaux; Max André, Chánh Công cán ủy viên Bộ Quân
lực, Pierre Messmer, Chánh văn phòng của Moutet; cùng 6 người
do Cao Ủy Ðông Dương chọn. (Ðó là Clarac, cố
vấn ngoại giao; Maurice Gonon, cố vấn tài chính;
Guillanton, cố vấn kinh tế; Pignon, cố vấn chính
trị; Salan, đại biểu quân sự; và Torel, đại
diện Tư pháp; Chronique 1985:247-8)
Ngày 15/4, Phái đoàn đầu tiên của
Ngoại trưởng Tam tới Ðà Lạt dự hội
nghị. Ngày hôm sau, 16/4, Giáp mới rời Hà Nội.
Bị kẹt ở Paksé, hôm sau nữa Giáp tiếp tục
bay qua Ðà Lạt. (Giáp, 1974:251-2). Một phái đoàn khác
từ Hà Nội vào Nha Trang, rồi từ đây lên Ðà
Lạt bằng đường bộ. Ngày 19/4, Hội
nghị trù bị khai mạc tại trường Yersin. Tuy
nhiên, ngay từ buổi họp đầu tiên đã
bị bế tắc. Không khí càng trì trọng hơn sau khi
Phạm Ngọc Thạch, đại biểu miền Nam,
bị bắt ngày 22/4. (Giáp 1974:258. Thạch chỉ
được thả sau khi Hội nghị Ðà Lạt
kết thúc. Thạch là đại diện chính phủ
trung ương tại miền Nam. Sau này Lê Ðức Thọ
thay; SHAT (Vincennes), 10H 4201; Chính Ðạo, VNNB, I:A, 1996:327) Mãi
đến phiên họp ngày 29/4, hai bên mới đồng
ý trên nguyên tắc về việc quan thuế và buôn bán.
Không khí hòa nghị được cởi
mở hơn đôi chút khi Tướng Alphonse Juin, đặc
sứ của chính phủ Pháp đi thăm thiện chí Nam
Kinh, ghé Ðà Lạt ngày 30/4. (Hoàng Xuân Hãn, Một vài ký vãng
về Hội nghị Ðà Lạt (Sài Gòn: 1971), 47; Giáp
1974:263-4) Trong những phiên họp sau đó, cả hai phe
chỉ đồng ý được một điều là
bất đồng ý kiến về rất nhiều vấn
đề, từ ‘Liên bang Ðông Dương’ tới
vấn đề Nam Kỳ. Và, đồng ý sẽ
tiếp tục thương thảo tại Paris.
Ngày 13/5, phái đoàn VNDCCH tham dự Hội
nghị Ðà Lạt về tới Hà Nội.
D. CHUYẾN VIẾNG THĂM HÀ NỘI
CỦA D'ARGENLIEU:
Ðể đáp lễ Hồ, và cũng để
thực hiện dự định thiết lập một
Liên Bang Ðông Dương gồm 5 xứ, ngày 14/5, d'Argenlieu
bắt đầu chuyến kinh lý Bắc vĩ tuyến 16
kéo dài một tuần lễ. Trạm đầu tiên là Ban
Mê [Buôn Ma] Thuột. Tại đây, d'Argenlieu chủ tọa
lễ tuyên hứa trung thành của các sắc dân miền
Cao nguyên Trung bộ, chuẩn bị thành lập một vùng
Cao nguyên tự trị, trung lập. Ðà Lạt sẽ
chọn làm thủ đô Liên Bang.
Ngày 17/5, d'Argenlieu ghé Vientiane để
thắt chặt liên hệ với vương quốc Lào.
Chiều hôm sau, 18/5, d'Argenlieu ra tới Hà Nội. Như
để đáp lễ cuộc duyệt binh long trọng ít
tuần trước tại Vịnh Hạ Long, Hồ
cử cả 6 Bộ trưởng ra tận phi trường
Gia Lâm tham dự phái đoàn quan khách đón tiếp Cao
Ủy Pháp. (Ra đón d'Argenlieu có Valluy, Tân Tư lệnh
miền Bắc kiêm Ðại biểu chính phủ miền
Bắc; Lư Hán, Lãnh sự Mỹ và Swit-zơ-lên
[Switzerland, Thụy sĩ].) Tưng bừng hơn nữa, dân
Hà Nội đã được lệnh treo cờ từ sáng
ngày 18/5, dưới chiêu bài mừng ‘sinh nhật
19/5/1890" của Bác Hồ.(10)
Ngày 19/5, Hồ tiếp kiến d'Argenlieu. Nhưng
thương thuyết mật chỉ diễn ra ngày 20/5.
Hồ cực lực phản đối về việc
d'Argenlieu nhận lời tuyên hứa trung thành của dân Thượng
tại Ban Mê Thuột. Trước khi rời Hà Nội ngày
22/5/1946, d'Argenlieu bảo Hồ: Nếu Nam kỳ tách
biệt khỏi Hồ thì ‘bạo lực và bất công
đã thủ diễn vai trò quan trọng." Theo d'Argenlieu,
Hồ chẳng biết trả lời ra sao (n'a rien su répondre).
(11)
IV. HỒ
CHÍ MINH TẠI PHÁP:
Ngày 31/5/1946, Hồ Chí Minh lên đường
qua Pháp. Cùng đi có phái đoàn VNDCCH dự Hội
nghị Fontainebleau, gồm Hoàng Minh Giám, Phan Anh, Tạ Quang
Bửu, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Văn Bính v... v...
Salan, trên đường hồi hương, tháp tùng phái
đoàn.(Salan, I:382) Ngay trước khi Hồ bước lên
phi cơ, Valluy cho Hồ biết tin chế độ
Cộng Hoà Nam Kỳ [tự trị] sẽ được
thành lập ngày hôm sau. Ðể Hồ có một ý niệm
rõ ràng hơn về lập trường của Pháp, ngày hôm
sau d'Argenlieu còn yêu cầu tòa đại sứ Pháp ở
Egypt chính thức khẳng định tin trên khi phi cơ
Hồ ngừng cánh tại đây.
Thời gian này, Pháp đang bị khủng
hoảng chính phủ. Ngày 12/6, Hồ được
đưa tới Biarritz, chờ thành lập chính phủ
mới. (L'Humanité (Paris), 13/6/46.) Ðảng CS Pháp và các nhóm
tả phái, kể cả Hội Pháp-Việt-mới thành
lập ngày 14/8, và qui tụ một số nhân sĩ như
Justin Godart, Emmanuel Mounier, Andrée Violis, Paul Rivet-đòi hỏi
phải tiếp Hồ ở Paris. (Chủ tịch: Justin
Godart; Phó: Bà Andrée Violis, Tướng Petit, Georges Paillet. TTK:
Francois Jourdain; Thủ quĩ: Charles Désiret. Ủy viên: Bà
Cotton, Mounier, Bs Paul Rivet; L'Humanité (Paris), 14/6/1946)
Mãi tới ngày 22/6, sau khi Georges Bidault
được cử lập chính phủ, Hồ mới
được đưa từ Biarritz lên Paris. (Chính
phủ Bidault gồm những nhân vật đáng kể sau:
Thủ tướng kiêm Ngoại Giao: Bidault, MRP; Phó Thủ
tướng: Maurice Thorez (CS) và Félix Gouin (Xã hội); Bộ
trưởng Hải ngoại: Marius Moutet (Xã hội);
L'Humanité, 23-24/6/1946) Ðảng Cộng Sản Pháp và
những nhân vật tả phái dành cho Hồ những nghi
lễ khá trọng vọng. Trong số người ra đón
Hồ tại phi trường-ngoài Moutet, Bộ trưởng
Pháp Quốc Hải Ngoại-có "bạn gái" của
Maurice Thorez, Marie-Claude Vaillant-Couturier, Lucien Midel, Albert Petit (CS
Pháp), Justin Godart, Francois Jourdain và đại diện CGT (Tổng
Liên Ðoàn Lao Công Pháp). Hồ còn được ở trong
L'Hôtel de Ville như một quốc khách. Ngày 25/6, HCM
tiếp xúc báo chí Pháp. (L'Humanité, 26/6 & 5/7/1946) Ba ngày sau,
29/6, Simone Terry viết trên L'Humanité bài "L'Oncle Ho [Bác
Hồ]," hết lời ca ngợi Hồ, và đồng
thời chuyển lời thăm hỏi của Hồ
tới các cháu thiếu nhi Pháp.
A. HỘI NGHỊ FONTAINEBLEAU:
Ngày Thứ Bảy, 6/7, Hội nghị
Fontainebleau khai mạc. Nỗ lực vận động
để d'Argenlieu đọc diễn văn khai mạc và
chủ tọa bị bác bỏ. (D'Argenlieu về Pháp
với chủ định khai mạc Hội nghị
Fontainebleau. Ngày 14/6, d'Argenlieu được Gouin và Bidault
tiếp kiến) Max André tự đảm nhiệm chức
chủ tọa, đọc diễn văn chào mừng phái
đoàn Việt Nam. Nhưng ngay trong ngày đầu tiên này,
không khí hội trường đã cực kỳ nặng
nề, nếu không phải bế tắc. Phạm Văn Ðồng
tố cáo quân đội Pháp ở Ðông Dương không tôn
trọng các điều ước đã ký kết, theo
đuổi chính sách "chuyện đã rồi" [fait
accompli]. Pháp, theo Ðồng, đang tìm cách cắt xén
Việt Nam qua việc thành lập chế độ Nam
Kỳ tự trị. Pháp chỉ dùng những hoà ước
đã ký kết để vào miền Bắc một cách bình
yên. (12)
Lời tố cáo của Ðồng được
các báo Combat và Le Populaire tường thuật một cách
trung thực. Báo L'Humanité của Ðảng CS Pháp thì
nhiệt liệt tán thành. Riêng báo L'Aube của MRP [Phong trào
Cộng hòa Bình dân] cho rằng thiện chí của Pháp không
được đáp ứng. Tờ L'Ordre thì hàm ý
rằng Việt Nam phải chịu trách nhiệm nếu
hội nghị đổ vỡ.(FRUS, 1946)
Cao ủy Pháp, dĩ nhiên, tìm đủ cách
biện bạch. Ngay ngày Thứ Hai, 8/7, d'Argenlieu viết thư
lên Thủ tướng Bidault, phản đối những
lời cáo buộc của Ðồng. Hôm sau, 9/7, Bidault
tiếp kiến d'Argenlieu. Bidault nói sẽ can thiệp
với Hồ về những lời cáo buộc của Ðồng,
và tiết lộ thêm là đã bổ nhiệm Pierre Messmer làm
Thư ký Ủy ban Ðông Dương [Comindo], cơ quan
tại văn phòng Thủ tướng Pháp do de Gaulle
lập nên để đặc trách điều khiển
việc tái chiếm Ðông Dương.
Hội nghị Fontainebleau chẳng có
tiến triển nào đáng kể, và rơi vào bế
tắc sau khi d'Argenlieu công bố là sẽ triệu tập
một hội nghị tại Ðà Lạt vào ngày 1/8/1946
để thảo luận việc thành lập Liên Bang Ðông
Dương.
Ðại hội này, tưởng cũng nên
lược nhắc, do Alessandri làm Chủ tọa (bế
mạc ngày 13/8). Phái đoàn Pháp gồm có: De la Charrière,
Chủ tịch; Granval, Ner, Davée, Labbey, Charles Bonfils, Lami,
Thiếu tá Bichon, Thiếu tá Weil. Ngoài ra, còn các chuyên viên
Beauvais (Chánh văn phòng của Cédile), Valmary (UV Bắc Lào),
Loubet (Chủ tịch Ủy ban Nghiên cứu Pháp-Miên), Morice
và Caratani (Tư Pháp), Bertrand và de Villodon (Tài chính), Lesca (Giám
đốc Quan thuế), Bernard (Giáo dục), Solier (Y tế),
và Girod (Công chính, Giao thông).
Phái đoàn bản xứ có:
1. Nam Việt: Ðại tá Nguyễn Văn Xuân
(Phó Chủ tịch Cộng Hoà Nam Kỳ, kiêm Bộ trưởng
Quốc Phòng, Trưởng đoàn); Trần Văn Tỷ (Tư
Pháp), Nguyễn Thành Giung (Giáo Dục), Nguyễn Thành
Lập (Tài Chính), và Ung Bảo Toàn (Thương Mại, Nông
Nghiệp và Kỹ Nghệ). Các chuyên viên có Huỳnh Văn
Chín, Ðoàn Quan Tân, Huỳnh Trọng Tấn, và Thiếu úy
Bùi Văn Hai. Quan sát viên là Bazé.
2. Chàm: Lưu Ái.
3. Thượng: Ma Krong, tù trưởng Ê-đê
vùng Ban-mê-thuột, và Y sĩ Y Djac Ayun.
4. Miên cử Tiou Long, Bộ trưởng Tài
chính, làm Chủ tịch; và 3 đại biểu là Sisowath,
Sonn Voeunsai, Prak Sarinn. Các chuyên viên có Penn Nouth, Poc Thoun, Sonn
Sann và Huot Samath.
5. Lào có Thái tử Chao Savang Vatthana làm trưởng
đoàn. Các thành viên gồm Kham Mao, Boun Oum (Vua Bassac), Chao
Singkeo, Thao Phoui; các chuyên viên có Ourot Souvannavong, Outhong
Souvannavong, Thao Kou Abhay, và Thao Kham Phan.
Ðại hội tán thành nguyên tắc Liên
Bang Ðông Dương trong Liên Hiệp Pháp; với thủ
đô là Ðà Lạt, và tiếng Pháp làm sinh ngữ chính.
Sẽ có một Hội Ðồng Liên Bang, gồm 10 người,
và một Toà Án Tối Cao Liên Bang. Về quân đội,
có quân đội quốc gia và quân đội Liên
Hiệp Pháp. Các Tổng Nha Liên Bang gồm các ngành tư
pháp và kinh tế, vệ sinh, nghiên cứu khoa học và
kinh tế, đại học, thông tin và du lịch,
ngoại thương, thống kê, công chính, bưu điện
và giao thông, di trú và tài chính. (CAOM (Aix), AP, c.365. Trong công
điện ngày 30/7/1946, d'Argenlieu biện giải với
Paris về lý do tổ chức Ðại hội Ðà Lạt: Công
điện số 370 CI 1146 ngày 3/4/1946 của Bộ Hải
ngoại)
Ngày 2/8, Phái đoàn VNDCCH tại Fontainebleau
từ chối họp để phản đối việc
triệu tập Hội nghị Ðà Lạt lần thứ
hai nói trên. Cùng ngày, Hội nghị Ðà Lạt cũng chính
thức phản đối chính phủ Việt Nam tại
Fontainebleau đã tạo sự hiểu lầm giữa ý chí
của Bắc Kỳ và toàn thể Ðông Dương. Hai ngày
sau, 4/8, Liên Hiệp Các Sắc Dân Vùng Núi Cao Nguyên Trung
Kỳ ("Cộng Hoà Tây Kỳ") ra đời.
Một biến cố khác ở miền
Bắc khiến liên hệ giữa hai nước thêm căng
thẳng. Ngày 3/8, Việt Minh và Pháp chạm súng dữ
dội ở Bắc Ninh. Theo Pháp, một đoàn công-voa 40
chiếc của Pháp bị phục kích; nhiều người
chết và bị thương. Lính Việt Minh cướp
nguyên tiền lương tháng của một số
đơn vị Pháp. Theo Võ Nguyên Giáp, đoàn xe này có 20
chiếc, từ Hà Nội đi Lạng Sơn. Qua Cầu
Ðuống, lính Pháp bắn ra hai lề đường. Cách
Bắc Ninh 2 cây số, Pháp bắn vào một trạm gác
Việt Minh, khiến 1 "vệ quốc quân" chết.
Ðoàn xe chạy vào thị xã Bắc Ninh, tiếp tục
nổ súng. Bộ đội và tự vệ Việt Minh
bắn trả. Xung đột kéo dài từ 7 giờ rưỡi
sáng tới trưa. Bộ chỉ huy Pháp ở Hà Nội bèn
gửi một toán tiếp viện, có xe bọc sắt
đi kèm. Lính Pháp bắn cháy nhiều nhà ở Cầu Ðuống,
Yên Viên và Từ Sơn. Buổi chiều, Ủy ban Liên
kiểm Việt-Pháp tới nơi can thiệp nhưng không
có kết quả.
Hôm sau, 4/8, Thiếu Tá chỉ huy đoàn quân
Pháp ở Bắc Ninh đòi vào đóng trong trại lính
khố xanh cũ; nhưng Việt Minh không đồng ý. Pháp
bèn cho 4 phi cơ tới oanh tạc thị xã. Quân Pháp cũng
không chịu rút lui. Ngày 6/8, Ðại tá Crépin, XLTV Ủy viên
Cộng Hoà miền Bắc, gặp Giáp phản đối
vụ phục kích ở Bắc Ninh. Tình hình chỉ êm
dịu hơn sau khi Tướng Morlière lên chức Ủy
viên Cộng Hoà kiêm Tư lệnh Quân lực Pháp tại
miền Bắc từ ngày 17/8. (Võ Nguyên Giáp ra phi trường
đón; Giáp 1974:324-5)
Ngày 10/9/1946, Hội nghị Fontainebleau chính
thức tan vỡ. Ba ngày sau, 13/9, phái đoàn Phạm Văn
Ðồng rời Paris xuống Toulon. Ngày 14/9, Ðồng
rời Toulon bằng tàu Pasteur, và về tới Hải Phòng
ngày 3/10. (13)
B. MODUS VIVENDI "14/9/1946"
Thực ra, thương thuyết không hoàn
toàn bị đổ vỡ. Hồ Chí Minh vẫn nấn ná
ở lại Paris cùng Hoàng Minh Giám và Bourov Dương
Bạch Mai để hoàn tất những cuộc mật
đàm với Bộ trưởng Pháp Quốc Hải
Ngoại Moutet cũng như nhân viên của văn phòng
Thủ tướng Bidault. Nguyên từ ngày 22/7, Hồ đã
viết thư cho Moutet, xin thương thảo bí mật.
Sau ngày Hội nghị Fontainebleau hoàn toàn bế tắc,
những cuộc mật đàm mới có những tiến
bộ đáng kể. Vấn đề then chốt vẫn
là tương lai Nam Kỳ và Liên Bang Ðông Dương.
Thời gian này, lập trường
được công bố của Ðảng Xã Hội Pháp nói
chung, và Moutet nói riêng, là mở cửa cho Việt Nam gia
nhập một khối Liên Hiệp Pháp "mới,"
trong đó chính sách kẻ chinh phục và người
bị trị sẽ được thay thế bằng
một liên hiệp các nước tự do, và phái đoàn
Việt Nam được tự do thảo luận về
những qui ước kinh tế, tài chính và văn hoá. (Le
Populaire (Paris), 23/7/1946; SHAT (Vincennes), 10H 140) Ngày 8/8, sau khi
Hội nghị Fontainebleau bị tạm ngưng họp, báo
Le Populaire còn qui trách cho sự gẫy đổ này ở
chính sách của d'Argenlieu. Những tai nạn xảy ra
ở Bắc Ninh, vẫn theo Oreste Rosenfeld, là sự nổi
dậy của dân Việt chống lại những Pháp
kiều thực dân [colons]. (Le Populaire (Paris), 8/8/1946)
Tuy nhiên, trong hai buổi họp của
Ủy ban Liên Bộ về Ðông Dương ngày 10 và 12 tháng
8, quan điểm của Moutet hoàn toàn khác biệt với
những điều Rosenfeld viết trên Le Populaire. Moutet
khẳng định nước Việt Nam tự do sẽ
có ba phần; không đồng ý cho Việt Nam được
theo đuổi một chính sách ngoại giao độc
lập; và, không có trưng cầu dân ý trong một tương
lai gần. Ra điều trần trước Quốc
Hội, ngày 18/8, Moutet tuyên bố Nam Kỳ là một
thuộc địa Pháp cho tới ngày Quốc Hội có
quyết định. (AAN, 1947:881, col 1)
Ðiều ít người biết là thực
ra văn phòng Thủ tướng Bidault đã tìm cách
cứu vãn tình hình. Ngày 14/8, Bidault gửi cho Hồ một
đề nghị là hai bên ký một hiệp ước
giới hạn, đánh dấu sự tiến bộ từ
Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946, và cho phép tiến
đến việc bình thường hoá liên hệ giữa
hai nước. Ngày 16/8, Hồ đồng ý trên nguyên
tắc, với điều kiện sẽ có trưng
cầu dân ý về Nam Kỳ. Hồ đề nghị
sẽ thành lập một ủy ban tổ chức trưng
cầu dân ý, gồm 30 thành viên. Việt Nam sẽ cử
15 đại biểu, và Pháp sẽ chọn 15 đại
biểu khác trong số người miền Nam. Ủy ban này
có nhiệm vụ giải quyết những khó khăn
về vật chất trong việc tổ chức trưng
cầu dân ý, và nhất là giải quyết những
cuộc chạm súng tại địa phương, với
một lực lượng cảnh sát đặc biệt.
Ủy ban này sẽ dưới sự kiểm soát của
một Ủy ban Quốc Hội, với số lượng
đồng đều dân biểu Pháp và Việt. (Note ngày
14/8/1946 của chính phủ Bidault, và thư ngày 21/8/1946,
Hồ gửi Bidault; Papiers Bidault [chưa mở cho công chúng])
Phần lo ngại những phản ứng
bất lợi từ phe Gaullist, phần không dám liều lĩnh
chống lại lời mở đầu của Hiến Pháp,
chính phủ Bidault-đặc biệt là Messmer, tân Tổng
thư ký Comindo, và trưởng phái đoàn hoà đàm Pháp-đi
đến quyết định là phải bắt buộc
Hồ hoặc chấp nhận đề nghị ngày 14/8,
hoặc về nước tay không. Hạn kỳ là
cuối tháng 8/1946. Ðể tránh tiếng là hoà đàm đổ
vỡ và trấn an dư luận, Hồ và chính phủ Pháp
có thể ký một bản tuyên cáo chung biểu lộ tình
thân hữu. ( Xem Note ngày 21/8/1946, Messmer gửi Bidault; và báo
cáo ngày 22/8/1946 của trưởng phái đoàn Pháp; Papiers
Bidault)
Tuy nhiên, Bidault còn do dự vì không hiểu
rõ ý định của Hồ ra sao. Hai Bộ trưởng
Moutet và Michelet, cũng như Pignon, đều không thể
hiểu rõ ý muốn đích thực của Hồ. Bởi
thế, ngày 24/8, Bidault và các Bộ trưởng quyết
định hai bên sẽ ra một tuyên cáo chung, được
đúc kết ở buổi họp cuối cùng, hay dưới
dạng thức một lá thư có chữ ký của
cả hai phe. (Note ngày 24/8/1946 của văn phòng Thủ tướng;
Papiers Bidault)
Ngày 2/9, chính phủ Pháp gửi cho Hồ
một đề nghị mới với những điểm
nêu trên. Một tuần lễ sau, Ðồng gặp Pignon, tuyên
bố Việt Nam chấp nhận đề nghị của
Pháp với vài sửa đổi. Buổi tối, Ðồng
chấp thuận bỏ đòi hỏi có phái đoàn
kiểm soát của Việt Nam. Trong hai ngày 10 và 11, hai phe
nỗ lực làm việc để đạt thoả
thuận cuối cùng về một bản tuyên cáo chung,
một thoả ước [protocol], cùng những "notes [ghi
nhận quan điểm] hay thư đính kèm với
thoả ước để giải thích một số
điểm có thể chưa rõ ràng."
Ðiều đáng lưu ý là sáng ngày 11/9,
Hồ bí mật gặp Ðại sứ Mỹ Jefferson Caffery,
tại Paris. Hồ tiết lộ Hội nghị Fontainebleau
đã đổ vỡ. Nguyên cớ chính là vấn đề
Nam Kỳ. Hồ khẳng định muốn ở trong Liên
Hiệp Pháp; và cần sự trợ giúp của ngoại
quốc, nhưng không nói rõ muốn gì. Thêm một lần
Hồ minh xác không phải là Cộng Sản.
Buổi tối, Hồ gặp George M. Abbott,
Ðệ nhất Thư ký sứ quán Mỹ, một lần
nữa. Theo Hồ, vì chính phủ Bidault chỉ là chính
phủ lâm thời, Hồ đồng ý tạm ngưng
Hội nghị Fontainebleau, chờ tái nhóm vào tháng 1/1947.
Về bản dự thảo Hiệp ước tạm
thời trù tính ký vào ngày 10/9, theo Hồ hai bên đã
đồng ý về quyền lợi kinh tế và văn hoá
của Pháp, nền quan thuế chung, và một đơn
vị tiền tệ chung. Nhưng khi đúc kết văn
bản, hai bên gặp khó khăn ở chỗ Hồ không
chấp nhận danh từ "Liên Bang Ðông Dương"
vì nó không hề hiện hữu. Về phía Pháp không
chấp thuận đòi hỏi thực hiện tại Nam
Bộ "những quyền tự do dân chủ" mà theo
Hồ có nghĩa tự do báo chí, tự do hội họp và
trả tự do cho các tù chính trị. Pháp cũng không
đồng ý việc Hà Nội gửi một phái đoàn
vào Nam để kiểm soát việc thực thi những
điều khoản trên, đồng thời giúp chấm
dứt cuộc chiến tranh du kích.
Hồ nhìn nhận rằng có những
phần tử xấu trong phong trào kháng chiến Nam Bộ,
nhưng nếu đại diện của Hồ có thể
vào Nam giải thích với những người cầm
đầu, sẽ có cơ hội phân biệt giữa người
yêu nước và bọn cường đạo; hầu
tận diệt những phần tử cướp bóc đó.
Hồ cũng hy vọng sẽ ký được hiệp
ước với Pháp, nhưng đã định sẽ
rời Pháp ngày 14/9, vì xa Việt Nam quá lâu.
Nhiều lần, Hồ đề cập
đến vấn đề viện trợ kinh tế
của Mỹ. Theo Hồ, Hồ chống đối chính sách
độc quyền kinh tế của Pháp. Mặc dù Hồ
dành ưu quyền cho Pháp trong việc cung cấp chuyên viên
và cố vấn, quyền khai thác tài nguyên, hay cung cấp
trang bị, nhưng nếu Pháp không đủ sức,
Việt Nam cần đến những người bạn
khác. Hồ cũng đề cập đến vấn
đề quân cảng Cam Ranh, cùng viện trợ quân
sự và hàng hải. (FRUS, 1946, VIII:58-9; US-Vietnam Relations,
1971, Book 1-C 104)
Tưởng cũng nên nhắc, từ ngày
10/9, Ủy ban Nghiên cứu và Thông Tin về Ðông Dương
(Commission d'Etudes et d'Information pour L'Indochine, tức
CEII)-gồm đại diện các công ty Pháp có quyền
lợi ở Ðông Dương như Francois Trives (Société
Indochinoise d'Electricité), Angot (Société Francaise des Charbonnages du
Tonkin), Candlot (Société des Ciments Portland et Artificiels de l'Indochine,
và Société des Chaux Hydroliques du Long Tho), và Challamel (Société
Indochinoise pour les Eaux et Electricité en Annam)-cũng được
chính phủ Pháp khuyến khích tiếp xúc không chính
thức (officieux) với đại diện của Hồ.
Trong buổi gặp mặt cuối cùng ngày 12/9, các đại
diện CEII được Ðặng Phúc Thông, Hồ Ðắc
Liên và Trịnh Văn Bính khẳng định Hồ
chỉ muốn độc lập về quốc phòng, còn
mọi lãnh vực khác sẽ hợp tác tinh thành, chặt
chẽ (Liên). Việt Nam hứa sẽ cung cấp nhân công
và góp vốn (Thông).(14)
Về phía chính phủ Pháp, ngày 12/9, Moutet
được chính thức thông báo về ý định
của Hồ, và tái thương thuyết với Hồ.
Buổi sáng ngày 13/9, Moutet đệ trình dự thảo
tạm ước trên trước Hội đồng chính
phủ. Ngay chiều đó, hai bên chính thức ký kết vào
những văn kiện được biết sau này như
"Modus Vivendi [Tạm
ước] 14/9/1946." Ðại cương, hai bên hứa
tôn trọng tinh thần Hiệp ước Sơ bộ
6/3/1946, ngưng chiến vào ngày 30/10/1946, và hội nghị
Fontainebleau sẽ tái họp vào tháng 1/1947. Ðáng lưu ý hơn
cả-ngoài những lời hứa hẹn-là một
thoả hiệp về "liên hiệp quan thuế" và
thương mại cho toàn Liên bang Ðông Dương (điều
thứ VI). (Xem "Nguyên văn bản Thoả Hiệp Án
Pháp-Việt làm tại Paris ngày 14/9/1946;" Nam Kỳ (Sài
Gòn), 23/9/1946. Xem nguyên bản Pháp ngữ trong phần
Phụ bản. Tóm lược bằng Anh ngữ có thể
tìm thấy trong FRUS, 1946, VIII:60). (Sự thoả thuận này
trở thành tấm bình phong pháp lý, cho phép Tướng
Valluy và Morlière, Tư lệnh quân Pháp tại Bắc
bộ, gây nên những biến cố đẫm máu
tại Hải Phòng vào hạ tuần tháng 11/1946, dẫn
đến cuộc tổng tấn công của Việt Minh
tối ngày 19/12/1946, châm ngòi một cuộc chiến
khốc liệt, toàn diện trên bán đảo Ðông Dương
trong nhiều thập niên sắp tới).
Tạm ước 14/9/1946, thực ra,
chỉ là một cách hoãn chiến của cả hai phe. Theo
Moutet, ông ta chấp thuận ký Tạm ước (Modus
vivendi) ngày 14/9/1946 để chứng tỏ thiện chí
của nước Pháp. Moutet đã nói với Hồ:
Tôi hiểu rằng khi ông trở lại [VN],
ông sẽ thấy nhiều phần tử oán trách là ông không
đạt được tất cả mọi sự. Tôi
không chống đối (reproche) ý muốn độc
lập của quốc gia ông.... Tôi không chống đối
ước muốn thống nhất ba miền của dân
tộc An-nam; đó là một đòi hỏi mà tôi cho
rằng chính đáng (légitime). Nhưng trong hoàn cảnh
hiện tại, có thể nào tôi đưa ra trước
Quốc Hội [Pháp ước muốn độc lập
trên] với một danh sách mà tôi biết, ngày này qua ngày
nọ, làng này qua làng kia, những hành động
khủng bố, những cuộc ám sát các hào mục
(notables), những cuộc thảm sát người Pháp và
bạn bè họ? Có thể nào tôi yêu cầu Quốc
Hội [Pháp] từ bỏ một phần chủ quyền [lãnh
thổ] để thoả mãn nguyện vọng của các
ông mà chỉ thuần dựa vào những lời hứa
hẹn thiện chí? Tôi không có quyền làm điều
đó, tôi sẽ không làm. (AAN, 1947:877, col 3.)
Moutet cũng đề nghị triệu
tập những ủy ban để bàn về một Liên
bang mà Hồ muốn gia nhập, nhưng mỗi lần
tiếng "Liên bang" được nêu lên, Hồ
chỉ im lặng. Moutet cũng khẳng định với
Hồ rằng "Việt Nam" trong bản Hiệp ước
sơ bộ chỉ có nghĩa phần lãnh thổ phía
Bắc vĩ tuyến 16. Bởi thế mới có điều
khoản tổ chức trưng cầu dân ý về số
phận Nam Kỳ. (AAN, 1947:878, col 1.) Phần Hồ,
chiều ngày 14/9 rời Paris xuống Toulon, rồi từ
đây đáp tàu [aviso] Dumont d'Urville hồi hương.
(15)
Một số đồng chí cũ-kể
cả Hoàng Quang Giụ, người từng qua Liên Sô
học trường Thợ Thuyền Ðông Phương-tổ
chức những cuộc biểu tình phản đối. Có
người nóng giận gọi Hồ là Việt Gian. Nhưng
bốn ngày sau, 18/9, chính phủ Bidault phê chuẩn Tạm
Ước "14/9/1946."
V. THỰC TẾ VIỆT NAM:
Không ai hiểu tại sao Hồ đã
chọn cách hồi hương bằng tàu Dumont d'Urville. Cũng
chẳng ai biết Hồ nghĩ gì trong hơn một tháng
lênh đênh trên biển cả. Chỉ biết ngày 18/10,
d'Argenlieu cưỡi chiến hạm [croiseur] Suffren ra
tận Cam Ranh để gặp Hồ. Hai bên tỏ ra
rất thông cảm và hiểu biết. Xuất hiện
trong một buổi họp báo ngắn ngủi trên soái
hạm của d'Argenlieu, Hồ còn công khai lên án việc dùng
bạo lực và khủng bố. (FRUS, 1946, VIII:61; Chronique,
1985:334-6.) Ba ngày sau, 21/10, Hồ về tới Hà Nội. (FRUS,
1946, VIII:61)
Những ngày kế tiếp, Hồ và các
thuộc hạ ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Các
mật khu thời chiến được tu bổ; các kho
tàng nhu yếu phẩm được tăng cường.
Một số cơ sở chính phủ và đơn vị
chính qui được lệnh rút dần khỏi Hà
Nội.
Cuộc đảng tranh đã tạm
thời giải quyết xong. Võ Nguyên Giáp và Huỳnh Thúc
Kháng đã giúp Hồ thanh toán gần hết các đối
thủ chính trị, đặc biệt là Ðại Việt
và VNQDÐ. Sau vụ án Ôn Như Hầu ở Hà Nội và
rất nhiều phiên tòa hình sự tại các địa
phương, Giáp và Kháng đã cô lập hầu hết các
phần tử đối lập trong các trại tập
trung mang tên ‘cải tạo’ ở những vùng ma thiêng,
nước độc tại thượng du Bắc
Việt hay Khu IV (Thanh Hoá tới Thừa Thiên), Khu V (Quảng
Nam-Quảng Ngãi-Bình Ðịnh). Ngay đến các Dân
biểu đối lập cũng hoặc bị ‘mò tôm’
hay đi ‘cải tạo.’ Nhờ vậy, ngày 28/10/1946,
Hồ có thể triệu tập Quốc Hội để
thành lập chính phủ mới. Chính phủ Kháng chiến
ngày 3/11/1946 này vắng bóng hầu hết những thành
phần không Cộng Sản. Những người chịu
qui phục Hồ cũng chỉ được giao các
chức vụ tương trưng, và trên thực tế
chẳng là gì hơn những tù nhân bị giam lỏng.
Mặt Trận Liên Việt, mới được thành
lập ít tháng trước để thay thế Việt
Minh, cũng chìm dần vào quên lãng, hữu danh vô thực.
Nhiều nỗ lực lôi kéo các lãnh
tụ tôn giáo về phe "kháng chiến" cũng
được phát động. Bởi thế, mặc dù
rời Phát Diệm từ ngày 14/10 để du thuyết
một số giáo khu trong lãnh thổ Bắc Ninh, Hải Dương,
Hải Phòng, Thái Bình, Bùi Chu, Thanh Hóa để vận
động dư luận và cải chính tin ngả theo
Việt Minh, ngày 24/10, Giám mục Từ cũng phải vào
Bắc bộ Phủ yết kiến Hồ, nhận
chức Cố vấn chính phủ. (Lê Hữu Từ, tr.
96ff) Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ cương quyết
chống lại khuynh hướng ‘về Tề’ trong
giới công sự viên thân cận, thành lập một
Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt.
Tuy nhiên, Hồ vẫn chưa tuyệt
vọng về một giải pháp chính trị với Pháp.
Trong buổi tiếp kiến Phó lãnh sự Mỹ James
O'Sullivan tại Hà Nội ngày 27/10, Hồ tuyên bố
việc thực hiện Tạm ước 14/9/1946 tùy
thuộc vào thái độ người Pháp. Nếu Pháp
đồng ý thiết lập những quyền "tự
do dân chủ", "phóng thích tù nhân chính trị" và
ngưng việc tấn công người Việt, mọi
sự sẽ tốt đẹp. (FRUS, 1946, VIII:62)
Ðúng nửa đêm 29 rạng 30/10, ngưng
bắn bắt đầu có hiệu lực trên toàn Nam
bộ. Nhưng cả hai phe không nói chung thứ ngôn
ngữ hoà bình. Thêm nhiều biến cố khác xảy ra.
Chẳng những không phúc đáp việc Hồ đề
cử Phạm Văn Bạch, đương kim Chủ
tịch Ủy Ban Hành Chính Kháng Chiến Nam Bộ, làm
đại diện bên cạnh Cao ủy Pháp, ngày 6/11,
d'Argenlieu gửi công điện phản đối hành
động "khủng bố" của Lâm Ủy Hành
Chánh Kháng Chiến Nam Bộ, và yêu cầu phải giải
tán tổ chức này. Ngày 9/11, Hồ trả lời
rằng Lâm Ủy Hành Chánh đã hiện hữu từ ngày
25/8/1945; từng liên lạc với Bri-tên và Pháp. Hai ngày
sau, 11/11/1946, d'Argenlieu cảnh cáo Hồ rằng phải ngăn
cấm Lâm Ủy Hành Chánh bạo động; hoặc
tố cáo hành vi của tổ chức ngoài vòng pháp
luật này.
Những ngày kế tiếp, Linh mục/Cao
ủy d'Argenlieu, với sự tiếp tay của Tướng
Valluy, Hội truyền giáo Pháp và các thành phần kiều
dân bảo thủ, tìm cách khiêu khích đẩy Hồ vào
thế phải rút khỏi Hà Nội ra bưng. Phe hiếu
chiến của Việt Minh, đại diện bằng Võ
Nguyên Giáp và Trường Chinh, cũng quyết định
răng đối răng, mắt đối mắt. Ngày
22- 23 tháng 11/1946, xảy ra biến cố Lạng Sơn-Hải
Phòng. Rồi đến cuộc tổng tấn công của
Việt Minh đêm ngày 19/12/1946, mở đầu cho đợt
hai của cuộc chiến Ðông Dương lần thứ
nhất (1945-54).
Kết Luận:
Vai trò nhà ngoại giao của Hồ Chí Minh
trong giai đoạn 1945-1946 thường bị lãng quên
trong khối văn chương sử học hiện
hữu.
Khảo sát kỹ lưỡng các tư
liệu đã giải mật, một điểm rõ ràng khó
thoát khỏi sự quan sát của chúng ta là Hồ cực
kỳ khôn ngoan, quyền biến trên trận tuyến
ngoại giao. Sự quyền biến hay linh động và
cụ thể này chứng tỏ Hồ đã biết
tận dụng ‘luật kẻ yếu’ để sinh
tồn và tạo sự chính thống cho chế độ
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Việc tuyên bố giải tán Ðảng CSÐD
ngày 5/11/1945 cũng phản ảnh khả năng sinh
tồn cao độ của Hồ. Tuy nhiên, những chuyên
gia về CSVN và những người viết tiểu
sử Hồ vẫn chưa có những phân tích tỉ
mỉ và đứng đắn về quyết định
có một không hai trước thập niên 1980 trong khối
Quốc tế Cộng Sản này. Cần có thêm những
tra vấn sâu xa hơn về liên hệ giữa Hồ
với Quốc tế Cộng Sản từ năm 1920
tới 1943 để hiểu rõ hơn về cái gọi là
‘chất đỏ’ trong Hồ.
+++++++++++++++++++++++
Phụ chú: ‘Hồ Chí Minh: Nhà Ngoại
Giao, 1945-1946’
1. Theo Hsing Shen-chou, chính phủ lâm thời này
thành lập ngày 1/9/1945; Báo cáo ngày 15/10/1945; Chen 1969b:123. Giu,
hay Du, người Nùng, sinh năm 1879 tại Ðộng Éùn,
Lạng Sơn; chạy qua Trung Hoa sau binh biến Lạng Sơn
năm 1940. Năm 1945, gia nhập Việt Cách. Tổ
chức Việt Cách có 7 toán võ trang tuyên truyền: 5 ở
Quảng Tây và 2 ở Vân Nam (Côn Minh & Khai Nguyên).
Tại Liễu Châu có các báo Việt Hồn, Ðồng Minh,
Thời sự tuần báo và Mê kông Nộ trào [La Réveil de
Mekong]. Trong số các cấp chỉ huy, có: Tĩnh Tây (QT),
Trần Báo & Hoàng Quốc Chính; Long Châu (QT), Lê Nguyên
Thọ; Pham Chong (QT), Nông Quoc Hung; Ha Cai (QT), Ngũ Qui Ðông;
Luong San (QT), Nông Nhat Thanh.
2. Vũ Hồng Khanh, tên thực Vũ Văn
Giảng (1907-1993), trốn thoát qua Trung Hoa năm 1933. Sau khi
Nguyễn Thế Nghiệp về đầu thú Pháp năm
1935, Khanh trở thành một trong những lãnh tụ VNQDÐ
Hải ngoại lừng danh. Phần Nguyễn Tường
Tam (1908-1963), tức nhà văn Nhất Linh, được
Nhật giúp trốn qua Trung Hoa năm 1941. Sau tháng 8/1945, liên
kết với Vũ Hồng Khanh. Xem sơ lược
tiểu sử trong Chính Ðạo, Việt Nam Niên Biểu,
1939-1975, tập III: Nhân Vật Chí, tái bản có bổ sung
(Houston: Văn Hóa, 1997), tr. 610-2, 388-9. Về hoạt động
của VNQDÐ, xem Idem., HCM, II, 1993:80-1, 104-9, 167-8. Theo một tài
liệu CS, nhóm Khanh có khoảng 200 tay súng; Lê Tùng Sơn,
Nhật ký một chặng đường (Hà-nội:
1978), tr. 180. Theo Nguyễn Hữu Thanh (Lý Ðông A), Khanh, Tam cùng
Nguyễn Hải Thần và Thanh còn bí mật đưa ra
thuyết ‘Duy Dân,’ và cử Thanh về nước để
thiết lập một liên minh chống Cộng.
3. Về định nghĩa kỳ lạ
của hai tiếng ‘Việt Gian’ này, xem Vũ Ngự Chiêu,
‘Social and Cultural Change in Viet-Nam Between 1940 and 1946,’ Ph.D.
dissertation, 1984, University of Wisconsin-Madison, 1984, chương IX.
[Sẽ dẫn: Vũ Ngự Chiêu 1984])
4. CQ, 23/10/1945. Theo tài liệu CS, "Hội
nghị liên tịch của Việt Nam Ðộc Lập Ðồng
Minh Hội và Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội"
nhóm họp tại Hà Nội ngày Chủ Nhật 21/10/1945;
sau đó, ra tuyên ngôn đoàn kết, đặt nước
nhà và dân tộc lên trên hết. Ðại biểu VM có
Nguyễn Lương Bằng, Dương Ðức Hiền,
Nguyễn Văn Ba, Hoàng Hữu Năm, Nguyễn Công
Truyền. Ðại biểu Ðồng Minh Hội (Việt Cách)
gồm có Ðinh Chương Dương, Trương Trung
Phụng, Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật, Hồ Ðức
Thành, Vũ Kim Thành, và Dương Thanh Dân; CGP (Hà Nội),
28, 25/10/1945. Thời gian này, theo Lê Tùng Sơn, Sơn
được Giáp chỉ thị lập ra một hệ
phái Ðồng Minh Hội ly khai; cũng xuất bản báo Ðồng
Minh, để tấn công nhóm Nguyễn Hải Thần-Vũ
Hồng Khanh; Sơn 1978:189-91.
5. Tài liệu Mật thám Pháp ghi ngày ký
thoả hiệp là 23/12. Chúng tôi dùng nhật kỳ
24/12/1945 theo bản Thông cáo ngày 26/12/1945 trên các báo Hà
Nội. Theo Lê Tùng Sơn, cùng tham dự trong buổi này có
Hoàng Cương, Tham mưu trưởng của Lư Hán,
và Từ Xấu Thu, đại biểu của Tam Dân
Chủ Nghĩa Thanh Niên Ðoàn, cơ quan mặt nổi
của tình báo Trung Hoa.
6. Chủ tịch: Hồ Chí Minh; Phó CT:
Nguyễn Hải Thần (Việt Cách); Nội vụ:
Huỳnh Thúc Kháng (độc lập); Ngoại Giao:
Nguyễn Tường Tam (Ðại Việt Dân chính);
Quốc Phòng: Phan Anh (độc lập); Tư Pháp: Vũ
Ðình Hoè (Dân Chủ); Giáo dục: Ðặng Thai Mai (Mác-xít)
[tạm thời cho tới khi Ca Văn Thỉnh nắm
quyền]; Lao Ðộng: Nguyễn Văn Tạo (Mác xít); Xã
hội-Y tế: Trương Ðình Chi [hay Tri] (Việt Cách);
Tài chánh: Lê Văn Hiến (Mác xít); Kinh tế: Chu Bá Phượng
(VNQDÐ); Canh Nông: Huỳnh Thiện Lộc (Nam); Công Chính:
Trần Ðăng Khoa (Nam). Cố vấn tối cao: Nguyễn
Vĩnh Thụy (Bảo Ðại). Thứ trưởng: Hoàng
Minh Giám (Nội Vụ), Tạ Quang Bửu (Quốc Phòng),
Nghiêm Kế Tổ (Ngoại giao), Nguyễn Văn Hướng
(Tư Pháp), Ðặng Phúc Thông (Giao thông, Công Chánh),
Trịnh Văn Bính (Tài Chánh), Ðỗ Ðức Dục (Giáo
Dục), Bồ Xuân Luật (Canh Nông), Ðỗ Tiệp (Xã
Hội); US-Vietnam Relations, Bk I, B-52.
7. Tháng 3/1947, tại Quốc Hội Pháp,
Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Marius Moutet
cho biết đã nhiều lần tuyên bố với Hồ
rằng "Việt Nam" trong bản Hiệp ước
sơ bộ chỉ có nghĩa phần lãnh thổ phía
Bắc vĩ tuyến 16. Bởi thế mới có điều
khoản tổ chức trưng cầu dân ý [referendum]
về vấn đề Nam Kỳ; AAN, 1947:878, col 1.
8. CAOM (Aix), INF, c. 126/1125. Ðây có thể là là
lần thứ hai Hồ bị bắt. Theo Võ Nguyên Giáp,
đầu tháng 12/1945, Hồ đã bị mời vào
Bộ Tư lệnh quân Trung Hoa mời đến gặp.
Hồ đến nhà Tiêu Văn, được người
của Chu Phúc Thành đón đến Bộ Tư lệnh
ở nhà thương Ðồn Thủy. Bị giữ
gần trọn một ngày mới thả. Sau giữ
lại xe và tài xế của Hồ. Lý do là Chu Phúc Thành
nghi Lê Tùng Sơn đi trên xe của Hồ, giết
chết một Pháp kiều; Giáp 1974:107-108. Xem supra.
9. Mãi tới ngày 3/4/1946, Giáp, Khanh cùng Valluy,
Salan mới chính thức ký Phụ bản Hoà ước
về quân sự; Giáp 1974:224-225. Ngày này, Tướng Valluy
báo cáo rằng VM đồng ý cho Pháp trú đóng ở Hà
Nội, 5,000 lính; Hải-phòng, 1,750; Nam-định, 825;
Hải-dương, 650; Ðiện-biên-phủ, 825; Hòn-gay,
1,025. Dự định chiếm Nam-định ngày 7/4/1946.
10. Chiều ngày 17/8, VM ra lệnh dân treo
cờ trong 3 ngày mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ
Chí Minh (19/5/1890), kể từ sáng hôm sau; Cứu Quốc,
17/5/1946. Từ đó, ngày 19/5 này, được kể như
sinh nhật Hồ. Tuy nhiên, Hồ thường hay vắng
mặt trong ngày sinh nhật này; Giáp 1974:270. Ngưòi ta nghĩ
rằng Hồ đã ngụy tạo ngày sinh để
bắt dân Hà Nội treo cờ đón tiếp d'Argenlieu. Có
người có rằng 19/5 là kỷ niệm ngày thành
lập Mặt trận Việt Minh (Huỳnh Kim Khánh). Nhưng
ngày 19/5, với Hồ, cũng là ngày ba mươi sáu năm
trước, cha Hồ bị kết án bãi bỏ quan
chức, phạt đánh 100 trượng, đầy đi
xa vì tội ngộ sát!
11. Nguyên văn: "Si la Cochinchine se sépare
librement de vous, croyez-bien que vos violences et vos injustices y auront joué
un rôle capital;" Thư ngày 26/5/1946, d'Argenlieu gửi Marius
Moutet; CAOM (Aix), PA 28, c. 8, d. 173.
12. L'Humanité, 7 & 8/6/1946; FRUS, 1946; US-Vietnam
Relations, 1971:73. Ngày 21/6/1946, Valluy cũng trao cho Giáp một công
hàm gửi Huỳnh Thúc Kháng, Quyền Chủ tịch Nhà nước,
thông báo Pháp sẽ chiếm Cao Nguyên Trung Phần. Sau đó,
Pháp tấn công Ðại Lãnh, Củng Sơn, Pleimeidden.
13. Ngày 3/10, phái đoàn Phạm Văn Ðồng
được tiếp đón đông đảo:
Nguyễn Văn Tố, thay mặt Quốc Hội; Lê Văn
Hiến, thay mặt chính phủ; và, Nguyễn Xuân Nguyên (Lê
Quang Ðạo), Chủ tịch Hải Phòng. Hôm sau, 4/10, Ðồng
về tới Hà Nội. Ngày 5/10, Ðồng họp báo ở
Hà Nội.
14. Ngày 13/9, Hồ cũng tiếp kiến
Francois Trives, thuộc CEII, tại Royal Monceau, và yêu cầu
Trives viết thành văn bản những điều đã
thảo luận, nhưng sau đó, ngày 26/9, Trives không
thuyết phục được các ủy viên khác của
CEII; CAOM (Aix), INF, c. 158, d. 1362.
15. Công điện ngày 17/9/1946, Caffery
gửi Ngoại Giao; FRUS, 1946, VIII:59. Như thế, rất
đáng nghi chuyện Hồ nửa đêm gọi điện
thoại cho Moutet xin ký Tạm Ước 14/9/1946. Ðáng lưu
ý là thời gian này, báo L'Humanité, vì một lý do nào đó,
loan tin Hồ rời Paris ngày 16/9; L'Humanité (Paris), 17/9/1946.