Thống kê của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc về con số người tỵ nạn Việt Nam

Bùi Trọng Cường

Dựa theo các thống kê của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, số người tỵ nạn Việt Nam theo đường bộ và đường biển đến được các trại tỵ nạn từ năm 1977 đến 1982 là: 

• Năm 1977 46,871 người 
• Năm 1978 150,398 người 
• Năm 1979 270,882 người 
• Năm 1980 119,402 người 
• Năm 1981 103,168 người 
• Năm 1982 18,849 người”*** 

Nguyễn Văn Canh – VIETNAM UNDER COMMUNISM, 1977-1982 

***Cũng dựa theo thống kê của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc thì từ năm 1975 đến 1995 số lượng thuyền nhân và bộ nhân người Việt đến được các trại tỵ nạn là: 

1975-79 1980-84 1985-89 1990-95 

* Thuyền nhân 311,426 241,995 186,498 56,391 
* Bộ nhân 14,666 11,117 10,467 6,668 

Tổng Cộng 326,092 253,112 196,965 63,059*** 

The State of the World’s Refugees 2000: 50 years of Humanitarian Action – Chapter 4: FLIGHT FROM INDOCHINA 

Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên’.** ** Hình như câu này của Ginetta Sagan. 

Quả thật là như vậy, nhưng những thuyền nhân và bộ nhân đó là ai? 
Họ là những người mà đã ít nhất một lần bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ mồ mả ông bà, tổ tiên để di cư vào Nam năm 54, họ là những người đã có ít nhiều hiểu biết, kinh nghiệm về cộng sản, họ là những người đã may mắn vượt thoát được sau cuộc triệt thoái cao nguyên và miền Trung, họ là thân nhân của những đồng bào không may mắn đã bỏ mình trên đường di tản, họ là ông bà, cha mẹ, vợ con, anh em, thân nhân của những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam. Họ là những người đã bị cộng sản giam cầm trong những trại tập trung, họ là gia đình của những nạn nhân đã bị cộng sản giết chết trong những nhà tù mà chúng đã dùng mỹ từ ‘trại cải tạo’ để đánh lừa cả thế giới. 
Họ cũng là những quân nhân, công chức đủ mọi ngành nghề, cán bộ xây dựng nông thôn, những công nhân, những nông dân, những thương gia, những ngư phủ, những người dân thuộc mọi thành phần trong xã hội của miên Nam, tóm lại họ là những người muốn ‘chối bỏ chế độ cộng sản’. Ðó là lý do mà làn sóng người bỏ nước ra đi tỵ nạn đã không chấm dứt trong một hay vài ba năm mà đã kéo dài cho đến hơn hai mươi năm. 
Họ ra đi mà không biết mình đi đâu, sẽ đến đâu; đa số không biết gì về đại dương cùng những nguy hiểm của những chuyến hải hành cũng như không biết gì về những khó khăn khác đang chờ đợi họ. Ðó là lý do mà có lúc người ta đã nói “ nếu có ba người vượt biên thì chỉ có một người đến bến an toàn, một người chết trên biển vì bảo tố, đói khát và hải tặc và một người sẽ bị bắt lại và đi tù”. 

Sau đây là vài trích đoạn các tác phẩm của một số tác giả viết về kiếp sống tỵ nạn. 

*** "Người Việt Nam chỉ ra đi trong thế cùng, không còn cách nào có thể sinh sống tại quê hương của mình. Đây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại chống lại chế độ cộng sản Hà Nội bằng chính mạng sống của mình. Trong số nầy, rất nhiều người mang hoài bảo sẽ có một ngày trở về quang phục quê hương. Số người tử nạn trên bước đường vượt biên không thể thống kê chính xác được. Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400.000 đến 500.000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết. 
Các điểm sau đây cần lưu ý: Cuộc vượt biên năm 1975 là cuộc xuất ngoại vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam từ khi lập quốc cho đến nay. Đây là một sự kiện hoàn toàn bất ngờ đối với Nam Việt, Bắc Việt, Hoa Kỳ và cả thế giới. Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế. Thời gian phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến 1975. Tổng số người rời bỏ đất nước bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng 3,000,000). Sự vượt biên vĩ đại của dân chúng Việt chứng tỏ dân chúng không muốn hợp tác với nhà cầm quyền CSVN và nêu cao tinh thần yêu chuộng tự do của người Việt. Sự vượt biên ào ạt bất chấp mạng sống của người Việt đã làm rúng động lương tâm nhân loại, và đã phơi trần bản chất độc tài chế độ CSVN trước công luận thế giới. Sự kiện nầy làm hoen ố hình ảnh CSVN, và luôn cả hình ảnh cộng sản quốc tế. Phải chăng chính vì sự kiện nầy mà nhân dân thế giới thêm chán ghét cộng sản và từ đó đã giúp đỡ thúc đẩy các nước Đông Âu gấp rút ly khai với chủ trương cộng sản, đưa đến sự sụp đổ nhanh chóng của khối cộng sản Đông Âu và Liên Xô vào các năm 1990,1991?"*** 
Trần Gia Phụng 

***‘‘Bước vào đầu thế kỷ 21, nước ta vẫn là một trong các nước chậm tiến trên thế giới, mặc dầu có sẵn tiềm năng chỉ vì những người giữ trọng trách đã phạm nhiều lầm lỗi. Những thảm trạng xẩy ra trong hơn nửa thế kỷ vứa qua cần phải được ghi nhớ, trong đó hai sự kiện gần nhất là việc nhà cầm quyền cộng sản giam cầm công dân vô tội trong tù cải tạo và việc người dân vượt biên trốn thoát ra ngoại quốc trong những điều kiện bất trắc đầy nguy hiểm. Cưỡng bức giam người trong trại tù tập trung, tập đoàn cộng sản đã vi phạm tội ác, phung phí năng lực quốc gia để phục vụ cho mục tiêu đảng phái. Không chịu thú nhận rằng chính sách cộng sản tàn bạo là nguyên nhân việc người dân trốn thoát bỏ nước ra đi, họ còn lợi dụng cơ hội cướp đoạt tài sản, thu vàng bán bãi, mặc cho tài năng quốc gia thất thoát ra ngoài và sinh mạng chết oan trong lòng biển cả. ’’ *** 
Phạm Hữu Trác – VÀNG MÁU và NƯỚC MẮT 


***Trong 2 năm qua, nhất là từ tháng 9 năm 1978, làn sóng người tị nạn từ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới được thống nhất gần đây, tràn ngập các trại tị nạn Đông Nam Á. Hàng trăm ngàn người Việt Nam khác, đã bị các viên chức chính quyền Hà Nội bắt buộc ra đi trên những chiếc tàu không thể đi biển được, và đã biến mất trên Biển Đông đầy bất trắc. Ở một số bờ biển Thái Lan, các ngư dân đã phải quay tàu về đất liền khi kinh hoàng chứng kiến một phần thi thể của người vượt biển vướng vào lưới. 

Vì sao quá nhiều người liều mạng bỏ trốn khỏi Việt Nam? Ta có thể tìm thấy câu trả lời khá dễ dàng trong các chính sách hậu chiến đã được áp dụng mà một cựu đảng viên cộng sản Bắc Việt tóm tắt như sau: "tiêu diệt các thế lực thù nghịch: trừng trị những kẻ bù nhìn, đánh bại giới tư bản, đánh đuổi người Trung Hoa." 
Dưới đây, dựa vào những cuộc phỏng vấn người tỵ nạn, là những dữ kiện đầy kinh hoàng về tội ác của Hà nội 'liquid Auschwitz' có thể sánh được với sự khủng khiếp của Hitler trong việc diệt chủng dân Do Thái.*** 
Anthony Paul - Why they flee their homeland - Reader's Digest December 1979 

***Hiện tượng thuyền nhân đã phản ảnh được những sự đau khổ của những người phải trốn chạy khỏi quê hương mình vì lý do này hay lý do khác. Họ không phải chỉ kín đáo đi từ bên này sang bên kia biên giới, chờ đợi cơ hội quay về khi mọi chuyện đã trở lại bình thường hay theo ý họ mong muốn. Họ ra đi, không hề biết trước mình sẽ đi đâu, đến đâu, không có viễn ảnh hồi hương, và chịu rủi ro bị chết đuối, hay chết vì tật bệnh, vì hải tặc ngoài khơi. Họ hầu như không biết số phận mình sẽ ra sao. Bất kể ra đi vì ý định riêng, vì là nạn nhân của những biến cố lịch sử, hay vì sự hà khắc do bất đồng trong những quan điểm chính trị, những thuyền nhân này đang phải đang tâm cắt bỏ những ràng buộc với quê hương và đồng bào nơi chôn nhau cắt rốn của họ.*** 
Bruce Grant - The boat people: An 'Age' Investigation 


***Những thuyền nhân đơn thuần chỉ có ác cảm với những biện pháp kiểm soát áp đặt của chính quyền, mối ác cảm đã mãnh liệt đến độ họ phải đi đến một quyết định thật khác thường. Họ là những người, ngay cả trong những giấc mơ hoang đường nhất trước năm 1975, cũng không bao giờ muốn rời bỏ Việt Nam. Trớ trêu thay, lịch sử đã đảo lộn, đã thay đổi cuộc đời ho, vượt xa sức họ tưởng tượng, đến mức họ phải quyết định bỏ lại sau lưng tất cả những người và những gì yêu quý, chấp nhận liều mạng sống của mình cũng như chấp nhận mọi nỗi kinh hoàng của một tương lai bất định, để rời khỏi Việt Nam. 

Điều gì đã xui khiến một người quyết định tương lai của đời mình mà lại không theo những lề lối thông thường? Để hiểu rõ lý do tại sao những thuyền nhân bỏ quê hương ra đi, chúng ta cần biết về những gì họ cảm thấy đã mất, những thứ họ đã thiết tha yêu quý. Để hiểu được những đau thương hôm nay, ta cần biết những gì đã xẩy ra trước đó.*** 
Lesleyanne Hawthorne - Refugee - The Vietnamese Experience 


***Những 'thuyền nhân', danh từ thế giới gán cho họ, thường phải chịu nhiều rủi ro lớn lao, từ rất lâu trước khi đặt được chân xuống tàu. Trong khi cố gắng tìm cách để thoát được công an và lính biên phòng, họ đã chấp nhận rủi ro bị bắn, hoặc nhẹ nhất là, bị bắt lại và bỏ tù. Những ai may mắn xuống được tàu phải ra đi trên các thuyền đánh cá mỏng manh đầy ắp người không thích hợp để đi vượt đại dương. Thường thường, họ nhắm hướng đi đến Thái Lan hoặc Mã Lai, nhưng lại cập bến ở đâu đó giữa Hồng Kông và Úc Đại Lợi. Biển cả cũng cướp đi một số người mà không ai biết được là bao nhiêu. 

Tuy vậy, cuối cùng thì câu chuyện về những người tị nạn Đông Dương là câu chuyện về những người bị từ chối. Trước tiên và đau đớn nhất, họ bị chính quyền của chính nước họ khước từ. Họ cũng nhiều lần bị cự tuyệt bởi các quốc gia lân bang nơi họ đến xin tạm trú, và bị từ chối ít nhất là vào lúc đầu bởi các nước Tây Phương và Nhật Bản, những quốc gia duy nhất có khả năng và tấm lòng cứu vớt thuyền nhân.*** 
Barry Wain - The refused: The Agony of The Indochina Refugees 

***"Chúng tôi cần gạo và thực phẩm. Trong những ngày này, chúng tôi không có tiền để mua thêm thức ăn. Chúng tôi không được phép có công việc làm . Nếu thực phẩm được phát trễ, chúng tôi chỉ việc nhịn đói. Chúng tôi có rất ít nước uống, vì đang là mùa khô. Tôi nghĩ nếu mọi chuyện không thay đổi, chúng tôi sẽ chết hết." 
Refugee: Thailand, 1978 

"Trong bệnh viện, một người đàn ông và đứa con trai đang khóc trên lán. Tàu họ đã đến đêm hôm trước, nhưng bị lật úp. Người vợ, người mẹ đã chết đuối." 
Delegates of 'Society of Friends': Malaysia, 1979 


"Các lính tuần tra phát hiện có những bao ni-lông xoáy tròn trên mặt nước. Họ chuẩn bị tăng tốc độ vọt đi tiếp, thì khám phá ra rằng, các bao nhựa này đã được thổi phồng, căng lên, để chở hai em bé sơ sinh, dĩ nhiên là chưa biết bơi. Người mẹ đang ra sức đẩy chúng. Người cha đã không may chết đuối trước đó." 
Report: Mekong River Crossing, 1978 

Người mẹ của một em trai 14 tuổi kể lại, tàu của cô bị hải tặc từ một tàu cào của Thái Lan nhảy sang. "Tôi biết bọn chúng sẽ làm gì", cô vừa kể vừa khóc nức nở. "Tôi van xin chúng đừng làm gì trước mặt con trai tôi. Vì thế, chúng đưa tôi vào cabin tàu, rồi 7 tên cưỡng hiếp tôi trong đó." 
Refugee : Malaysia, 1979 

Anh Huỳnh Văn Trân, 34 tuổi, ngồi trên 1 băng ghế gỗ ở trại tị nạn Songkhla ở 1 bờ biển cực nam của Thái Lan, thuật lại câu chuyện của mình lần thứ ba. 

Anh ra đi trên một chiếc tàu gồm 62 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Họ may mắn gặp thời tiết và gió thuận lợi, và không bị rắc rối gì với máy tàu. Vào ngày thứ 5 trên biển, một chiếc tàu mã lực lớn dài 15 mét đến cặp sát mạn tàu anh. Có 12 người đàn ông trên thuyền, tất cả đều trang bị vũ khí đầy đủ. Trước hết, chúng ra lệnh cho hai người trong số phụ nữ sang tàu chúng. Một trong hai người này là vợ anh Huỳnh Văn Trân. Cô này bị ghì chặt xuống, súng trường kê sát thái dương, và bị ra lệnh không được kêu la. Cô bị chúng cưỡng hiếp. Bọn hải tặc sau đó nhảy qua tàu tị nạn, cướp đi mọi thứ có giá trị, bắn một người đàn ông còn do dự khi chúng cướp. Sau đó chúng tăng tốc độ phóng đi với các món của cải chiếm được, nhưng thình lình quay ngoắt lại. Vẫn giữ nguyên tốc độ tối đa, chúng nhắm thẳng vào tàu tị nạn và đâm mạnh. Chiếc tàu hải tặc đã lập đi lập lại hành động này trong khi nhóm người tị nạn đang hốt hoảng ngoi ngóp giữa biển khơi. Bọn cướp biển cố ý lái tàu cán qua vô số chiếc đầu đang nhấp nhô, có lẽ vì không muốn để sót lại nhân chứng nào. Khi vợ anh Trân còn đang chới với trên mặt nước, với đứa con trai mới lên 3 đang níu chặt cổ mẹ, cả hai đã bị tàu cán qua và chết đuối. 10 người trong số họ sống sót, sau đó được vớt lên và đưa tới Songkhla. 
Toàn thể thính giả đều nín lặng. Đó là một câu chuyện thương tâm hơn những chuyện khác, nhưng hẳn nhiên không phải là ngoại lệ, hiếm có. 
Có rất nhiều tàu tị nạn đã bị hải tặc tấn công nhiều hơn một lần." 
UNHCR: 1979 

Bao nhiêu thuyền nhân đã chết ngoài biển khơi? Không ai biết chắc cả. Nhiều người nói với chúng tôi rằng có lẽ 5% các tàu rời Việt Nam đã bị mất tích, nhưng nhiều người lại cho là có đến 70% tàu không hề đến được bờ. 
Delegates of 'Society of Friends': - Pulau Bidong, 1979*** 
Georgina Ashworth - The boat people and the road people 

Trong vài năm đầu những thuyền tỵ nạn còn được tiếp đón tử tế bởi dân chúng và chính phủ các nước láng giềng nhưng vì làn sóng tỵ nạn ngày càng nhiều nên những niềm nở ban đầu đã bị giảm xuống hoặc tệ hơn đã bị thay bằng thái độ xua đuổi như đã từng xẩy ra ở Thái Lan, Mã Lai. Tầu của người tỵ nạn, khi bị tầu hải quân Mã kéo trở ra hải phận quốc tế có một số đã bị chìm và làm chết oan một số người. Do đó nếu như may mắn không bị bắt lại, thoát được gió bão, không hư máy dọc đường và không gặp hải tặc các thuyền nhân vẫn chưa chắc sẽ đến được các trại tạm cư. Ðó là chưa kể đến những khó khăn về đủ mọi phương tiện từ vệ sinh, y tế, nước uống, thực phẩm…nơi các trại tỵ nạn. Thật ra dùng chữ trại tỵ nạn cho lịch sự vậy thôi chứ vào thời điểm ấy không một quốc gia nào có thể lường được là con số người chạy cộng sản, bỏ nước ra đi sẽ đông đến như vậy. Do đó chẳng có quốc gia nào đã có những sửa soạn để có thể đón tiếp một số lượng người đến quá ào ạt và nhiều đến thế. Trại tỵ nạn đã là những kho xưởng, những trại lính, những chiếc phà cũ, những chiếc phao nổi, những hòn đảo san hô hoặc đảo hoang, nhỏ nằm chơ vơ giữa đại dương. Ðặt được chân trên đất là phải đi tìm cỏ, đốn cây để dựng lều để tạm trú tránh cái nóng ban ngày và cái lạnh ban đêm….Còn nhiều nhiều nữa, kể sao cho hết những cái khổ của kiếp lưu vong. Ðến năm 1988 vì quá mệt mỏi với số người tỵ nạn phải cưu mang trên hơn mười năm, Cao Ủy tỵ nạn và các quốc gia có trại tạm cư đã quyết định áp dụng hệ thống thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của các thuyền nhân nếu họ đến sau ngày 16-6-1988. Quyết định này cũng đã gây ra khá nhiều thảm cảnh rất đáng thương như được kể lại dưới đây. 

Sau đây là vài trích đoạn về những thảm cảnh đầy nước mắt đó. 

***“0 giờ ngày 16-6-1988 mở đầu một định mệnh khác cho những người Việt Nam vượt biển đến Hồng Kông. Kể từ ngày này họ sẽ bị đối xử như những người nhập cảnh bất hợp pháp và phải chờ chính phủ thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị, trước khi được cứu xét cho đi định cư ở nước thứ ba. Thời điểm phủ nhận ý nghĩa ban đầu sự ra đi của người vượt biển. Thời điểm đánh đổ mọi luận cứ sắp sẵn về quyền tỵ nạn, về quyền đi tìm chỗ trú, và đồng thời che dấu luôn sự bất lực của con người trước thảm cảnh của đồng loại, sự hấp hối của lương tri trước nỗi khổ của những cuộc khởi hành muộn. Như một tấm màng nhện giăng ra chận bắt những cuộc đời lưu lạc, thời điểm 16-6 dựng nên những trại giam khổng lồ trên khắp thuộc địa Hồng Kông, ghi thêm một thảm cảnh thời đại.”*** 
Lê Ðại Lãng - NƯỚC MẮT TRONG TIM 


***"Ngày 20/5/1994, Lê Xuân Thọ, 28 tuổi, tự rạch bụng mình và tự thiêu. Anh sau đó đã chết vì phỏng nặng. 

Phạm Văn Châu, một cựu quân nhân Việt Nam, tự thiêu ở trại tị nạn Galang, Nam Dương ngày 26/4/1994. Hai ngày sau thì anh qua đời. 

Ngày 12/4/1992, Nguyễn Văn Quang, một hạ sĩ thuộc Tiểu đoàn 1 Không vận của Nam Việt Nam, đã treo cổ tự tử ở trại Galang, Nam Dương, sau khi bị khước từ tư cách tị nạn chính trị, và đơn kháng cáo của anh cũng bị bác. Anh mất đi để lại 1 góa phụ và 3 đứa bé mồ côi cha còn nhỏ dại. 

Ngày 30/8/1991, tại trại Galang, Nam Dương: cô Trịnh Kim Hương, 28 tuổi, tự thiêu sau khi bị phủ nhận tư cách tị nạn chính trị. 

Hoàng Thị Thu Cúc, 26 tuổi, một trong số vài người sống sót khi vượt biên khỏi Việt Nam. Cha cô là lãnh tụ của một chính đảng chống cộng và đã chết trong 'trại cải tạo' của cộng sản. Gia đình cô bị trục xuất khỏi nhà, tới một trại lao động cưỡng bách. Bản thân Cúc cũng bị đuổi khỏi trường vì 'lý lịch gia đình xấu'. Bất kể những sự kiện trên, cô vẫn bị khước từ quy chế tị nạn. Tháng 12/1992, khi đơn kháng cáo của cô cũng bị bác bỏ, cô đã treo cổ tự tử, để lại bốn anh em trai ở trại Sikiew, Thái Lan. 

Vụ tự sát của Lâm Văn Hoàng, 22 tuổi, đã gây nên một cuộc biểu tình phản đối ở trại tị nạn Pulau Bidong, Mã Lai. Anh đã lao mình từ vách đá xuống biển, sau khi bị từ chối tư cách tị nạn chính trị vào tháng giêng năm 1991. 

Trần Văn Minh, cựu Trung úy, treo cổ tự tử ngày 10/10/1992. Ông được cấp quy chế tị nạn chính trị, nhưng người con trai Tr?n Minh Khôi, 18 tuổi, đã bị rớt 'thanh lọc'. Vì Khôi không có 3.000 đôla Mỹ mà các viên chức duyệt xét đòi hỏi, đơn kháng cáo của anh sau đó cũng bị bác. 

Ngày 8/12/1993, Trần Anh Dung từ trần khi lên cơn suyễn, sau khi Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc (LHQ) đóng cửa trạm y tế duy nhất trong trại tị nạn. 

Tháng 2/1993, Lưu Thị Hồng Hạnh, một em gái 16 tuổi không người thân thích, đã tự thiêu sau khi Cao ủy tị nạn LHQ rút lại quy chế tị nạn của em. 

"Chị thương, hôm nay em đã bị từ chối tư cách tị nạn chính trị. Rạng sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các cháu. 
(Thư tuyệt mệnh của anh Nguyễn Văn Hai, 27 tuổi, viết cho chị, vào buổi tối trước khi tự tử trong Trại cấm Whitehead, Hồng Kông, ngày 16/2/1990.) 

"Bản tường trình của luật sư đã khiến tôi phải sống trong lo sợ. Nó đã dần dần đẩy tôi vào chỗ chết." 
(Trịnh Anh Huy, 20 tuổi, tự thiêu ngay trước văn phòng của Cao ủy tị nạn LHQ ở Galang, Nam Dương, ngày 27/8/1992.) 

"Tôi chết đi không phải vì tuyệt vọng, mà vì tôi muốn đem lại niềm hy vọng và sự sống cho nhiều người khác." 
(Vài hàng tuyệt mệnh của Nguyễn Ngọc Dung, 25 tuổi. Ngày 3/5/1993, anh đã tự đâm vào tim và chết tức khắc trước văn phòng Cao ủy tị nạn LHQ tại trại Sungei Besi, Mã Lai.)*** 
Vietnamese Boat People - A cry to humanity 

KHÓC NGƯỜI ÐÁY BIỂN 
(Viết để khóc cho mình và cho những thuyền nhân kém may mắn trên đường vượt biển tìm Tự Do sau 1975) 

Tháng Tư ra biển khóc người 
Oan hồn hỡi, đáy trùng khơi, xin về. 
Biển chiều vàng ánh tà huy 
Dài tay sóng níu bước đi vô hồn 
Ðứng trên bờ đá cô đơn 
Khóc người bằng tiếng thơ buồn xót xa 
Ai hay đáy biển là nhà 
Máu pha lệ hận chan hòa đại dương 
Thịt da nát dưới bạo cuồng 
Ngàn trang huyết sử bên đường tử sinh! 
Mắt buồn nhìn sóng biển xanh 
Thấy sương khói vẫn vô tình khói sương 
Mà lòng đòi đoạn đau thương 
Xót người đáy biển đoạn trường chưa nguôi 
Tháng Tư ra biển khóc người 
Hiển linh,chứng giám đôi lời thơ đau 
Tôi viễn xứ, người biển sâu 
Chung hồn lưu lạc, chung sầu quê hương 
Người trên sóng nước trùng dương 
Tôi khung cửa hẹp, gió sương bốn mùa 
Bóc tờ lịch. Lại Tha'ng Tư! 
Ðau tình sông núi làm thơ khóc người 
Người vùi xương trắng biển khơi 
Còn tôi sống kiếp dân Hời vì ai? 

Ngô Minh Hằng[/center] 

Dù sao đi nữa chúng ta vẫn còn phải mang ơn dân chúng và chính phủ của các quốc gia đã giúp chúng ta chỗ tạm cư, cho phép chúng ta được định cư hoặc đã cứu vớt chúng ta khi chúng ta đã tuyệt vọng vì lạc lối, vì hết lương thực hay vì máy tầu đã hỏng mà không còn cách gì để sửa chữa. 
Không có lòng nhân đạo và sự đối xử đầy tình người của đại đa số dân chúng các quốc gia ấy, chúng ta không được như thế này ngày hôm nay. 
Sự thành công của thế hệ thứ hai trong Cộng Ðồng Người Việt Tự Do Hải Ngoại ngày hôm nay chắc chắn sẽ không thể có được nếu không có sự cưu mang của các quốc gia trong Thế Giớ Tự Do. 

Ngày hôm nay sau 30 năm ly hương viết lại một phần nhỏ trong những nỗi khổ đau của dân tộc không phải để đào sâu hận thù mà để cho chúng ta hiểu và ghi nhớ những bài học lịch sử đó. Ðó là bổn phận của chúng ta những chứng nhân của giai đọan đau buồn này. 
30 năm sống lưu vong, lúc nào đa số chúng ta cũng vẫn mong có ngày trở về để góp phần xây dựng cho quê hương bớt lạc hậu, giúp cho dân tộc có được những bước đi căn bản dẫn đến một nền Tự Do, Dân Chủ đích thực mà dân ta chưa bao giờ được hưởng. 

Ðiều này chỉ có thể xảy ra khi người Việt trong và ngoài nước thật tâm muốn xây dựng quê hương, đặt Tổ Quốc lên trên mọi quyền lợi, từ bỏ được chủ thuyết cộng sản ngoại lai đã du nhập và thoát được sự chi phối của các thế lực chính trị quốc tế. 


Viết cho tháng Tư đen 2005 


TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Ashworth Georgina – The Boat People and The Road People – Quartemaine House 1979 

Bich Huyền – The Trail I Will Never Forget - Lối Cũ Chẳng Sao Quên – 2000 

Butler David – The Fall Of Saigon – Simon and Schuster New York 1985 

Cao Văn Viên - Những Ngày Cuối Của Việt nam Cộng Hòa – Vietnam Bibliography 2003 

Clark Marcus – Exit Visa – William Heinemann Australia 1989 

Cộng Ðồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản - Vụ Kiện WJC/UMAS Boston - Nắng Mới Miền Nam 2004 

Dawson Alan – 55 DAYS The Fall Of South Vietnam – Prentice Hall International 1977 

Diễn Ðàn Sự Thật – Red File, 1945-1995 50 Years Of Violations Of Human Rights in Communist Vietnam – 2005 

Ðào Văn Bình - Những Sự Thực Không Thể Chối Bỏ - 1987 

Ðoàn Thêm – Nhà Quê Ra Tỉnh – Cơ Sở Xuất Bản Phạm Quang Khai và Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ 1996 

Dương Hiếu Nghĩa - Nước Việt Nam Cộng Hòa Bị Bức Tử - Vanuxem - La Mort Du Vietnam - Ðại Nam 1997 

Frankum B. Ronald Jr. & Maxner F. Stephen – The Vietnam War for Dummies – Wiley Publishing, Inc 2003 

Grant Bruce – The BOAT PEOPLE: An ‘AGE’ Investigation – Penguin Books 1979 

Hà Sĩ Phu – Ðôi Ðiều Suy Nghĩ Của Một Công Dân – TIN Paris 1993 

Hawthorne Lesleyanne – Refugee The Vietnamese Experience – Oxford University Press 1982 

Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do – VÀNG MÁU và NƯỚC MẮT: Khảo Sát Về Tù Cải Tạo và Vượt Biên Trong Giới Y Sĩ – 2000 

Karnow Stanley – Vietnam A History – Century Publishing London 1983 

Lê Ðại Lãng – Bút Ký Hồng Kông: NƯỚC MẮT TRONG TIM – 1990 

MJS Keys Young Planners P/L – Survey of Vietnamese Refugees – Department of Immigration & Ethnic Affairs – 1983 
Maga P. Timothy – The Complete Idiot’s Guide to The Vietnam War – Alpha Books 2000 

National Refugee Week 1989 – REFUGEES: Who do you think we are? – Queensland Office of Ethnic Affairs 1989 

NSW Refugee Fund Committeee – Hard Evidences of Corruption In Screening Under The Comprehensive Plan Of Action – 1994 

Nguyễn Bá Cẩn - Ðất Nước Tôi – Hòa Hảo Press 2003 

Nguyễn Văn Canh – Vietnam Under Communism, 1975-1982 – Hoover Institution Press Stanford University 1983 

Nguyễn Văn Canh - Cộng Sản Trên Ðất Việt - Kiến Quốc 2003 

Paul Anthony – Why They Flee Their Homeland – Reader’s Digest December 1979 

Phạm Huấn - Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975 - 1987 

Phạm Huấn - Những Uất Hận Trong Cuộc Chiến Mất Nước - 1988 

Phạm Kim Vinh – Chính Nghĩa Lưu Vong Còn Một Chút Này - 1991 

Phan Nhật Nam - Những Chuyện Cần Ðược Kể Lại – 1995 

Phùng Hy - Cuốn Theo Cơn Lốc – 1997 

Refugee Council Of Australia – Vietnamese Boat People In Hong Kong – September 1988 

State of the World’s Refugees 2000: 50 Years of Humanitarian Action- Chapter 4: FLIGHT FROM INDOCHINA 

Support Committee for Refugees from Vietnam – Vietnamese Boat People: A CRY TO HUMANITY - 1994 

Tucker C. Spencer – The Encyclopedia of the Vietnam War – Oxford University Press 1998 

Trần Nhật Kim - Cuộc Chiến Chưa Tàn – 1998 

Trương Như Tảng – A VIETCONG MEMOIR: An Inside Account Of The Vietnam War And Its Aftermath – Vintage Books 1986 

Viviani Nancy – The Long Journey – Melbourne University Press 1984 

Wain Barry – THE REFUSED: The Agony Of The Indochina Refugees – Simon & Schuster 1981 


(Xin cảm ơn BS Bùi Trọng Cường từ Úc châu đã gửi cho BH bài tổng hợp giá trị và xin phép Bác sĩ cho phép BH đưa lên đây để nhiều người chia sẻ, nhất là các bạn trẻ khi biến nạn 30/4/75 xảy ra thì còn nhỏ và các bạn trẻ sinh ra đời sau 1975 hiểu rõ thêm trang sử đau thương của dân tộc VN.)