|
|
Về nhân vật Hồ Chí Minh
(Bài viết nhân dọc sách của Pierre Brocheux và William
J. Duiker) Bùi Tín
Hồ Chí Minh là nhân vật của thế kỷ 20 được đông đảo người đương thời biết đến,
cũng là nhân vật bị tranh cãi nhiều nhất, với những nhận định trái ngược nhau.
Ở trong nước, mặc dầu Đảng CS đã thực hiện đổi mới và mở cửa, tệ sùng bái cá nhân
Hồ Chí Minh vẫn còn được duy trì, nó còn được tô đậm hơn với sự đề cao «tư tưởng
Hồ Chí Minh» nhằm củng cố tính chính đáng của đảng cộng sản hiện tại khi uy
tín của đảng bị giảm sút nặng nề. Họ còn lệnh cho Phật Giáo quốc doanh phong
ông làm "bồ tát‘’: Bồ Tát Hồ Chí Minh !
Năm 2000 tôi đã có dịp viết về HCM trên tuần báo TIME trong số đặc biệt
dành cho 100 nhân vật châu Á có ảnh hưởng nhiều nhất trong thế kỷ 20.Từ
đó, tôi vẫn để nhiều thời gian nghiên cứu, tìm tài liệu, đọc và suy nghĩ về
HCM, nhằm giúp cho các bạn trẻ VN ở trong nước cũng như ở ngoài nước hiểu
rõ ,hiểu đúng nhân vật lịch sử này, với thái độ khoa học, công bằng, không bị
tô hồng hay bôi đen tùy theo động cơ chính trị hay nhu cầu tình cảm …
Tôi đặc biệt đọc kỹ cuốn HO CHI MINH – a life , của nhà nghiên
cứu Wiliam J. Duiker, 696 trang, 26 chương, đó còn là vì tác giả có
nhã ý cho tôi xem trước bản thảo, nhưng tôi không kịp góp ý vì quá bận vào
những năm trước 2.000. Tôi đã ngả mũ chào kính phục W.J.Duiker tháng 1/2001
khi gặp ông ở Paris, vì ông đã để công thu thập tài liệu về HCM suốt 30 năm,
đi đi lại lại nhiều lần sang Paris, Luân đôn, Mạc tư khoa, Hồng Công, Bắc kinh…,
gặp biết bao nhân vật, khui biết bao hồ sơ mật để viết nên cuốn tiểu sử đồ
sộ, độc đáo, hấp dẫn ấy
Thế nhưng,tôi muốn góp ý với tác giả W.J.Duiker về một điểm, chỉ về một điểm
thôi !
Nhưng tôi thận trọng. Thế là tôi để thêm hơn một năm trời - từ đầu năm 2001 đến
giữa năm 2002 - chỉ để đọc lại toàn bộ 12 tập Hồ Chí Minh Toàn tập, do Nhà
xuất bản chính trị Quốc gia ở Hà nội xuất bản năm 1994. Để cho việc góp ý của
tôi có cơ sở vững chắc.
Với bài này, tôi không chủ ý đề cập đến chuyện riêng tư của ông Hồ, cho dù chuyện
này ở trong nước có rất nhiều người quan tâm, coi là chuyện lạ, giật gân;
nhóm lãnh đạo, ngành tư tưởng, và ngành an ninh trong nước cũng rất lo sợ
về những chuyện riêng ấy, vì đã trót loan truyền rất đậm cái hình ảnh hiền
triết, tu thân khổ hạnh của Bác, cúc cung tận tuỵ triệt để cho cách mạng, đến
mức không có một bóng dáng phụ nữ nào trong đời riêng ! Vậy thì nay muốn
dịch và in sách này ở trong nước ắt phải yêu cầu tác giả Duiker dẹp bỏ đi tất
cả các mối quan hệ tình cảm có thật hay còn nghi vấn của «ông Thánh», chuyện
ông cưới vợ Tàu ở Quảng Châu, ông mê cô đầm Pháp ở Paris, ông có người tình ở
Nga, ông yêu cô đồng chí Minh Khai và sống chung như vợ chồng ở Moscou,
chuyện ông có con riêng…; tác giả W.J.Duiker đã từ chối yêu cầu trên và
trả lời: muốn dịch phải để nguyên. Đối với riêng tôi, các chuyện về đời
tư nói trên chẳng mấy quan trọng, nó còn cho thấy ông Hồ cũng là con người
như mọi người. Có nhiều điều hệ trọng hơn nhiều .
Pierre Brocheux trong cuốn HO CHI MINH, nhận xét về cuốn sách của Duiker rằng :
l’historien américain a rassemblé une masse impressionnante de matériaux
primaires, de travaux anciens aux plus récents, de toutes provenances :
vietnamiennes, françaises, anglo-américaines, australiennes, chinoises et
russes. Il a choisi de dérouler cette biographie en 26 chapitres d’une
narrative history extrêmement dense. Cependant, récit événementiel et analyse
sont entremêlés : toutefois, la profusion d’ informations et d’
événements est telle que, parfois les arbres font perdre de vue la forêt !
(page 75) ; (quá nhiều tài liệu xen lẫn với quá nhiều sự kiện làm cho nhiều
lúc cây cối che mất toàn cảnh của cánh rừng !). Tôi cho đây là một nhận
định xác đáng.
Toàn cảnh cánh rừng ra sao ? Đây chính là vấn đề cần làm rõ .
Thành tựu nổi nhất, rõ nhất, đó là dành lại được nền độc lập dân tộc, xoá bỏ ách
cai trị của phát xít Nhật, thực dân Pháp và chế độ phong kiến tay sai thực
dân Pháp. Tuy nhiên vấn đề này còn có thể tranh cãi vì ông Hồ đã (kể từ
năm 1950) ngày càng dựa vào sự chi viện, ủng hộ về chính trị, quân sự, kinh
tế, tài chính của 2 nước CS lớn nhất là Trung Quốc và Liên Xô, từ đó trực
tiếp đưa VN gắn chặt vào phe XHCN do Quốc tế Cộng Sản lãnh đạo, do đó đối lập
với thế giới dân chủ. Trong thành tựu nổi bật này, ông Hồ từ khi hoạt đông
chính trị đã luôn nhằm vào mục tiêu dành độc lập; ông đã vào đảng CS Pháp khi
thấy đảng này ủng hộ có chủ trương giải phóng các nước thuộc địa khỏi ách cai
trị thực dân của các nước đế quốc; ông đã khóc vì xúc động khi khám phá ra
trong bài viết của Lènine có nói về thái độ đảng CS đấu tranh xoá bỏ
chủ nghĩa thực dân; ông đã cùng các bạn VN viết Bản án chủ nghĩa thực
dân để đưa yêu sách này cho Hội Quốc liên ở Versailles ; ông đã dựng lên
báo Paria ở Pháp, cùng với các bạn Guinée, Tunisie, Maroc, Ânđộ, Nam Dương …
đấu tranh đòi độc lập cho các nước thuộc địa. Ông đã viết kịch Con rồng tre
để lên án ông vua bù nhìn Khải Định khi ông này sang thăm Pháp. Ông đã vẽ
nhiều tranh biếm hoạ đả kích bọn thực dân ngồi trên xe kéo do dân Annam nghèo
khổ kéo, bọn cai đồn điền đánh đập phu cao – su…Trong các bài viết, tranh vẽ
ấy bốc lên lòng căm thù bọn thực dân, đồng cảm với đồng bào và dân thuộc địa
bị đày đoạ tủi nhục.
Theo tôi, mặt yếu trong tư duy chính trị của ông, cái lỗ hổng đáng tiếc trong
lập trường chính trị của ông là sau khi dành lại nền độc lập rồi thì xây
dựng đất nước theo mô hình nào? quản lý đất nước theo những nguyên
tắc nào? Hầu như trong ngôn từ chính trị của ông, trong Toàn tập Hồ Chí Minh 12
quyển dày cộp, vắng bóng một loạt các từ của thời đại: xã hội công
dân (socìété civile); bầu cử tự do, tranh cử; nền tư pháp công bằng,
lấy luật pháp làm chuẩn; vị trí của cá nhân trong xã hội; quyền tư hữu
của công dân được xã hội và luật pháp công nhận; tính bất khả xâm phạm
về thân thể, về tài sản của cá thể, của tư nhân …
Nói gọn lại, trong tư duy chính trị của ông Hồ, khái niệm tự do, dân chủ
tuy có được đề cập đến không ít, nhưng nội hàm của 2 từ ấy chưa mang những nội
dung phổ cập, đầy đủ, cần thiết, tiến bộ nhất.
Những khiếm khuyết và bất cập
ấy giải thích đầy đủ những hạn chế của cuộc sống Việt nam, những thiếu vắng, bất
cập về xã hội, văn hoá và nhân sinh của con người Việt nam, và cả những bi
kịch, đau thương của người Việt nam trong cả một thời gian lịch sử dài, từ giữa
thế kỷ trước đến tận bây giờ.
Đó là một đất nước hầu như không có tự do công dân, tự do báo chí, tự do tôn giáo,
tự do bầu cử, theo tiêu chuẩn bình thường của thế giới đương đại; còn thấp
kém hơn xã hội thuộc địa dưới thời Pháp thuộc, khi báo chí tư nhân được xuất
bản, khi có toà án xử theo luật chứ không theo chỉ thị, mức án được định trước
khi xét xử, có luật sư tư và trường đại học luật khoa. Ông Hồ
không thể không biết rõ những khiếm khuyết và bất cập ấy nhưng ông tỏ ra
hoàn toàn yên lòng về nó. Chiến tranh không đủ được coi là lý do tạm thời cho
những lỗ hổng ấy, vì hoàn cảnh miền Bắc có thời gian hoà bình và ổn định
khá rõ rệt, có đủ điều kiện để xây dựng một chế độ dân chủ pháp quyền tiến
bộ, ngang tầm trung bình của thời đại.
Ông Hồ biết rất rõ những bi kịch cá nhân bi đát của giáo sư Nguyễn Mạnh Tường,
tiến sỹ văn học và luật học từ nước Pháp về, Giáo sư, Viện trưởng Viên Đại
học Hànội, Uỷ viên đoàn chủ tịch Mặt trận Tổ quốc bị tước mất mọi chức vụ, bị
cấm cả dạy tư, chỉ vì dám lên tiếng phân tích những sai lầm của đảng CS trong
Cải cách ruộng đất (ông phải bán sách quý theo cân cho người mua giấy vụn;
nuôi một gà mái lấy trứng lần lượt cho vợ ốm, con gái gầy còm và bản thân suy
sụp); của giáo sư triết học Trần Đức Thảo từ Pháp trở về bị ra rìa vì
ương bướng không phục tùng đảng; hơn 30 văn nghệ sỹ đòi tự do sáng tạo trong
vụ Nhân văn Giải phẩm bị cải tạo lao động và xỉ nhục; rồi hơn 20 nhà
chính trị (có cả 4 vị uỷ viên trung ương đảng), có cả tướng, đại tá, nhà văn,
nhà báo…trong vụ án xét lại vu vơ; cho đến số phận phi lý của ông Vũ
Đình Huỳnh, thư ký riêng của cụ Hồ từ hồi 1945, đi cùng cụ Hồ sang Pháp năm
1946, người đảng viên cộng sản gần ‘’Bác‘’ nhất, cùng chung một chi bộ đảng
20 năm liền, bị bắt, bị tù 8 năm không xét xử cũng vì cái tội vu vơ « xét
lại » ; bà Phạm Thị Tề vợ ông, cũng đảng viên CS kỳ cựu, gửi nhiều thư
cho ‘’Bác‘’ , xin gặp "Bác", chỉ cần ‘’Bác‘’ phán cho một lời để
cứu một người từng phục vụ sát mình hơn 20 năm liền bị oan ức, vậy mà không
một hồi âm ! ‘’Bác‘’ nhìn đi nơi khác, không chút bận tâm ! Cũng
như khi ông Hoàng Quốc Việt năm 1953 ở Việt Bắc làm thí điểm Cải cách ruộng
đất tại Thái Nguyên chạy đến gặp ‘’Bác‘’ xin can thiệp vì các cố vấn Tàu đòi
xử bắn bà Nguyễn Thị Năm bị chụp mũ là địa chủ ác bá, dù bà có 3 con trai đi
bộ đội, từng nuôi nhiều cán bộ CS thời bí mật…, ‘’Bác‘’ chỉ ừ ầm cho qua
chuyện rồi câm tịt, bỏ mặc !
Những lỗ hổng đáng tiếc, những thiếu sót trầm trọng, những bất cập mang tính bi
kịch trên đây mà cả xã hội VN gánh chịu trong nửa thế kỷ, nhà nghiên cứu công
phu W.J.Duiker không tìm thấy trong các kho tư liệu hiếm, nhưng nó vẫn in đậm
trong cuộc đời của triệu triệu con người VN. Một xã hội đến nay tự do tư
tưởng, báo chí, ngôn luận vẫn còn là xa xỉ, xa vời, mang đậm nét gia tài tinh
thần mà HCM để lại, để những người lãnh đạo hiện nay cố tình ôm giữ, nhằm cầm
giữ toàn xã hội trong cái khung chật hẹp của một đảng duy nhất, một học
thuyết duy nhất, một mô hình xã hội duy nhất.
Cần nhìn thật rõ cái lỗ hổng toang hoác ấy , để các nhà tư tưởng mới, thế hế lãnh
đạo mới, lớp trí thức trẻ hiện tại hiểu trách nhiệm của mình là sắn tay áo
phấn đấu đưa đất nước tiến lên ngang tầm với mức phát triển trung bình về chính
trị của thế giới, chưa nói đến tầm cao hay đỉnh cao trí tuệ nào! Nếu muốn
thoát cảnh chậm tiến nhất về cả kinh tế, đời sống và phát triển ở Đông Nam Á,
châu Á và thế giới.
Xin thông cảm cho người không còn trên đời này. Chớ nặng lời làm gì. Hãy cho người
đã khuất yên nghỉ. HCM sinh từ cuối thế kỷ 19, khi chết, HCM chưa biết gì đến
computơ cá nhân, đến điện thoại di động, đến toàn cầu hoá, đến kết thúc chiến
tranh lạnh … Khi ở châu Âu từ 1911 đến 1923, HCM như chỉ có một ý nghĩ, một
chủ định dành độc lập cho đất nước, không chú ý gì nhiều đến nền dân chủ nghị
viện, đến một mô hình dân chủ nào đó, vì cho rằng giải được bài toán độc lập
thì rồi mọi bài toán khác sẽ trôi chảy. Thế rồi cả cuộc đời còn lại ở ngoài
nước, suốt từ 1923 đến 1942, 1943 là dưới trướng của Staline và của Mao Trạch
Đông, mà HCM tôn thờ ngay là lãnh tụ vĩ đại ‘’Bác bảo đảm với các chú các cô
rằng 2 vị này không bao giờ phạm sai lâm‘’ (HCM : nói chuyện tại Đại hội
ĐCS lần thứ II, tháng 1/1951). Các học giả nước ngoài viết tiểu sử HCM, nên
tìm đọc cuốn ‘’Những kinh nghiệm tiến nhảy vọt của TQ» ký tên Trần Lực
– một bút danh của HCM - do nhà xuất bản Sự Thật của ĐCS in năm 1958,
trong đó HCM ca ngợi hết lời những sáng tạo nấu thép trong sân nhà nông dân
và đuổi chim bằng hò hét, trống kèn khắp cả nước Tàu để bảo vệ mùa màng, cũng
như nhảy ương ca trên thảm lúa cao sản. Cái nhìn nhẹ dạ ngây ngô hay sự
đồng loã thêu dệt đối với nhà phù thuỷ Tàu họ Mao ? Thế là với niềm tin
sắt đá như thế, HCM bê nguyên mô hình Liên Xô và Trung Quốc cộng sản vào để
xây dựng miền Bắc, rồi cứ thế cho cả nước thống nhất !
Cuối cùng tôi xin gợi ý các nhà học giả từng viết tiểu sử HCM – như Pierre Brocheux,
như William J. Duiker, và những bạn khác đang có dự định ấy , hãy để chút thì
giờ đọc và suy nghĩ về một bản tiểu sử HCM rất độc đáo, do một nhà văn trong
nước VN còn rất trẻ viết và được đăng công khai để bị cơ quan an ninh
của chính quyền truy tìm để huỷ ngay 4 ngày sau đó, để rồi lại được dân tò mò
tìm đọc nhiều hơn. Nó vẫn còn được dấu kín. Nó chỉ là bài báo báo nhỏ, với
đầu đề: Linh nghiệm, chỉ vừa một ngàn từ, mà gói gọn cả một đời người
HCM, nguồn gốc gia đình, tham vọng, ảo tưởng, sự mù quáng dai dẳng và kết quả
xã hội của sự nghiệp con người ấy. Trần Huy Quang kể lại đã ôm ấp viết tác
phẩm nhỏ bé ấy suốt hơn 10 năm, nghiền ngẫm, cân nhắc từng chữ, từng câu,
từng hình ảnh, rồi tính toán mưu kế để nó vượt qua lớp lớp kiểm duyệt, chào
đời trên tờ báo Văn Nghệ, cơ quan của Hội nhà văn chính thống, trong nỗi sung
sướng cùng cực mà lo âu cũng vô hạn của tác giả, của bạn thân và vợ con
anh .
Tôi nghĩ bản ‘’tiểu sử‘’ HCM, bé hơn bàn tay này của một công dân VN loại 2, một
nhà văn trẻ thông minh, là một bổ sung không thể thiếu cho những công trình
đồ sộ như của W.J.Duiker, tạo nên bức chân dung đầy đủ và trung thực -
phối hợp con mắt khách quan với cái nhìn chủ quan của người trong cuộc, của
nhà sưu tầm tài liệu với người chịu trận, của người khảo cứu bằng lý trí lạnh
lùng và người trái tim đập thình thịch khi sáng tác - về nhân vật lịch
sử HCM có nhiều tranh cãi và vẫn còn không ít bí hiểm này. Bùi Tín . Paris, tháng 5/ 2003. |