Qua những sai lầm trong
Cải cách Ruộng đất - Xây dựng quan điểm
lãnh đạo - 1
Talawas - Nguyễn Mạnh Tường - 3.5.2005
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1996), năm
23 tuổi đă đậu hai bằng Tiến sĩ Văn
khoa và Luật khoa ở Đại học Montpellier, Pháp.
Sau khi về nước, ông dạy học tại trường
Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat). Bất mãn
vì chính sách kỳ thị của Pháp, ông bỏ nghề
dạy ra mở văn phòng luật sư. Năm 1946, ông
tham dự Hội nghị Việt-Pháp tại Đà
Lạt nhưng không được cử đi dự
Hội nghị Fontainebleau. Ông theo chính phủ Hồ Chí
Minh kháng chiến chống Pháp tới ngày ký Hiệp
định Genève 1954 thì trở về Hà Nội dạy
học ở trường Đại học Văn khoa.
Với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ
quốc, L.S. Nguyễn Mạnh Tường đọc bài
diễn văn này trong một phiên họp của Mặt
trận Tổ quốc ở Hà Nội, ngày 30 tháng Mười,
1956. Cũng nên nhắc lại rằng bài diễn văn
này được đọc sau khi Trung ương Đảng
hạ lệnh chấm dứt chiến dịch Cải cách
Ruộng đất ngày 20.7.1956 và sau đó ban hành các
biện pháp sửa sai. Vì bài diễn văn này, ông Tường
bị tước hết mọi chức vụ và danh
vị nghề nghiệp và phải sống một
cuộc đời vô cùng thiếu thốn. Năm 1991, nhân
dịp được phép sang Pháp ông đưa cho nhà
xuất bản Quê Mẹ ở Paris in và phát hành cuốn
sách tự thuật L’excommunié (Kẻ bị khai
trừ) năm 1992. Ông trở về Hà Nội và
mất năm 1996, thọ 87 tuổi.
Thưa các quí vị,
Hội nghị Mặt trận Trung ương họp
để nghiên cứu các sai lầm trong Cải cách
Ruộng đất và chính sách sửa chữa sai lầm
ấy. Hôm nay tôi được đúc kết trước
toàn thể Hội nghị các ý kiến mà trong mười
ngày vừa qua tôi đã trình bày trong tổ thảo
luận, với tinh thần thận trọng của người
trí thức không bao giờ quên trách nhiệm của mình
trước nhân dân và lịch sử nước nhà.
Tôi phấn khởi được nghe bản phê bình
của Đảng Lao động do ông Trường Chinh
đọc trước Hội nghị. Nhưng tôi cũng
phải thú rằng lòng phấn khởi của tôi
một phần bị giảm đi, vì tôi nhớ lại
kết quả tai hại của các sai lầm đã
phạm trong công cuộc Cải cách Ruộng đất.
Tôi xin phép các vị được kính cẩn nghiêng mình
trước kỷ niệm những người vô
tội đã chết oan, không phải vì bàn tay của
địch mà chính của ta. Trong cuộc kháng chiến
anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh,
có thể nói được, chết với trong lòng chan
chứa nỗi vui sướng vì chết cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt
của địch. Họ chết vì địch, cho ta,
đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái
chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn
thuở. Trái lại, các người chết oan vì các sai
lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất này, lúc
tắt thở, cay đắng đau xót vì chết
với một ô danh. Chúng ta đã xoá bỏ cái ô danh
đó, nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không
ngậm ngùi? Đau đớn hơn, bây giờ ta làm
thế nào mà biến cái khổ cực của người
tắt thở thành một niềm an ủi cho họ
được? Nếu chúng ta duy tâm và tin rằng linh
hồn còn tồn tại thì một phần nào ta
chuộc lại được tội lỗi của ta.
Nhưng ta duy vật và các người ấy lúc chết
cũng là duy vật. Do đó, cái nỗi khổ cực
của họ ta biết rõ rằng bây giờ ta không
thể nào thủ tiêu được nữa. Quyền
hạn của ta không tới đó. Nhưng cái gì ta có
thể làm được, ta cần làm, để như
là đền bù một phần nào sự tổn
thiệt của các người ấy, và chứng minh ta
thấm thía nỗi đau khổ của họ khi họ
từ trần là ta cương quyết rút bài học
kinh nghiệm đau đớn và sửa chữa các sai
lầm nghiêm trọng mà họ là nạn nhân.
Với tinh thần của một người trong
quần chúng, của một người công dân đau
khổ trước bao nhiêu cái chết oan của người
vô tội, tôi xin phép trình bày mấy ý kiến xây
dựng. Chủ yếu tôi sẽ phê phán và truy nguyên các
sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, nhưng
theo ý tôi các sai lầm này chỉ là biểu hiện
điển hình và bi đát nhất của những
thiếu sót trong sự lãnh đạo của Đảng
Lao động. Do đó tôi xin được góp ý
kiến xây dựng quan điểm lãnh đạo của
Đảng Lao động.
Tại sao tôi lại tin như vậy? Là vì, không
những trong Cải cách Ruộng đất chúng ta đã
phạm sai lầm nghiêm trọng mà cả trong nhiều
khu vực khác nữa. Trong các khu vực này, sai lầm cũng
đã đưa một số người trong quần chúng
đến cái chết thê thảm. Do đó, nếu
chỉ cục bộ hóa các sai lầm, chúng ta không
thể rút được bài học kinh nghiệm, chúng
ta sẽ khiếm khuyết với sự tín nhiệm
của tất cả các đảng viên Đảng Lao
động, với sự mong đợi của toàn dân.
Chúng ta phải kiên quyết không cho các sai lầm ấy
tái diễn và tác hại nữa. Đó là nhiệm
vụ tối thiểu của chúng ta đối với các
người đã chết oan.
Tình hình nước ta hiện thời ra sao? Tình hình
ấy có bi quan không? Đó là vấn đề nhận
định thôi. Nhưng cái chủ yếu là ta không nhìn
tình hình ây với con mắt bi quan. Vậy sự thật
khách quan như thế nào? Nhìn vào nông thôn, ta thấy
hiện thời tình trạng thiếu đoàn kết
rất phổ biến. Vì thi hành sai chính sách cải cách,
ta đối lập các từng lớp trong giai cấp nông
dân, cán bộ cũ và mới, chi bộ cũ và mới
của Đảng. Trong khi đập tan giai cấp địa
chủ, ta không phân biệt đối xử, ta để
cho chết chóc thê thảm những người hoặc
già cả hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương
tiêu diệt. Ta chỉ cần đọc lại các bài giáo
huấn cho đồng bào nông thôn trong báo Nhân Dân là ta
đủ hiểu mặt mũi nông thôn hiện giờ
ra sao. Nhìn vào các công xưởng, công trường, ta
thấy gì? Cứ đọc báo Nhân Dân thôi, ta thấy
Chính phủ gửi các phái đoàn đi thăm các anh
chị em công nhân, ủy lạo họ, bắt buộc
thi hành quy chế lao động mà Chính phủ đã ban
ra. Nghĩa là thế nào? Nghĩa là giai cấp công nhân
đã phải lao động sản xuất hai năm nay
mà không được bồi dưỡng đúng
mức. Lắng nghe dư luận đồng bào Hà
Nội thôi, ta được biết rằng có it ra
một doanh nghiệp quốc gia lãng phí bao nhiêu triệu
trong khi dưới chế độ Pháp thuộc, cũng
doanh nghiệp ấy mang lại cho thực dân đế
quốc các số lãi khổng lồ.
Về Mậu dịch nửa năm nay, đồng bào ca
thán như thế nào, ta đã biết. Nào chèn ép các nhà
kinh doanh tư nhân, nào lãng phí bao nghìn triệu trong khi
thực hiện chính sách, nào tàn nhẫn với các người
bán sức lao động cho mình, nào đưa ra thị
trường sữa hư mà không bao giờ nghĩ đến
tính mệnh của người ốm, của trẻ sơ
sinh, nào tung ra bơ hỏng, thuốc lá mốc, phạm
đến sức khỏe của nhân dân, nào bất
lực trước hiện tượng vật giá ngày càng
lên trong khi nhiệm vụ của mình là phải bình
ổn nó. Có thể nói được, suốt ngày đêm
không đâu là không có lời oán trách Mậu dịch.
Về hộ khẩu thì cán bộ tỏ vẻ không
phải là nhằm duy trì trật tự an ninh, phá vỡ
cơ sở của địch, trái lại quấy
nhiễu nhân dân, tạo ra một đời sống thành
thị điêu đứng cho tất cả. Nếu các
vị cần những dẫn chứng cụ thể, tôi
chỉ xin nhắc lại hồ sơ mênh mông, thu lượm
các thắc mắc cay đắng của đồng bào
Thủ đô trong Đại hội lần thứ ba
của nhân dân Hà Nội vừa họp cách đây hai tháng.
Nói về chính sách khôi phục kinh tế, ta thấy gì?
Số vốn mà các nhà công thương mang ra kinh doanh
chỉ là một phần ti tiểu, số công nhân làm
việc trong các doanh nghiệp tư nhân không có nghĩa lý
gì. Trái lại ta thấy tất cả một phong trào các
nhà tư bản thu hẹp hoạt động của
họ, hoặc “chuyển hướng” bằng cách
đâm ra quay chỉ, bán nước mía, hay dệt vài thước
vải vớ vẩn, hoặc đóng cửa ăn vào
vốn để khỏi đụng chạm đến
Sở Lao động vì vấn đề công nhân,
với Sở Công thương vì vấn đề
đăng ký và nguyên liệu sản xuất, với
Sở Tài chính vì thuế khoá đặc biệt.
Thuế bổ sung đã đưa bao nhiêu người
đến chỗ phá sản, có kẻ đến chỗ
tự sát. Các người tiểu thương buôn thúng
bán mẹt, đẩy chiếc xe hàng tiều tụy trong
phố, cũng “được” nộp thuế, cũng
như các người suốt ngày làm việc ở công
sở hay công xưởng, tối về thức đêm
dệt vài thước kiếm thêm tiền độ thân.
Hàng trăm, hàng nghìn công chức cũ về hưu,
với gia đình của họ, trước đây
sống bằng lương hưu trí, hai năm nay không
được ai chiếu cố đến, chết
dần chết mòn, có người đâm đầu
xuống sông tự tử, có người hai lần
uống độc dược để quyên sinh.
Còn như các cán bộ thì ta có cần nói đến không?
Ta cứ trông mặt mũi, quần áo họ, ta chỉ
cần hỏi con số những người qua các phòng
khám bệnh, các bệnh viện, ta liếc mắt nhìn
họ ăn uống những gì trong bữa cơm, là ta
đủ hiểu khổ cực của họ.
Ta quên thế nào được các đồng bào
tập kết ra ngoài Bắc, số phận con cái họ
ở Hà Nội, Hải Phòng, số phận chính của
họ bi đát quá nỗi! Khổ cực nhất cho các
anh chị em là không nương tưa đuợc vào
một đời sống gia đình đề khuây
khỏa trong lúc thảm sầu.
Các hiện tượng trên đây có đúng không, tôi
chỉ yêu cầu các vị đọc báo Nhân Dân, nghiên
cứu các hồ sơ chồng chất lên ở Mặt
trận Thành Hà Nội sau Đại hội lần
thứ 3 vừa rồi, nghe ngóng lời than phiền
của quần chúng, nhìn nhận các quang cảnh diễn
ra dưới mắt của các vị là các vị đủ
hiểu rồi. Quả thực như ông Trường
Chinh đã tuyên bố, uy tín của chính phủ, của
Đảng bị tổn thiệt rất nhiều.
Thế tại sao đồng bào chúng ta lại khổ
cực? Phải chăng vì cán bộ của chúng ta non,
hẹp hòi, chưa thấm nhuần lý luận cách
mạng, không tôn trọng giá trị của con người,
các nhu cầu và đòi hỏi chính đáng của nó?
Phải chăng vì ta đang mắc trầm trọng
bệnh ấu trĩ của cách mạng? Các điều
đó là có, ta không hề chối và ta cũng không
thể chối cãi được. Nhưng nhận định
như vậy vẫn còn hời hợt. Ta phải đi sâu
hơn nữa. Khi trong Cải cách Ruộng đất
của ta, ta thấy bao nhiêu người bị tù
tội, bị giết oan, trong đó bao nhiêu người
dân ưu tú đã từng góp phần không nhỏ vào
sự nghiệp cách mạng, khi hiện thời ở nông
thôn vẫn có người bị đánh đập, ngược
đãi, khi ta không xây dựng được đoàn
kết giữa các đồng bào, thì ta phải nhận
định rằng các sai lầm ta đã mắc trong
cuộc Cải cách Ruộng đất này chỉ là
những biểu hiệu cực độ của các sai
lầm ta đã phạm, và các sai lầm ấy nêu lên,
như tôi trình bày trên đây, một vấn đề
cực kỳ quan trọng là vấn đề lãnh đạo
của Đảng Lao động.
Do đó, tôi yêu cầu các vị cho phép tôi bắt đầu
nghiên cứu các sai lầm trong Cải cách đã rồi
sau khi truy nguyên các sai lầm ấy, đề đạt
mấy ý kiến về vấn đề lãnh đạo.
I. Vấn đề pháp lý trong Cải cách Ruộng
đất
Ta đã sai lầm nghiêm trọng trong Cải cách
Ruộng đất, ta có thể tránh được sai
lầm ấy mà vẫn bảo đảm được
đường lối căn bản của cách mạng
không? Tôi giả nhời cương quyết rằng có.
Đường lối cách mạng của ta đòi
hỏi gì? Ruộng phải trở về người cày.
Điều này rất đúng không ai có thể chối cãi
được. Nông dân là đại đa số trong nhân
dân, nông dân là quân đội chủ lực của cách
mạng, nhất định cách mạng không thể nào
thành công được nếu ta không thỏa mãn nhu
cầu thiết yếu và cấp bách của nông dân. Không
cần phải là một nhà chính trị cao, một nhà cách
mạng thạo, cũng nhận thấy điều
ấy. Chỉ cần nhìn lịch sử cách mạng
từ thời kỳ cổ đại đến giờ
là đủ hiểu rồi.
Như vậy về nguyên tắc, ta tán thành chủ trương
Cải cách Ruộng đất.
Về phương pháp, ta có nên ban ơn cho nông dân không?
Nhất định là không. Nông dân ta trong bao nghìn năm
đã khổ cực dưới chế độ bóc
lột phong kiến và một trăm năm nay dưới
chế độ bóc lột thực dân. Đồng bào nông
thôn ta lầm than như vậy, đã mất hết khí
thế con người. Ta cần khôi phục khí thế
của người nông dân, xây dựng cho họ tinh
thần chủ nhân ông trên đất nước. Do
đó ta thấy cần thiết phải phát động
tư tưởng của họ để họ nhận
được phân minh kẻ thù của họ, để
họ vùng giậy nắm lấy quyền thế ở nông
thôn.
Nhưng từ đây trở đi, ta thấy khởi phát
các sai lầm. Sai lầm này, ông Trường Chinh đã
nhận thấy là ở chỗ: ta quên hẳn ta hiện
thời nắm chính quyền và chính quyền ấy,
nếu ta biết sử dụng nó, khai thác nó một cách
sáng suốt, nhất định ta vẫn thành công nhưng
ta tránh được bao tai họa làm ta đau khổ
hiện thời.
Con đường ông Trường Chinh đã đi để
tiến tới kết luận ấy là con đường
chính trị. Các anh em tôi là những nhà luật học,
chỉ là nhà chuyên môn và lý luận trên cơ sở chuyên
môn thôi, đã trông thấy kết luận ấy ngay
từ khi chính sách phát động và Cải cách
được đề ra. Tại sao? Vì giải pháp chính
quyền cụ thể là giải pháp pháp lý, đảm
bảo thắng lợi hoàn toàn của cách mạng
nếu ta biết mang nó ra phục vụ chính trị và cách
mạng.
Ta muốn gì? Tìm kẻ thù của nông dân, của cách
mạng để tiêu diệt nó. Nhưng đồng
thời nếu ta biết lo xa, nhìn xa, ta cũng không quên
rằng công lý của cách mạng, muốn bảo toàn
được uy tín và thắng lợi của cách
mạng, phải biết đánh đúng địch. Khi
đưa ra khẩu hiệu “thà chết 10 người
oan còn hơn để sót một địch” thì
khẩu hiệu này không những quá tả một cách vô
lý mà phản lại cách mạng là đằng khác
nữa. Muốn chứng minh điều này ta chỉ
cần nhìn thực tế: kết quả sai lầm ta
đã phạm khi thực hiện khẩu hiệu này
rất tổn thiệt cho uy tín của cách mạng và cho
bản thân bao nhiêu chiến sĩ cách mạng. Nếu không
phải đó là phản lại cách mạng thì là gì?
Khẩu hiệu của pháp lý thì khác hẳn: “Thà 10
địch sót còn hơn một người bị
kết án oan”. Thế ta có lo ngại rằng 10 địch
sót không? Không, vì ta nắm chính quyền, vì cách mạng
ta đã thành công. Như vậy kẻ thù của cách
mạng chẳng sớm thì chậm, nhất định
hoặc cải thiện, giác ngộ, hoặc lọt vào lưới
của ta. Khẩu hiệu này lợi ở chỗ: không
một người oan nào bị kết án. Do đó, không
có các kết quả cực kỳ tai hại diễn ra
hiện thời.
Làm thế nào thực hiện được khẩu
hiệu ấy? Kinh nghiệm pháp lý của hàng nghìn năm
lịch sử thế giới cho ta biết rằng ta có
phương pháp để tìm đúng địch mà
đánh, không đánh tràn lan, không đánh người vô
tội. Tôi xin phép nhắc tóm tắt sau đây các nguyên
tắc căn bản mà pháp lý nêu lên để đạt
mục đích ấy.
Một nguyên tắc đầu tiên là không hình phạt các
tội đã phạm quá lâu rồi mà bây giờ mới
khám phá ra. Tại sao? Vì rằng vấn đề
bằng chứng khó giải quyết được, tang
vật đã mất, nhân chứng có người đã
từ trần, có người không nhớ rõ các sự
việc họ đã mục kích. Hơn nữa, sở dĩ
hình luật phạt các tội, là vì các tội ấy
đã xâm phạm vào trật tự xã hội: tác
hại cho nạn nhân và gây tác dụng xấu trong
quần chúng. Nhưng khi tội đã phạm quá lâu,
trật tự xã hội hết bị xâm phạm
rồi, nạn nhân không còn đau khổ, tác dụng
xấu của tội cũng hết, thời gian đã hàn
gắn các vết thương. Bây giờ lại vạch
chuyện cũ thì không những khó thu thập được
bằng chứng kết tội mà lại gây một
sự náo động trong xã hội không cần
thiết. Chính xã hội thấy “quên” lợi hơn là
“nhớ”.
Một nguyên tắc thứ hai là trách nhiệm của
phạm nhân thì chỉ một mình phạm nhân phải
chịu, không có trách nhiệm chung của vợ con,
của gia đình. Nêu trách nhiệm truớc hình luật
của các người “có quan hệ” với phạm
nhân không những là bất công mà lại còn gây các
sự rung động vô ích trong xã hội. Hơn 400 năm
nay không một nước Tây phương nào làm
việc đó nữa. Trách nhiệm trước hình
luật chỉ là một trách nhiệm cá nhân mà thôi. Không
những thế, về phương diện nhân đạo,
thì các phạm nhân quá già được miễn
nghị, miễn tố và các vị thành niên được
chiếu cố.
Môt nguyên tắc thứ ba là muốn kết án một người
phải có bằng chứng xác đáng. Phải có nhân
chứng là những kẻ đã mục kích sự
phạm pháp và cung khai một cách cụ thể, rõ ràng,
chắc chắn. Một nhân chứng thôi chưa đủ,
ít ra cũng phải có hai nhân chứng cung khai phù hợp
với nhau mới được coi là đáng kể.
Cung khai của các nhân chứng phải ăn khớp
với nhau và trong quá trình phạm pháp các tang vật thu
được phải có tác dụng hợp lý, sát
hợp với kết quả do cuộc điêù tra mang
lại.
Một nguyên tắc thứ tư là thủ tục điều
tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi
của bị tố nhân. Bị tố nhân có quyền
nhờ luật sư bào chữa cho mình, và khi thiếu
điều kiện nhờ luật sư, khi nào là
một trọng tội, Tòa phải cử luật sư bào
chữa không, cho bị can. Trong tất cả, giai đoạn
điều tra ở trình độ công an thẩm vấn
trong phòng dự thẩm, buộc tội trước tòa,
quyền lợi của công tố viện ngang với
quyền lợi bị can, nghĩa là nếu công tố
viện đưa hết lý lẽ để buộc
tội, bị can đưa hết lý lẽ để
minh oan. Cuộc đấu lý diễn ra trong tất cả
quá trình điều tra, truy tố, xét xử giữa công
tố viện và luật sư. Các vị thẩm phán
ngồi xét xử phải là vô tư, đứng
giữa để theo rõi cuộc đấu lý diễn ra
dưới mắt mình. Như thế mới nhận
định đúng và xử công minh. Toà án xét xử không
chịu lệnh của ai trong khi xét xử, chỉ
biết xét xử theo lương tâm của mình và căn
cứ vào tài liệu trong hồ sơ, sau khi nghe hai
tiếng chuông buộc tội và gỡ tội. Người
thẩm phán phải được đủ đảm
bảo để làm nhiệm vụ của mình mà không
sợ ai khiển trách hay gây khó khăn cho mình được.
Khi điều tra thẩm vấn, tuyệt đối
cấm không được dùng phương pháp tra
khảo, đánh đập, hành hạ bị can, mớm
cung cho bị can, dọa nạt hay dụ dỗ hắn.
Khi nào có điều nghi ngờ thì bị can được
miễn nghị. Nếu bị kết án thì còn quyền
chống án lên tòa trên. Nếu bị kết án tử hình
thì lại còn quyền xin ân giảm trước vị
Chủ tịch Chính phủ. Con người của bị
can, trong tất cả quá trình truy tố và xét xử
phải được tôn trọng triệt để,
khi bị can ra trước tòa thì không được
xiềng xích họ và không lúc nào được dùng
nhục hình đối xử với họ.
Theo một nguyên tắc căn bản, không phải vì
một người tác hại cho một người khác
mà người ấy phải chịu trách nhiệm trước
hình luật. Tác hại cho ai thì chỉ nêu trách nhiệm
về phương diện dân sự, nghĩa là bồi
thường thôi — của người đã tác
hại. Muốn truy tố người ấy để
thi hành hình luật đối với hắn thì phải
chứng minh rằng hắn phạm một tội, nghĩa
là phạm vào một điều khoản nào qui định
trong hình luật, và hình luật không bao giờ có tác
dụng đối với quá khứ cả: nếu hành
động của một người diễn ra trong
thời kỳ mà hình luật chưa quan niệm là
một tội thì người ấy không thể mang ra
truy tố được. Không những bị can phải
phạm một tội đã qui định rồi trong pháp
luật, mà ta lại còn phải xét xem rằng lúc
phạm tội ấy bị can có ý thức, có ý chí
phạm pháp hay không, hay là vô tình mà phạm pháp. Sự
đối xử trong hai trường hợp ấy khác
nhau.
Lúc tôi nhắc lại các nguyên tắc này thì có vị
cho rằng như thế là phiền phức, phức
tạp. Dĩ nhiên rồi, nhưng tất cả vấn
đề là: ta có muốn giết người vô tội
không? Nếu không thì không thể nào làm khác được.
Hơn nữa, muốn nhận định vấn đề
cho đúng, ta không nên đứng vào vị trí một người
hiện thời không dây dưa với pháp luật,
một người ở một cương vị chính
quyền. Ta phải đứng vào cương vị
của bị tố nhân; lúc ấy vấn đề
rất sáng tỏ, không những ta đòi thi hành các nguyên
tắc pháp luật, ta còn cố gắng tìm hiểu thêm
các nguyên tắc mới để đảm bảo người
oan khỏi bị chết.
Nếu mang ra áp dụng các nguyên tắc ấy vào
cuộc Cải cách ruộng đất của ta, ta
sẽ làm thế nào? Thủ tục cải cách cứ
diễn bài nhưng sự trừng trị bọn cường
hào gian ác hay phản động, ta sẽ không giao cho
một tòa án nhân dân, đặc biệt như ta đã
làm với tất cả sự thiếu sót về phương
diện pháp lý mà ta đã biết. Trái lại, sau khi phát
động tư tưởng của nông dân, ta sẽ
nghe lời họ tố cáo kẻ thù của họ. Ta
sẽ ủy nhiệm toà án nhân dân thường lập
các hồ sơ, để tòa án, với bộ máy và
kinh nghiệm của nó, tiếp tục điều tra,
kiểm tra, lấy cung chứng, truy tố, luận
tội, xét xử. Ta đảm bảo triệt để
cho bị tố nhân quyền bào chữa của họ, ta
yêu cầu các luật sư làm tròn nhiệm vụ
của họ, ta tôn trọng triệt để con người
của bị tố nhân. Ta chỉ thù ghét và kết án,
trừng phạt tội của nó đã phạm thôi. Ta
tin tưởng ở tòa án, ta đảm bảo cho các
vị thẩm phán làm việc ngoài sự điều
khiển của chính quyền, một cách biệt
lập, tôi nói biệt lập chứ không phải độc
lập, theo lương tâm của các vị và căn
cứ vào hồ sơ và kết quả của cuộc
thẩm vấn.