www.viet.no - Tuệ Chương (Hoàng Long Hải) - 30-10-2005
![]() |
Trước đây ít lâu, tôi gọi điện thoại thăm sức khỏe một ông cụ tuổi đã quá 90, một người cố cựu ở Huế. Qua cuộc điện đàm đó, tôi ngạc nhiên về sự minh mẫn của một người đã tuổi cao như thế. Trước đây, gần bốn mươi năm, tôi cũng đã từng được tiếp chuyện ông cụ một lần và cũng đã một lần ngạc nhiên về kiến thức của ông. |
Hồi ấy, trong bữa tiệc đám cưới con trai trưởng của cụ, - người
nầy là em rể tôi – khi khách trong bàn tiệc nói chuyện chơi rồi lan man qua sự
xung đột Nga-Mỹ, nói về sự chia rẽ của nhân loại, ông cụ nói rằng sự chia rẽ là
điều không thể tránh được. Theo nhận xét của ông cụ, hồi đó, ông khoảng hơn 50
tuổi, ông cho rằng trong đời sống thực tế, quyền lợi là nguyên nhân căn bản
khiến con người ta đoàn kết hay chia rẽ, nhất là trong quan hệ giữa một quốc gia
với một quốc gia. Trong gia tộc, trong tình anh em, người ta có thể hy sinh cho
nhau vì lý do tình cảm, còn trong phạm vi thế giới, điều ấy khó có được. Từ đó,
ông kết luận rằng Nga-Mỹ chỉ có thể đoàn kết khi loài người ở tinh cầu nầy bị
một loài người ở một tinh cầu khác tấn công, hoặc giả trong nhân loại của chúng
ta, có một thế lực thứ ba nổi lên chống cả Cộng Sản lẫn Tư Bản. Vì quyền lợi của
mình, Nga Mỹ buộc lòng đoàn kết lại để chống kẻ thù chung.
Ngày nay, Thế
Giới Cộng Sản không còn, nhưng cả Nga lẫn Mỹ đang đối diện với bọn khủng bố Hồi
Giáo cực đoan thì Nga Mỹ phải đoàn kết vậy. Lời tiên đoán của ông cụ có phần nào
đúng đó chăng?
Trong lần nói chuyện vừa qua, tôi vẫn còn mang trong tôi
lòng ngưỡng mộ về kiến thức một ông cụ già nay đã trên 90. Trong câu chuyện,
chúng tôi có nói qua về tình hình chính trị hiện tại ở Việt Nam, bỗng ông cụ hỏi
tôi:
- “Tôi vẫn có cái thắc mắc. Sách báo ở đây (ở Việt Nam) cứ nói ông
Hồ Chí Minh học trường Quốc Học. Tôi không tin như vậy. Anh ở bên đó, sách báo
nhiều, anh xem thử có tài liệu nói rõ về việc nầy. Ông Hồ Chí Minh học Quốc Học
khi mô?
&
Trước hết, xin nói về việc thành lập Trường
Quốc Học.
Ngày 26 tháng 12 năm 1956, khi tôi đang còn là học
sinh của trường nầy, thì trường tổ chức lễ “Kỷ Niệm 60 năm Trường Quốc Học” sau
khi trường vừa đổi tên từ “Trường Trung Học Khải Định” thành “Trường Quốc Học
Ngô Đình Diệm” (*). Buổi lễ được Tổng Thống Ngô Đình Diệm chủ tọa.
Theo
bài diễn văn của cụ Ưng Trình (Một người từng làm thư ký riêng cho vua Bảo Đại)
đọc trong buổi lễ hôm đó thì giữa thập niên 1890, ông Ngô Đình Khả nhà ở trước
nhà thờ Phủ Cam, ngày ngày đi làm việc ở Tòa Khâm Sứ Trung Kỳ (ở đầu cầu Trường
Tiền) hay đi làm việc trong Đại Nội (Tôi không chắc) phải đi ngang “Trại Lính
Thủy” của Nam Triều, nay bỏ hoang, bèn nghĩ ra việc mở một trường dạy chữ Quốc
Ngữ và tiếng Pháp cho sĩ tử tại địa điểm nầy.
Trước khi bị Pháp cai trị
hoàn toàn, tước hết quyền bính, Triều Đình Huế có một đội Thủy Binh và doanh
trại của họ đóng ngang với hoàng thành Huế, phía bên kia sông, là địa điểm
trường Quốc Học hiện nay. Khi Pháp cai trị rồi, vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị,
Pháp buộc Triều Đình Huế, giải tán đội thủy binh. Do đó, doanh trại nầy bị bỏ
trống.
Trong buổi lễ kỷ niệm nói trên, những người học khóa đầu tiên, nếu
lúc ấy còn sống, đều được mời đến dự. Các vị đó, đều già cả, có nhiều cụ chống
gậy. Một trong những cụ đến dự lễ hôm đó, có ông Thị Ngô, hơn 70 tuổi, nhà ở
phía trong cửa Đông Ba, sát ngã tư Mai Thúc Loan (Đường Đông-Ba) -Ngô Đức Kế
(đường vào chợ Xép, thường gọi là đường Chợ Xép). Xóm chợ Xép “của tôi”, thường
gọi là Cụ Hường (Ngô). Sau đây là một đoạn đối đáp giữa tôi và cụ Hường Ngô, là
một chuyện có thực, tôi có ghi lại trong truyện ngắn “Cựu Học Sanh” (*) như sau:
“Một hôm, tôi đang ngồi sát cửa sổ, học bài, thỉnh thoảng nhìn ra ngoài
trời thì cụ Hường đi xuống nhà cầu, ngang qua cửa sổ tôi, tay vẫn không chống
gậy. Khi trở vào, cụ Hường dừng lại bên ngoài, hỏi tôi:
- “Anh học trường
Quốc Học?”
Tôi đứng dậy, lễ phép:
- “Thưa cụ, vâng.”
- “Hai
đứa cháu nội tôi (*) cũng học ở Quốc Học. Ba nó cũng trường Quốc Học mà ngay
chính tôi, cũng là “Cựu Học Sanh” trường Quốc Học.
Tôi nói:
- “Dạ,
cháu biết cụ có học Quốc Học. Năm ngoái, lễ kỷ niệm 60 năm “Trường Quốc Học Ngô
Đình Diệm” (khoảng thời gian từ 1956 đến 1963, trường có tên như vậy-tg-), các
cựu học sinh về dự đông lắm. Cháu thấy cụ có đi dự, mặc quốc phục, đi đầu, chung
với mấy cụ già, cụ nào cũng chống gậy.”
Tôi nói các cụ già chống gậy là
nói một cách tình cờ, thấy sao nói vậy. Cụ Hường, có lẽ nghĩ khác, nên cụ
nói:
- “Bữa đó tôi hơi váng đầu, phải chống gậy. Bữa nay thì khỏe
rồi.”
Rồi cụ nói tiếp:
- “Tôi học khóa đầu tiên.”
- “Thưa
cụ, vậy hả? Chắc hồi đó trường ốc chưa có gì?” -Tôi tò mò hỏi.
- “Hồi
xưa, đó là trại lính thủy của Nam Triều.” -Ông cụ giải thích- “Sau khi Pháp đô
hộ rồi thì lính thủy Nam Triều bị giải tán, còn lại mấy cái lán không. Cụ Ngô
Đình Khả, thân sinh của cụ Ngô bây giờ, nhà ở Phú Cam, mỗi ngày đi làm việc ở
Tòa Khâm Sứ hay trong Đại Nội, tôi không nhớ, ngang qua nơi này, thấy trại bỏ
không, mới nảy ra ý kiến dùng làm trường Quốc Học, dạy cho sĩ tử học chữ Quốc
Ngữ và chữ Tây. Khóa đầu tiên khai giảng năm 1896. Tôi học khóa đó.”
-
“Hồi đó cụ thi vô có khó không?” Tôi hỏi.
- “Có thi đâu!” - Cụ Hường trả
lời – thi đậu xong thì bắt học thêm ở trường Quốc Học. Vở với bút chì phải lận
dấu trong bụng. May mà mặc áo dài ta nên dấu cũng dễ.”
Tôi ngạc nhiên
hỏi:
- “Sao lại phải dấu?”
- “Ai cũng sợ mang tiếng là theo Tây.
Học chữ Quốc Ngữ, chữ Tây là theo Tây, chống lại Triều Đình, chống lại dân mình.
Dân người ta thấy, người ta chê cười mình nên phải dấu.”
- “Vậy cụ Ngô
Đình Khả đứng ra chủ trương mở trường Quốc Học, không sợ mang tiếng theo Tây
sao?” -Tôi lại hỏi.
- “Gốc ông ta làm thông ngôn cho Tây thì sợ mang
tiếng gì nữa. Với lại nhiều khi tôi cũng nghĩ, cụ ấy hơn người, nhìn xa thấy
rộng, không thể bo bo với mớ chữ Nho xưa mà cứu nước được. Thời thế đã đổi thay.
Anh không học thơ của cụ Trần Kế Xương sao?” -Rồi ông cụ đọc tiếp:
Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,
Mười người theo học, chín người
thôi
“Thơ văn của ta mà không học là dốt lắm đó. Biết
chưa?”
Nói câu đó, cụ Hường gằn giọng, tỏ ý khó chịu về cái dốt của học
trò ngày nay. Tôi vội vàng nói:
- “Thưa cụ, cháu có học. Trong chương
trình lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ -tg-) đã có rồi. Bài thơ đó cháu cũng
thuộc.”
- “Vậy là tốt. Trường ni là nơi đào tạo nhiều nhân tài, nhiều
người nổi tiếng. Học ở đó là để sau làm việc “ích quốc lợi dân”. Biết chưa?”
Nói xong, cụ Hường bỏ đi vào nhà, chẳng thèm chào tôi. Đó là lần đầu
tiên mà cũng là lần chót cụ nói chuyện với tôi trong khoảng thời gian tôi ở đây
hơn ba năm.”
(*) Hai người cháu nội nầy, khi tôi học lớp Đệ Nhất, họ
cùng học một lớp với tôi. Đó là chị Trần Thị Thanh Hương và em chị là anh Trần
Văn Viên)
(“Cựu Học Sanh”, “Viết Về Huế” Tập 1. Trang 186-187-189)
Qua đoạn văn trích dẫn ở trên, tôi muốn trình bày với độc giả hai điều:
Thứ nhất là việc vào học trường Quốc Học:
Cuối thập niên 1890,
tuy Pháp đã đô hộ nước ta, nhưng tinh thần chống Tây của người Việt chúng ta còn
cao, còn mạnh mẽ, tầm nhìn về thế giới chưa rộng nên nhiều khi cực đoan. Người
ta không làm những điều gì, việc gì có liên hệ xa gần đến Tây để có thể bị gọi
là theo Tây. Dĩ nhiên không đi lính cho Tây, không theo đạo của Tây (đạo Thiên
Chúa), không học tiếng Tây, ăn mặc hoặc cắt tóc theo kiểu Tây. Mãi đến khi Nhật
Bản thắng Nga trong trận Đối Mã (1905), người Việt Nam mới tỉnh cơn mê. Trước
kia, cứ tưởng cái gì của Tàu cũng nhất thiên hạ. Khi một phần hạm đội Hắc Hải
của Nga bị Nhật đánh bại, chạy trốn ở vịnh Cam Ranh, người Việt Nam tò mò đến đó
xem tàu Nga mới lắc đầu lè lưỡi cho rằng tàu bè súng ống như thế mà còn bị Nhật
đánh bại, đủ biết nhờ Minh Trị Thiên Hoàng canh tân, nước Nhật ngày nay hùng
mạnh như thế nào?! Những sĩ phu ở Huế hồi ấy như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức
Kế, Trần Quí Cáp, đi xem tàu Nga về, đều trầm trồ khen ngợi việc nước Nhật canh
tân. Đầu thế kỷ 20 mới có “Phong Trào Duy Tân”. Chỉ một việc cắt tóc ngắn, không
chừa “búi tó” như ngày xưa, các cụ cũng phải làm vè để cổ động dân
chúng:
“Phen nầy cắt tóc đi tu,
Tụng kinh Độc lập ở chùa Duy
Tân.”
Phong trào Duy Tân là một sự thức tỉnh của người Việt Nam đầu
thế kỷ 20, khi “thần tượng” Trung Hoa sụp đổ vì chính nước nầy đang bị các cường
quốc xâu xé mà không có cách chi chống lại được. Ý tưởng phải “Duy Tân” không
những được cổ động và gây ảnh hưởng trong dân chúng mà còn gây ảnh hưởng ngay cả
trong Triều Đình Huế. Các vị vua khi đặt niên hiệu đều chọn theo một ý nghĩa nào
đó. Năm 1908, khi vua Thành Thái bị truất phế và thái tử Vĩnh San lên ngôi thì
vua mới chọn niên hiệu là Duy Tân. Điều đó không hẳn là không do ảnh hưởng từ tư
tưởng Duy Tân nước nhà đang được vận động trong dân chúng.
Về việc lập
Duy Tân Hội, sách “Phan Bội Châu Niên Biểu” chép như sau:
“Bắt đầu khai
hội từ buổi sáng qua chính trưa tan hội. Tên Hội chỉ người trong hội biết (a)
không lập sổ sách, không biên chép họ tên, chương trình kế hoạch chỉ miệng trao
lòng nhớ mà thôi. Đặt Kỳ Ngoại Hầu (Cường Để –tg) làm hội chủ, hễ lúc nào xưng
hô chỉ gọi bằng ông chủ, cấm không được hở chữ “Hội” ra. Hội viên trọng yếu lúc
đó có những người như Nguyễn Hàm, Phan Bội Châu, Trịnh Hiền. Lê Vũ, Đặng Tử
Kính, Đặng Thái Thân và các người khác nữa.
(Trong phần ghi chú (a) ở
trên, tác giả ghi rằng theo cuốn “Tự Phán” cũng chính của Phan Bội Châu viết thì
“tên hội là Duy Tân Hội mà chương trình mãi đến năm 1906 mới được thảo ra thành
văn và in vài trăm bản để phổ biến. Chương trình đến tháng 10 năm Tân Hợi (1911)
thì tuyên bố thủ tiêu và tên hội đổi thành Việt Nam Quang Phục Hội)
(Phan bội
Châu Niên Biểu- trang 37)
Xem thế, cái tinh thần chống Pháp của dân ta
lúc bấy giờ khá cực đoan – rõ nhất là trong phong trào “Bình Tây Sát Tả” – thì
việc dựng nên trường Quốc Học hồi đó cũng như việc theo học trường nầy đều bị
dân chúng lên án là theo Tây, là phản triều đình, phản quốc cả.
Sách “Hồ
Chí Minh, Con người và Huyền thoại” của Chánh Đạo viết:
“Những người tốt
nghiệp các khoa thi Hương, thi Hội phải qua một giai đoạn huấn luyện tiếng Pháp
và quốc ngữ trong khi chờ đợi được bổ nhậm. Đi tiên phong trong chiến dịch
chuyển tiếp nầy, dĩ nhiên, là kinh đô Huế. Năm 1896, người Pháp thiết lập trường
Quốc Học để dạy dỗ con cháu các hoàng tử, tôn thất, ấm tử các quan lớn, và một
số “hậu bổ” (Tức các Tiến sĩ, Phó Bảng hoặc Cử Nhân đang chờ bổ nhậm.”
(Hồ
Chí Minh, Con người và Huyền thoại- trang 78)
Theo cách “tuyển sinh” như
trên thì Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân phụ ông Hồ Chí Minh – phải học trường
hậu bổ, sau khi ông đậu Phó Bảng năm Canh Tý (1901) “nhưng chẳng hiểu tại sao
Huy không được xếp vào hàng “hậu bổ”và nhập học trường Quốc Học như bạn đồng
khoa Phan Chu Trinh. Mãi tới cuối năm 1904, Sắc mới được một chức quan nhỏ ở Bộ
Lễ.
(Sđd- trang 48)
Tuy nhiên, con trai lớn của Sắc, là Khiêm, anh
của Hồ Chí Minh, theo sách đã dẫn, lại được “đặc cách” theo học trường Quốc Học
vì là ấm sinh, mặc dù theo điều kiện nhập học như nói ở trên phải là ấm sinh con
quan lớn mới nhập học được. Bấy giờ, Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ ông Khiêm chỉ mới
làm một chức quan nhỏ ở Bộ Lễ.
Anh em ông ông Hồ Chí Minh chẳng đỗ đạt
bằng gì cả. Ngay cả bằng yếu lược (tốt nghiệp lớp 3) để có thể xin vào trường
Quốc Học, anh em ông cũng không có nốt. Còn thi theo lệ xưa, thì mãi tới 1916 ở
Huế mới là khoa thi cuối cùng.
Tôi có đặt vấn đề nầy với Ông Lê Tùng
Minh, Phó Tiến Sĩ Sử Học, thì ông cũng đoán – chỉ đoán mà thôi – có thể nhờ thế
lực ông Hồ Sĩ Tạo – mà Hồ Chí Minh có được sự đặc cách ấy. Theo tài liệu mới
phát hiện gần đây, Ông Hồ Sĩ Tạo chính là cha ruột của ông Nguyễn Sinh Sắc. Cũng
lý do đó, có người cho rằng, khi đổi từ họ Nguyễn (Nguyễn Tất Thành) ra họ Hồ
(Hồ Chí Minh), ông Hồ muốn trở lại với cái họ gốc của ông.
Năm 1911,
trường Hậu Bổ mới được thành lập ở Huế, có thể việc tuyển sinh dễ hơn, nhưng lúc
đó, sau khi cha bị cách chức năm 1908, ông Hồ Chí Minh đã lưu lạc vào Nam và qua
Pháp rồi.
Nói chung, dù có sợ bị dân chúng chê trách là theo Tây hay
không, dù tập ấm con quan hay có bằng cấp nầy kia, xem ra không có cách nào Ông
Hồ Chí Minh được theo học ở Trường Quốc Học cả.
Về việc mở Trường Quốc
Học:
Sau này, tình thế đổi thay, việc canh tân nước nhà theo các nước Tây
phương là điều bắt buộc nên người ta mới nhớ công lao ông Ngô Đình Khả là người
có công mở ra trường Quốc Học. Tuy nhiên, hồi đó, ông Ngô Đình Khả mở ra ngôi
trường đó là vì lý do gì?
Từ chức “Thông Sự” rồi lên “Trưởng Phòng Thông
Sự” ở Tòa Khâm Sứ Huế, Ngô Đình Khả được chuyển qua ngạch quan lại Nam Triều,
đời Thành Thái, ông lên tới chức Thượng Thư Bộ Lễ (Dư luận Huế trước đây cũng
cho rằng những người xuất thân bên tòa Khâm Sứ qua làm quan Nam Triều thường
nhận nhiệm vụ do Pháp giao phó là kiểm soát và kềm kẹp Nam Triều). Vì chống lại
việc Pháp đày vua Thành Thái (Đày vua không Khả), con đường hoạn lộ của ông Ngô
Đình Khả đi xuống từ khi vua Thành Thái bị truất ngôi. Như thế, xem ra ông Ngô
Đình Khả có tư cách cao hơn ông Diệp Văn Cương, gốc miền Nam, cũng là thông ngôn
được Pháp phái qua làm việc với Nam Triều. Người ta có thể nói ông Ngô Đình Khả
lập ra trường Quốc Học để đào tạo một lớp quan lại có khả năng phục vụ cho chính
phủ Bảo Hộ, nhưng ai lại có thể phủ nhận điều ông là người biết nhìn xa trông
rộng, nhất là khi còn trẻ, ông đã được các cha cố đưa qua học ở Pénang (Mã Lai).
Dù Pénang cũng là một thuộc địa, nhưng những chuyến đi xa khiến ông có thể có
được nhãn quan xa hơn những người chỉ quanh quẩn trong nước? Dù theo đạo Thiên
Chúa, được du học, qua đó, ông đã làm việc cho Pháp từ rất sớm, nhưng với việc
chống lại việc đày vua Thành Thái, ai dám bảo ông là người không có lòng ái
quốc, khiến cho người Huế có câu “Đày vua không Khả” để ca ngợi ông?!
Tuy
nhiên, nếu như người Huế và đám quan lại triều đình hồi bấy giờ có nhãn quan
“nhìn xa trông rộng” như ông Ngô Đình Khả, biết “Duy Tân” để nước nhà có thể
phục hồi sức mạnh mà giành độc lập, hay biết chạy “theo thời thế” để ra làm quan
với giặc Pháp, mở trường dạy tiếng Pháp và quốc ngữ, thì mãi đến đầu thế kỷ 20,
ở Huế mới có trường Pháp Nam và học sinh học chưa quá bậc tiểu học.
Cũng
theo sách nói trên của ông Chính Đạo, “Tài liệu văn khố Pháp về An-Nam còn sót
lại ở Aix-en Provence cho biết một học sinh tên Nguyễn Sinh Côn, gốc Nghệ An,
được đặc ân vào trường Quốc Học Huế từ niên khóa 1908-09. Trò Côn nầy trước đó
đã học trường Pháp Nam Thừa Thiên.”
Có thể đây là tia sáng cần soi lại
cho kỹ. Cách viết chữ quốc ngữ hồi bấy giờ chưa thống nhất, thường chịu ảnh
hưởng cách viết của các cha cố viết chữ quốc ngữ, nhất là hay dùng chữ K thay
cho chữ C. Chúng ta đã thấy Hồ Chí Minh viết “Đường Kách Mệnh” khi ông còn ở
Quảng Châu, và tên ông Lê Bá Khanh và Lê Bá Kông khi hai ông nầy theo học ở Hồng
Kông (*). Do đó, cái tên Nguyễn Sinh Cung có viết thành tên Nguyễn Sinh Côn cũng
không có gì lạ. Tên Côn cũng không phải là tên hiếm có trong số dân chúng Việt
Nam. Tiếng địa phương, còn gọi Cung bằng Cuông để tránh “phạm húy” – tên một
người lớn tuổi, có danh tiếng ở trong làng chẳng hạn. “Kỵ tên” là một phong tục
rất phổ biến của người Việt.
Có thể ông Hồ Chí Minh đã được đặc cách vào
học Trường Quốc Học, nhưng cũng ngay năm ấy, Hồ Chí Minh bỏ học vì thân phụ ông
bị cách chức. Vì gia biến, ông phải bỏ học và lưu lạc vào Nam.
Nói chung,
Hồ Chí Minh có thể chưa bao giờ là học sinh trường Quốc Học, hoặc có thể có một
thời gian rất ngắn, ông ta học ở đó. Thời gian học ấy quá ngắn ngủi; hoặc tuy đã
có tên nhưng chưa kịp đi học thì đành bỏ vì gia biến, nên chưa bao giờ Hồ Chí
Minh tự nhận ông có học Trường Quốc Học để trường nầy có thể đào tạo ông trở
thành một nhân tài hữu ích cho đất nước, như danh tiếng ngôi trường đã có
vậy.
Điều đó cũng không chắc đúng. Một người như ông Hồ Chí Minh, có thể
ông không cần cái hư danh ấy. Điều quan trọng hơn, thời gian ấy, vào học Trường
Quốc Học là học chữ Tây, ra làm quan với Tây, là theo Tây. Khi đã là một người
biết lợi dụng chữ yêu nước, một “Nguyễn Ái Quốc”, chống Pháp giành độc lập, ông
muốn tránh cái tiếng xấu theo Tây nên đã dấu đi câu chuyện ông có theo học
Trường Quốc Học vào hồi cuối thập niên 1910, cũng như ông đã dấu việc ông xin
vào học Trường Thuộc Địa vậy.
Riêng về đám ong kiến bu quanh Hồ Chí
Minh, chẳng biết mô tê gì cứ phịa bừa ra là ông ta có học Trường Quốc Học. Họ
không biết rằng đám sĩ tử vào học Quốc Học hồi cuối thập niên 1890 và thập niên
1910 so với đám học sinh vào trường Quốc Học sau khi dân ta đã thức tỉnh nhờ
Phong Trào Duy Tân, xét về mặt tinh thần, họ khác nhau rất xa./
Tuệ Chương (hoànglonghải)
(*) Xin
xem truyện ngắn “Nhà Cách Mạng” cùng tác giả, nói về việc đổi tên trường
nầy.
(*) Những người già ở Huế, thường dùng chữ “a” thay thế cho chữ “i”
trong các danh từ sau đây: Học chánh thay vì Học chính, Chánh phủ thay vì Chính
phủ, Học sanh thay vì Học sinh. Cách phát âm như thế còn biểu lộ tính bảo thủ
của họ.
(*) Thân phụ hai ông nầy là cụ Lê-Đức Thoan, làm tài xế xe lửa
theo đường Hà Nội-Lào Kay và thường giúp đỡ các cha cố khi họ qua lại theo đường
từ Hồng Kông, qua Quảng Châu mà xuống Bắc Việt Nam. Qua sự quen biết đó, ông Lê
Đức Thoan đã gởi hai con trai của ông theo học ở Hồng Kông.