Cuốn sách vào dịp kỷ niệm 30 năm tị nạn 

Nguoi Viet - Friday, April 15, 2005 - Ngô Vũ 

Những cuộc thương lượng hòa bình Việt Nam

(Phía Việt Nam Cộng Hòa)

Người điểm sách: Ngô Vũ

Ông Nguyễn Phú Ðức là một nhà trí thức và là một khoa bảng trong ngành luật lúc còn rất trẻ trước khi giữ một vai trò hết sức quan trọng trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa: Phụ tá cho Tổng Thống Thiệu về sách lược đối ngoại. Có học vị tiến sĩ luật khoa của Trường Ðại Học Hà Nội năm 1953 sau khi hai lần được trao giải thưởng “Laureat au Concours Genéral de la Faculté” năm 1949 và 1950, một điều hiếm thấy trong hệ thống pháp luật của Pháp, chuyên về Luật Quốc Tế. Ngoài ra ông còn đậu tiến sĩ về Luật Học tại trường luật của Viện Ðại Học Harvard sau khi hoàn tất một luận án rất xuất sắc nhan đề “Luật Quốc Tế tại Pháp và Hệ Thống Luật Pháp Hoa Kỳ”.

Giáo sư Nguyễn Phú Ðức dạy luật quốc tế cho Ðại Học Luật Khoa Saigon và Ðại học Luật khoa Ðà Lạt trong thập niên 60. Sau 30/4/1975, ông dạy luật tại trường Cao Ðẳng Kinh Tế và Thương Mại và đồng thời là Giám Ðốc Viện Nghiên Cứu Luật Thương Mại của Pháp.

Năm 1964-1965, giáo sư Nguyễn Phú Ðức là quan sát viên thường trực của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại Liên Hiệp Quốc. Trở về nước, ông trở thành Phụ Tá Ðặc Biệt Về Ngoại Vụ của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa từ 1966 cho đến 1974. Với vai trò phụ tá cho tổng thống về ngoại vụ, giáo sư Nguyễn Phú Ðức đã tham dự tất cả những cuộc thương lượng ở cấp cao nhất giữa Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ qua hai chính phủ hai đời tổng thống: Johnson và Nixon.

Vào tháng 10 và tháng 11 năm 1968, giáo sư Nguyễn Phú Ðức đã ngồi bên cạnh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong những cuộc thương lượng căng thẳng (với Mỹ) về việc tham dự hội đàm Paris trước khi có cuộc bầu cử Tổng Thống tại Hoa Kỳ.

Trong những giai đoạn gay go nhất, với tư cách là Ðặc Sứ của Việt Nam Cộng Hòa, giáo sư Nguyễn Phú Ðức đã tới Washington vào Tháng 11 năm 1972 để thương lượng trực tiếp với Tổng Thống Nixon về giai đoạn cuối của cuộc dàn xếp cho việc ký kết bản Hiệp Ðịnh Paris vào Tháng Giêng năm 1973.

Những điều gì đã được nói ra trong các cuộc thương lượng chính là chất liệu để tác giả Nguyễn Phú Ðức viết cuốn hồi ức nhan đề “The Viet-Nam Peace Negotiations, Saigon's Side of The Story”. Sách được biên tập bởi tiến sĩ Arthur J. Dommen, một cựu văn phòng trưởng của hãng thông tấn UPI tại Việt Nam, rồi sau đó tại Hồng Kông cũng như văn phòng trưởng cho tờ Los Angeles Times ở Tokyo và New Delhi. Ngoài ra, người ký giả này cũng có thời gian săn tin chung quanh cuộc hòa đàm ở Paris vào năm 1968. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ báo chí vào năm 1975, ông viết rất nhiều tác phẩm liên quan đến cuộc chiến Việt Nam, tình hình Lào và Căm Bốt: “Between Two Fires”, “The Unheard Voices of Viet-Nam (1970)”, “Conflict in Laos”, “The Politics of Neutralization” (1964 và tái bản 1971), “Laos Keystone of Indochina (1985)”, “The Indochinese Experience of The French and Americans”, “Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Viet-Nam”.

Hồi ức của Giáo sư Nguyễn Phú Ðức do nhà xuất bản “Dalley Book Service” ấn hành năm nay.

Về phần nội dung, với bề dầy của những kinh nghiệm từng trải qua vào giai đoạn nghiêm trọng nhất trong mối liên hệ giữa Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ vào lúc trước và sau khi bản hiệp định Paris Tháng Giêng 1973, tác giả Nguyễn Phú Ðức đã cho thấy một phần những cay đắng của đồng minh Việt Nam Cộng Hòa trước khi người bạn Hoa Kỳ tìm cách tháo chạy khỏi những khó khăn của cuộc chiến Việt Nam. Trong cuốn sách, với những chứng cớ rõ ràng, giáo sư Nguyễn Phúc Ðức đã xác nhận áp lực của Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng Hòa như thế nào để buộc chính phủ của Tổng Thống Thiệu phải ký vào bản hiệp định Paris, một bản hiệp định mà ông cho rằng nó không khác gì một bản văn chỉ với mục đích rút chân của Hoa Kỳ ra khỏi tiền đồn này của thế giới tự do. Trong lời nói đầu của hồi ức “The Viet-Nam Peace Negotiations, Saigon's Side of The Story”, tiến sĩ Nguyễn Phú Ðức đã viết:

“...Tuy nhiên, những cuộc thương lượng (giữa Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa) cho thấy cá tính đặc biệt phức tạp của Richard Nixon. Một mặt, ông ta là người rất khó hiểu và hay thay đổi đối với người phụ tá đặc biệt là Henry Kissinger, người bị ám ảnh bởi tình hình Trung Ðông, nên muốn rút chân ra khỏi Việt Nam bằng bất cứ giá nào, mặt khác, do không còn muốn bị rắc rối về vấn đề Việt Nam nữa nên đã trao cho Cộng Sản Bắc Việt những nhượng bộ đơn phương của chính phủ Mỹ như một biện pháp làm hài lòng những phong trào chống chiến tranh Việt Nam và để đổi lại bằng việc Quốc Hội Mỹ chấp thuận những khoản chi tiêu nhằm bảo vệ Miền Nam Việt Nam trong lúc ông ta thừa biết rằng Quốc Hội Mỹ đã quyết định chấm dứt bất cứ một sự can thiệp nào nữa vào Việt Nam sau khi rút quân Mỹ ra khỏi đây và sau khi đã trao đổi tù binh”.

Hậu quả của hành động rút quân rút chân một cách đột ngột trong một thời gian ngắn: Hoa Kỳ đã đẩy đồng minh Việt Nam Cộng Hòa vào một tình hình vô cùng khó khăn. Tác giả Nguyễn Phú Ðức nhấn mạnh:

“Với Tổng Thống Johnson cũng như Nixon, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn nhấn mạnh tới chủ trương (của Saigon) là nên rút quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam một cách từ từ và trật tự giống như Mỹ đã từng thực hiện điều này tại cuộc chiến Triều Tiên. Trong những cuộc thương lượng mà Johnson khẩn khoản đề nghị song phương với Hà Nội thì chính phủ Việt Nam Cộng Hòa lại thúc giục mở ra cuộc thương lượng trực tiếp giữa Saigon và Hà Nội hầu kết thúc cuộc chiến và tái thống nhất Việt Nam bằng phương tiện hòa bình qua một tiến trình dân chủ sau khi đã bình thường hóa quan hệ giữa Bắc và Nam. Mỹ không hậu thuẫn cho những nỗ lực này của Việt Nam Cộng Hòa bởi vì như vậy sẽ phá hỏng hy vọng viển vông của Washington rằng việc rút lực lượng Mỹ ra khỏi Việt Nam và việc ngưng ném bom Miền Bắc có thể được đưa ra để trao đổi song phương với Hà Nội với mục đích xuống thang xung đột và thành lập một chính phủ liên hiệp tại Miền Nam Việt Nam với sự tham gia của những người Cộng Sản, và đồng thời tạo ra một giai đoạn hợp pháp và hợp lý giữa việc Mỹ bất can dự vào Việt Nam và việc người Cộng Sản chiếm lĩnh được Miền Nam Việt Nam”.

Những cuộc thương thuyết tay ba giữa Mỹ và hai phần Việt Nam-Bắc và Nam Việt Nam-bắt đầu từ Tháng 5-1968 cho tới Tháng Giêng năm 1973 có thể được coi là giai đoạn thương lượng dài nhất lịch sử ngoại giao. Những cuộc thương lượng này được kết thúc bằng việc ký kết Hiệp Ðịnh Paris ngày 27-1-1973, trong đó Mỹ chấp nhận rằng Hà Nội, trước được dán cho cái nhãn là kẻ xâm lăng, có thể “duy trì tất cả quân đội của họ tại Miền Nam Việt Nam, và ngược lại-Mỹ phải rút hết quân đội và mọi loại vũ khí ra khỏi Miền Nam Việt Nam trong vòng 60 ngày. Bên cạnh đó, Mỹ phải cam kết rằng “sẽ không tiếp tục can dự hay can thiệp vào vấn đề nội bộ của Nam Việt Nam” và tình hình này dẫn đến sự thừa nhận rằng Mỹ đã hành động sai lầm trong quá khứ. Những chi tiết này rất quan trọng và được giáo sư Nguyễn Phú Ðức trình bày rất cặn kẽ trong cuốn “The Viet-Nam Peace Negotiations, Saigon's Side of The Story”.

Tuy nhiên, một điều quan trọng hơn trong việc Hoa kỳ bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Hòa là vấn đề tinh thần hay nói rõ hơn là vấn đề luân lý trong sách lược đối ngoại của chính phủ Hoa Kỳ. Chính phủ Mỹ nào thì cũng không thích đưa luân lý vào trong chính sách đối ngoại dù với đồng minh thân thiết nhất, vì người Mỹ vốn thực tế như lời xác nhận của Robert McNamara cựu bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ khi ông viết cuốn “Argument Without End”. Ngày nay, 30 năm sau khi cuộc chiến chấm dứt, nhắc lại điểm này không phải là để kéo lệch một sự kiện lịch sử. Biến cố 30-4-1975 diễn ra nhanh quá khiến nhiều người bàng hoàng và nhiều người dân Miền Nam Việt Nam đã trách cứ Hoa Kỳ về việc tháo chạy, hoặc về thái độ không đàng hoàng của Hoa Kỳ trong việc đối xử với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vào những ngày tháng hấp hối của Miền Nam Việt Nam, nhưng người ta chỉ nói mà ít khi có một lời xác nhận nào của những nhân vật lãnh đạo hay ít nhất những người thiết lập chính sách ở trên thượng tầng quốc gia. Nay một thêm một người trong cuộc, một nhân chứng khả tín ngoài tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng viết một hồi ức dầy như một cuốn tự điển nhan đề “Khi Ðồng Minh Tháo Chạy” để cho vết thương tròn đủ 30 năm mới nói ra một sự thật, nói ra để ôn cố tri tân, nói ra để hiểu những chính phủ Hoa Kỳ và bản chất thật của những chính phủ ấy.

Hơn nữa đây không phải là lần đầu tiên Mỹ bị thua trận. Ðây cũng không phải là lần đầu tiên trong lịch sử, Hoa Kỳ đột nhiên tháo chạy đang lúc sát cánh chiến đấu với đồng minh, nhất là trong lúc chiến trận vẫn diễn ra sau Hiệp Ðịnh Paris, một bản văn mà nhiều nhà quan sát quốc tế vào thời điểm nó được ký kết cho rằng chỉ là tờ giấy tạo thêm cơ hội cho Hà Nội dễ dàng hơn trong việc thôn tính Việt Nam Cộng Hòa.

Trong một đoạn văn quan trọng nhất sau khi nêu ra những bằng chứng về ý định bỏ chạy của Hoa Kỳ, tác giả Nguyễn Phú Ðức viết:

“Sau sự can thiệp thiệp quân sự rộng lớn vào Miền Nam Việt Nam dẫn tới việc Liên Xô trả đũa bằng cách leo thang trợ giúp quân sự cho Cộng Sản Bắc Việt, Hoa kỳ đơn phương rút lui toàn bộ quân lực của họ ra khỏi Miền Nam Việt Nam và để cho Saigon đơn độc đối phó với cuộc xâm lăng khổng lồ của Cộng Sản bắc Việt được trang bị những vũ khí và xe tăng tối tân của Liên Xô. Chưa hết, sau khi rút toàn bộ quân đội về nước, Quốc Hội Hoa Kỳ còn biểu quyết cắt giảm viện trợ kinh tế và quân sự cho Miền Nam Việt Nam, trong khi Cộng Sản Bắc Việt vẫn nhận được sự trợ giúp gấp đôi (từ Liên Xô và Trung Cộng). Vì thế chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi một quân đội Việt Nam Cộng Hòa chống trả rất kiên cường làn sóng đỏ xâm lăng đã bị Cộng Sản Miền Bắc Việt Nam chinh phục vào Tháng Tư năm 1975”. (Trang 11-The Viet-Nam Peace Negotiations, Saigon's Side of The Story)

Trong suốt 450 trang của cuốn hồi ức viết bằng Anh ngữ, tác giả Nguyễn Phú Ðức, vẫn giọng ôn tồn và từ tốn cố hữu của một nhà cựu ngoại giao chuyên nghiệp có nhiều kinh nghiệm, đã cho thấy một điều oái oăm: vào giai đoạn bắt đầu có những cuộc thương lượng hòa bình, Việt Nam Cộng Hòa không những phải đối phó với kẻ thù Cộng Sản mà còn phải đối phó với ngay cả đồng minh Hoa Kỳ của mình nữa. Và kết qủa của các cuộc thương lượng dưới sức ép của Hoa Kỳ thể hiện qua hành động của Tiến Sĩ Kissinger là một bản Hiệp Ðịnh ký kết tại Paris chỉ nhằm phục vụ cho mục tiêu tối thượng của Hoa Kỳ là rút chân ra khỏi Việt Nam cho an toàn mà thôi, còn lại mặc kệ người bạn đồng minh của mình muốn ra sao thì ra.

Dĩ nhiên, người ta chẳng thể trách thái độ rút chạy của Hoa Kỳ mà chỉ nên trách là tại Miền Nam Việt Nam thiếu những nhà lãnh đạo thượng tầng hiểu biết và can đảm nên đã không tiên liệu được những dự phòng khi đồng minh Hoa Kỳ quay lưng lại với mình, dù rằng kế hoạch Việt nam Hóa Chiến Tranh rõ ràng đã lòi cái đuôi của một kế hoạch rút chạy không sạch sẽ và cũng chẳng danh dự gì của Hoa Kỳ.

Ba mươi năm trôi qua, người Việt Nam ở nước ngoài và trong nước đã nuốt biết bao nhiêu tủi hờn vì bài học thực tế của điều được gọi là cuộc chiến đấu chung để ngăn làn sóng đỏ từ phương bắc xuống. Ðiểm tích cực nhất của bài học này đối với chúng ta, những người tị nạn, chính là: không phải mọi chuyện Hoa kỳ đều có thể vượt qua được, hay làm được. Bàn cờ Việt Nam 30 năm trước mới chỉ là hiện trường nho nhỏ của một thứ chính trị bẩn thỉu. Lần mò vào những trang lịch sử chính trị trong quá khứ, chắc chắn chúng ta còn phải đối mặt với những điều buồn thảm hơn khi một chủ thuyết chính trị của Mỹ tan vỡ. Cho nên, chúng ta sẽ còn gặp những thất vọng nữa nếu cứ đinh ninh hay chắc nịch rằng đảng này hoặc đảng kia trong chính quyền Mỹ sẽ vẫn tiếp tục sát cánh chống Cộng với chúng ta.

Cuốn sách còn rất nhiều chi tiết đáng đề cập tới, nhưng do vấn đề tác quyền, chúng tôi chưa thể trích dẫn hết được.

Người điểm sách: Ngô Vũ