|
|
|
|
Tăng Tuyết Minh, người vợ Trung Quốc của Nguyễn Ái Quốc Hoàng Tranh Hồ Chí Minh với người vợ Trung Quốc
Tăng Tuyết Minh, đã đăng trên số tháng 11-2001 của tạp chí Ðông Nam Á tung hoành
(Dọc ngang Ðông Nam Á), xuất bản tại Nam Ninh. Tác giả Hoàng Tranh (Huang
Zheng) là nhà sử học, viện phó Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây, tác giả cuốn
Hồ Chí Minh với Trung Quốc (Nhà xuất bản Tân Tinh, Nam Ninh 1990). Bản dịch
của Minh Thắng. Theo thông tin từ Hà Nội, một tạp chí sử học có ý đăng bài
này, nhưng đã bị chặn lại. (Diễn Ðàn ) " Sinh thời
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống độc thân suốt thời gian dài lâu nhưng hoàn toàn
không phải Người suốt đời không lấy vợ. Thực ra, Hồ Chí Minh từng có một giai
đoạn sống trong hôn nhân chính thức. Ðó là vào thời kì những năm 20 đầu thế
kỉ XX khi người tiến hành công tác cách mạng tại Quảng Châu, Trung Quốc. Nói
cụ thể là vào tháng 10 năm 1926, Hồ Chí Minh từng lấy cô gái Quảng Châu Tăng
Tuyết Minh làm vợ, đã cử hành hôn lễ, sau khi cưới đã chung sống với nhau hơn
nửa năm. Vào tháng 5 năm 1927, sau khi rời Quảng Châu, Hồ Chí Minh đã mất
liên lạc với vợ và từ đó không thể gặp lại nữa. Từ đó, đôi tình nhân ấy,
người không bao giờ đi bước nữa, người không một lần nào nữa cưới vợ, mỗi người
một phương trời, đều sống độc thân cho đến khi từ biệt cõi đời này." " Tăng Tuyết
Minh, người vợ Trung Quốc của Hồ Chí Minh, quê ở huyện Mai tỉnh Quảng Ðông,
sinh tháng 10 năm 1905 ở thành phố Quảng Châu. Thân phụ của Tuyết Minh là
Tăng Khai Hoa, thời trẻ một mình đến Ðàn Hương Sơn (Hono-lulu) lúc đầu làm công,
sau buôn bán ; khi tích luỹ được ít vốn liếng, trở về nước tiếp tục buôn bán,
gia cảnh khấm khá, vui vẻ. Người vợ đầu của ông Tăng Khai Hoa họ Phan, sinh
được hai trai một gái. Sau khi bà Phan bị bệnh mất, ông lấy bà vợ kế họ Lương
là người huyện Thuận Ðức sinh được 7 cô con gái nữa. Tăng Tuyết Minh là con
út, bởi vậy những người quen biết Tăng Tuyết Minh thường gọi cô là " cô
Mười ". Khi cô 10 tuổi thì người cha qua đời, để lại một chút bất động
sản. Bà Lương thị cùng Tuyết Minh sống qua ngày nhờ vào tiền thuê nhà, gia
cảnh không được như trước. Năm 1918, mới 13 tuổi, Tuyết Minh đã bắt đầu theo
chị là Tăng Tuyết Thanh, một y sĩ sản khoa, học việc hộ lí và đỡ đẻ. Ðầu năm
1923, người chị ấy đưa Tăng Tuyết Minh đến Phiên Ngu để học Cao đẳng tiểu
học. Nửa năm sau, Tăng Tuyết Thanh chẳng may lìa đời, Tăng Tuyết Minh mất đi
nguồn chu cấp, ngay tháng 7 năm ấy phải vào trường Hộ sinh Quảng Châu học
tập. Tháng 6 năm 1925, Tăng Tuyết Minh tốt nghiệp trường trợ sản, được ông
hiệu trưởng giới thiệu đến trạm y tế La Tú Vân làm nữ hộ sinh. Chính thời
gian này Tăng Tuyết Minh làm quen với Hồ Chí Minh lúc ấy đang tiến hành công
tác cách mạng ở Quảng Châu." " (...)
Tháng 11 năm 1924, Hồ Chí Minh từ Mạc Tư Khoa đến Quảng Châu, lấy tên là Lý Thuỵ,
làm việc tại phòng phiên dịch của cố vấn Borodin, thuộc Hội Lao Liên của Tôn
Trung Sơn, trú ngụ tại nhà hàng của ông Bào tại quảng trường Ðông Hiệu. Sau
những giờ làm công tác phiên dịch, Hồ Chí Minh dành nhiều thì giờ và tâm sức
vào công việc liên kết và tổ chức các chiến sĩ cách mạng Việt Nam, sáng lập
tổ chức cách mạng Việt Nam, huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam trong công
tác. Trong thời gian ấy, những thanh niên cách mạng Việt Nam đến Quảng Châu
trước như Hồ Tùng Mậu, Lâm Ðức Thụ đều trở thành trợ thủ đắc lực cho Người.
Lâm Ðức Thụ cùng người vợ Trung Quốc của ông là Lương Huệ Quần chính là ông
mối bà mối cho cuộc hôn nhân của Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh." " Lâm Ðức
Thụ vốn tên là Nguyễn Công Viễn, người huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, Việt
Nam, sinh năm 1890 (cùng tuổi với Hồ Chí Minh). Hồ Chí Minh cùng với gia đình
Lâm Ðức Thụ có thể nói là chỗ giao hảo nhiều đời. Hai người quen biết nhau từ
thuở thiếu thời, lại cùng chí hướng. Năm 1911, Hồ Chí Minh đến châu Âu tìm
chân lí cách mạng, gần như đồng thời, hưởng ứng lời hiệu triệu của nhà chí sĩ
chống Pháp lão thành Phan Bội Châu, Lâm Ðức Thụ muốn Ðông du qua Nhật, nhưng
khi nổ ra Cách mạng Tân Hợi, Phan Bội Châu tới Trung Quốc, sáng lập Việt Nam
Quang phục hội ở Quảng Châu, Lâm Ðức Thụ theo Phan Bội Châu đến Quảng Châu và
gia nhập hội đó. Ðầu năm 1922, một số thanh niên nhiệt huyết trong Việt Nam
Quang phục hội cảm thấy thất vọng về cánh già bảo thủ nên đã li khai Quang
phục hội để lập ra một đoàn thể cấp tiến hơn là Tâm tâm xã. Sau khi đến Quảng
Châu, Hồ Chí Minh rất nhanh chóng liên hệ được với Tâm tâm xã và quyết định
cải tạo tổ chức này thành một tổ chức cách mạng chân chính của giai cấp vô
sản Việt Nam. Hồ Chí Minh vốn quen biết Lâm Ðức Thụ từ trước nên ở Quảng Châu
Người coi Lâm là cốt cán có thể tin cậy. " Lâm Ðức
Thụ hoạt động ở Quảng Châu một thời gian khá lâu. Ở đây ông đã lấy cô gái Trung
Quốc Lương Huệ Quần làm vợ. Mẹ của Lương Huệ Quần là một thầy thuốc đã mở tại
thành phố Quảng Châu một dịch vụ y tế. Lương Huệ Quần có làm công tác y tá
tại đó. Năm 1925, Tăng Tuyết Minh tốt nghiệp trường Bảo sinh trợ sản, qua sự
giới thiệu của ông hiệu trưởng đã tới cơ sở dịch vụ y tế của mẹ Lương Huệ
Quần làm cô đỡ nên đã nhanh chóng quen biết với Lương Huệ Quần và trở nên thân
thiết. Lương Huệ Quần lớn hơn Tăng Tuyết Minh 3 tuổi nên cô thường gọi là
" chị Quần ", hai cô đối xử với nhau như chị em ruột. " Lâm Ðức
Thụ sau năm 1927 đã từng bước phản bội, li khai hàng ngũ cách mạng Việt Nam
làm không ít điều nguy hại cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nhưng tại thời
điểm mấy năm Hồ Chí Minh mới đến Quảng Châu thì ông ta cũng là một thanh niên
cách mạng hăng hái có triển vọng. Hồ Chí Minh chẳng những được Lâm Ðức Thụ
phối hợp và chi viện trong công tác mà còn được Lâm giúp đỡ cả về mặt kinh
tế. Hồ Chí Minh thậm chí đã đem cả chuyện trăm năm của mình phó thác cho Lâm
Ðức Thụ. Mùa hè năm 1926, Hồ Chí Minh đề xuất với Lâm Ðức Thụ rằng do việc
công quá bận rộn, anh cũng muốn tìm một cô gái Trung Quốc để tiện trong cuộc
sống nơi cư trú có người chăm sóc. Lâm Ðức Thụ cùng với vợ là Lương Huệ Quần
bàn bạc thấy Tăng Tuyết Minh là đối tượng thich hợp bèn giới thiệu cho Tăng
Tuyết Minh và Hồ Chí Minh làm quen với nhau. Hồ Chí Minh sau khi gặp mặt Tăng
Tuyết Minh đã rất có cảm tình với cô gái Quảng Châu có gương mặt trái xoan,
da trắng nõn điềm đạm, đoan trang, thông minh, sáng dạ, vì vậy sau giờ làm
thường hẹn gặp và trò chuyện với cô. Nơi gặp gỡ thường là nhà Lương Huệ Quần.
Cảm tình của đôi bên ngày càng sâu sắc, nhanh chóng đi đến trao đổi về hôn
lễ. Thời gian này Hồ Chí Minh thường đưa Tăng Tuyết Minh đến nhà hàng của ông
Bào để gặp phu nhân họ Bào và tranh thủ ý kiến của bà về việc hôn nhân của
họ. Phu nhân họ Bào nhiệt liệt tán thành việc kết hôn của họ. Thế nhưng bà mẹ
Tăng Tuyết Minh ngay từ đầu không đồng ý cuộc hôn nhân này vì thấy Hồ Chí
Minh là một nhà cách mạng phiêu lưu bạt xứ, ở không định nơi, con gái lấy người
như vậy rồi sẽ khổ đau một đời. Ðúng vào lúc ấy người anh hai của Tăng Tuyết
Minh là Tăng Cẩm Tương, sau một thời gian sang Mỹ học tập đã trở về Quảng
Châu.Anh gặp Hồ Chí Minh, dùng tiếng Anh trò chuyện, thấy Hồ Chí Minh có học
vấn rất tốt, lão luyện và cẩn trọng, lại tâm huyết với sự nghiệp, vì thế anh
đã thuyết phục bà mẹ đồng ý với cuộc hôn nhân này." " Hồ Chí
Minh gặp Tăng Tuyết Minh luôn luôn. Một mặt, cố nhiên, anh thích tính giản
dị, đoan trang, thông minh, chăm chỉ của cô gái ; mặt khác anh cũng cảm thấy
cô còn non nớt, cần phải giác ngộ chân lí cách mạng hơn, hiểu đời hơn nữa và
nâng cao năng lực hoạt động hơn. Vì vậy anh động viên Tuyết Minh thôi việc nữ
hộ sinh ở cơ sở dịch vụ y tế và tham gia học tập ở một lớp huấn luyện vận
động phụ nữ. Lúc ấy Ban phụ vận của Trung ương Quốc dân đảng Trung Quốc do Hà
Hương Nghi chủ trì, đang dự định mở một cơ sở huấn luyện vận động phụ nữ tại
Quảng Châu nhằm bồi dưỡng cán bộ phụ nữ trong nước. Hồ Chí Minh thông qua sự
quen biết trực tiếp với các vị Chu Ân Lai, Ðặng Dĩnh Siêu, Lí Phú Xuân, Thái
Sướng, xin được hai suất cho Tăng Tuyết Minh và Lương Huệ Quần cùng vào học
lớp huấn luyện vận động phụ nữ. Kì ấy, lớp khai giảng ngày 16 tháng 9 năm
1926 và kết thúc vào ngày 16 tháng 3 năm 1927, thời gian học tập là nửa năm.
Quảng Châu thời ấy là trung tâm của cách mạng Trung Quốc. Trong quá trình lớp
huấn luyện phụ vận tiến hành, người ta chẳng những đã mời không ít các đồng
chí có trách nhiệm của Ðảng cộng sản Trung Quốc đến giảng mà còn tổ chức cho
học viên tham gia các hoạt động xã hội. Nhờ được học tập, quả nhiên Tăng
Tuyết Minh tiến bộ rất nhanh, trong khoá học, được bạn đồng học là Trịnh Phúc
Như giới thiệu, cô đã gia nhập Ðoàn Thanh niên xã hội chủ nghĩa."
Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh thập niên 1920 (thời điểm kết
hôn : 1926) " Do Hồ Chí Minh lại thúc giục
nên hôn lễ của hai người đã được cử hành vào tháng 10 năm 1926. Lúc ấy Hồ Chí
Minh 36 tuổi, còn Tăng Tuyết Minh 21. Ðịa điểm tổ chức hôn lễ là nhà hàng
Thái Bình trước Ty Tài chính ở trung tâm thành phố. Ðó cũng là địa điểm mà
một năm trước đấy Chu Ân Lai và Ðặng Dĩnh Siêu mời khách đến dự lễ kết hôn của
mình. Tham dự hôn lễ có phu nhân Bào La Ðình, Thái Sướng, Ðặng Dĩnh Siêu và
một bộ phận học viên khoá huấn luyện phụ vận. Phu nhân họ Bào tặng một lẵng
hoa tươi. Mấy ngày đầu sau lễ cưới, Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh tạm trú
trong Tổng bộ Thanh niên cách mạng đồng chí hội, vốn là nơi nghỉ ngơi của Hồ
Chí Minh. Lúc ấy, Hồ Chí Minh đang chủ trì khoá huấn luyện chính trị đặc biệt
thứ III của Việt Nam, do học viên khá đông nên địa điểm học tập đã chuyển từ
Tổng bộ Thanh niên cách mạng đồng chí hội đến phố Nhân Hưng ở đường Ðông Cao.
Mấy ngày sau Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh dọn đến trú ngụ ở quán của ông
Bào, lúc đầu dùng bếp tập thể, sau tự nấu nướng. Hồ Chí Minh bận rộn công
tác, mọi việc nhà đều do Tăng Tuyết Minh quán xuyến. Cô chăm sóc chu đáo mọi
sự ăn uống, sinh hoạt thường ngày của Hồ Chí Minh, giúp cho anh từ tuổi 21 đã
xa nhà bôn tẩu, làm " kẻ phiêu diêu " góc bể chân trời, thì nay sau
15 năm lại có được cảm giác ấm áp " ở nhà mình ". Hồ Chí Minh rất
mãn nguyện về cô vợ Trung Quốc của mình. Sau ngày cưới, Hồ Chí Minh từng
nhiều lần đàm đạo với Lâm Ðức Thụ, Lương Huệ Quần về vợ mình, đều nói rõ điều
đó." Uyên ương chia lìa đôi ngả
" Thế nhưng
phúc chẳng dài lâu. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, mới nửa năm sau khi Hồ Chí Minh
với Tăng Tuyết Minh kết hôn, Tưởng Giới Thạch phản bội cách mạng, phát động
cuộc chính biến phản cách mạng tại Thượng Hải, tình thế ở Quảng Châu cũng
chuyển biến theo. Trước đó, chính phủ Quốc dân đã rời tới Vũ Hán. Trụ sở của
đoàn cố vấn Lao Liên cũng rời tới Vũ Hán. Và tất nhiên, Hồ Chí Minh cũng phải
chuyển đến Vũ Hán. Trung tuần tháng 5, Hồ Chí Minh lưu luyến chia tay với
Tăng Tuyết Minh, trước lúc lên đường dặn đi dặn lại Tăng Tuyết Minh : " Em
phải bảo trọng, đợi tin tức của anh ; ổn định nơi chốn một chút là anh đón em
ngay ". Thế rồi, Hồ Chí Minh rời Quảng Châu, chuyển đến Vũ Hán, rồi lại
chuyển đến Thượng Hải, đi đường Hải Sâm Uy, khoảng giữa tháng 6 năm 1927 đến
Mạc Tư Khoa. Sau đó, Hồ Chí Minh lại vội vàng đến Ðức, Pháp, Bỉ, Thuỵ Sĩ,
Italia... tạm ngừng công tác, cuối cùng, tháng 8 năm 1929, đến Thái Lan. " Do Tưởng
Giới Thạch phản bội, thành Quảng Châu rơi vào giữa một cuộc khủng bố trắng.
Sau khi chia tay với Hồ Chí Minh, Tăng Tuyết Minh một mình về sống với mẹ và
những người thân. Trong hai năm, từ tháng 7 năm 1927 đến tháng 6 năm 1929,
Tăng Tuyết Minh vào trường Anh văn Kiêm Bá và trường Trung học nữ sinh Tân Á
học tập. Thời gian đầu, cô còn giữ được liên hệ với một số đồng chí cách mạng
quen biết ở cơ sở huấn luyện phụ vận. Về sau do Quốc dân đảng ngày càng đàn
áp tàn bạo các đảng viên cộng sản, các đồng chí mà Tăng Tuyết Minh quen biết
đều rời Quảng Châu, mối liên hệ về tổ chức của cô với đoàn viên Ðoàn Thanh
niên xã hội chủ nghĩa Trung Quốc cũng bị gián đoạn. Tháng 7 năm 1929, Tăng Tuyết
Minh rời Quảng Châu, về quê nhà của mẹ ở Thuận Ðức, làm nữ hộ sinh tại một
trạm y tế tư ở thị trấn Lặc Lưu. Ðầu năm 1930, cô lại chuyển đến làm nữ hộ
sinh ở y xá Quần An của Dư Gia Viên, thị trấn Lạc Tòng, huyện Thuận Ðức. " Thời gian
này, Hồ Chí Minh có hai lần nhờ người mang thư và gửi thư liên hệ với Tăng
Tuyết Minh, nhưng đều không kết quả. [...] Sau khi đến Thái Lan, Người lấy
tên là Ðào Cửu, tiến hành công tác tuyên truyền và tổ chức cách mạng trên đất
Thái Lan. [...] đã hơn một năm Hồ Chí Minh li biệt với Tăng Tuyết Minh, nhớ
nhung da diết. Nơi đây cách Trung Quốc tương đối gần, nhờ người chuyển thư
cũng tiện, bèn cầm bút viết thư cho Tăng Tuyết Minh. Hồ Chí Minh cũng nghĩ
đến thời cuộc biến loạn, tình huống thiên biến vạn hoá, thư có đến được tay
vợ hay không, thật khó dự đoán. Vì vậy, anh quyết định dùng lời lẽ ngắn gọn,
hàm súc viết một bức thư ngắn, bảo cho biết mình vẫn bình an và thăm hỏi người
thân. Nội dung bức thư đó như sau : " Từ ngày chia tay với em, đã hơn
một năm trôi qua. Nhớ thương khắc khoải, chẳng nói cũng hiểu. Nay mượn cánh
hồng, gửi mấy dòng thư để em yên tâm, đó là điều anh mong mỏi, và cầu cho
nhạc mẫu vạn phúc. Anh trai vụng về, Thuỵ ".
(Bản dịch của N.H.Thành) Thư của Nguyễn ái Quốc (Lý Thuỵ) gửi Tăng
Tuyết Minh, bị Mật thám Ðông Dương chặn được ngày 14.8.1928, hiện tàng trữ
tại C.A.O.M. (Aix en Pro-vence). Xuất xứ : Daniel Hémery, HOCHIMINH De L'Indochine
au Vietnam, Gallimard, Paris 1990, tr.145. *) Sau khi do dự giữa sở và ngưỡng, ông Nguyễn
Hữu Thành đã chọn phiên âm là ngưỡng. Ba nhà Hán học khác thì cả quyết là sở và
cho biết đó là tự dạng cổ. Bất luận thế nào, sở vọng hay ngưỡng vọng ở đây đều
nói lên ý ước mong [chú thích của Diễn Ðàn] " [...]
Không rõ người mang thư sơ suất, hay là anh ta vốn dĩ không thể tin cậy, mà bức
thư đó đã nhanh chóng lọt vào tay cơ quan mật thám Pháp ở Ðông Dương, cuối
cùng thành vật lưu trữ tại Cục hồ sơ can án quốc gia của nước Pháp. Năm 1990,
trong dịp kỉ niệm 100 năm sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Gallimard
ở Pháp đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Hồ Chí Minh - từ Ðông Dương đến Việt
Nam, giữa tranh ảnh minh hoạ trong sách có bản in chụp bức thư bằng Trung văn
nói trên của Hồ Chí Minh gửi cho vợ, với những dòng thuyết minh : “ Thư của
Nguyễn ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) viết cho vợ.Chuyển tới cơ quan đặc vụ Ðông
Dương ngày 14 tháng 8 năm 1928 ”. [...] Một tác giả tên là Bùi Ðình Kế trên
báo Nhân Dân của Việt Nam, số ra ngày 19 tháng 5 năm 1991 đã dẫn lại bức thư
đó trong bài nhan đề Về một tài liệu liên quan sinh hoạt cá nhân của Nguyễn
Ái Quốc. Bài báo đã phân tích và phỏng đoán bức thư đó liệu có phải của Hồ
Chí Minh hay không. Tuy nhiên, đã không đưa ra được kết luận rõ ràng. Thực
ra, bức thư đó chính xác là do Hồ Chí Minh viết. Một là, đối chiếu với những
thư cảo Trung văn của Hồ Chí Minh thì bức thư đó hoàn toàn ăn khớp với bút
tích của người. Hai là, lúc Hồ Chí Minh viết bức thư đó cách thời điểm chia
tay với Tăng Tuyết Minh đúng là hơn một năm như nói ở trong thư. Ba là, tên
kí dưới thư thuỴ đúng là bí danh Hồ Chí Minh dùng trong thời gian ở Quảng Châu.
Bốn là, Tăng Tuyết Minh từ nhỏ mất cha, chỉ có mẹ lúc ấy còn sống, và Hồ Chí
Minh nắm rõ điều đó, nên trong thư chỉ vấn an nhạc mẫu. Căn cứ những điều
trên, bức thư đó do Hồ Chí Minh viết, không còn nghi ngờ gì nữa. Thư viết
xong đã rơi vào tay mật thám Pháp, đó là điều Hồ Chí Minh đã không thể lường
trước được. " Lúc ấy,
Hồ Chí Minh công tác ở Thái Lan đến tận tháng 11 năm 1929. Sau đó, Người được
Quốc tế Cộng sản cử đến Hương Cảng, triệu tập hội nghị thống nhất ba tổ chức
cộng sản thành một đảng cộng sản. " Hội nghị thống nhất " đã khai
mạc tại Hương Cảng ngày 3 tháng 2 năm 1930, chính thức tuyên bố thành lập
Ðảng Cộng sản Việt Nam. Sau hội nghị, tháng 3 năm đó Hồ Chí Minh trở lại Thái
Lan, tháng 4 lại đến Hương Cảng. Sau, nhiều lần lại từ Hương Cảng đến Thượng
Hải, tiến hành công tác tuyên truyền và tổ chức cách mạng trong Việt kiều tại
tô giới Pháp ở Thượng Hải. Lúc ấy, các đảng viên cộng sản Việt Nam Hồ Tùng
Mậu, Nguyễn Lương Bằng... cũng đang hoạt động trong Việt kiều ở Thượng Hải.
Ðầu tháng 5 năm 1930, Hồ Chí Minh lại viết một bức thư nữa từ Thượng Hải gửi
Tăng Tuyết Minh. Bức thư này gửi qua Quảng Châu cho Tăng Tuyết Minh lúc ấy
đang làm nữ hộ sinh ở cơ sở dịch vụ y tế tại Gia Dư Viên, thị trấn Lặc Lưu,
huyện Thuận Ðức. Nội dung yêu cầu Tăng Tuyết Minh mau mau đến Thượng Hải đoàn
tụ. Trong thư có hẹn kì hạn và nói rõ nếu quá hạn đó mà Tăng Tuyết Minh không
đến sẽ đành một mình xuất ngoại. Thế nhưng, với cả bức thư này nữa, cũng đã
xảy ra chuyện ngoài ý muốn, Tăng Tuyết Minh cũng không sao nhận được. Tài
liệu hồi ức do Tăng Tuyết Minh viết cũng như lời kể lại của bà qua thư từ
trao đổi với tác giả bài này đều nói tới hoàn cảnh của sự cố này. " Hoá ra,
tháng 7 năm 1929 Tăng Tuyết Minh sau khi đã rời Quảng Châu, làm nữ hộ sinh ở
trạm y tế của bác sĩ Dư Bác Văn mới mở ra ở thị trấn Lặc Lưu, huyện Thuận
Ðức, đến cuối năm. Ðầu năm sau, cô lại chuyển đến làm nữ hộ sinh tại y xá
Quần An của Sa Khiếu ở thị trấn Lạc Tòng cũng huyện Thuận Ðức. Bức thư của Hồ
Chí Minh chuyển đến cho trạm y tế của Dư Bác Văn ở thị trấn Lặc Lưu thì lúc
ấy Tăng Tuyết Minh đã rời đi rồi. Trưởng trạm y tế Dư Bác Văn chẳng những không
kịp thời chuyển thư đến Tăng Tuyết Minh mà ngược lại còn tự ý mở thư trước
mặt vợ mình, lại còn gọi thêm cả nữ y sĩ Hoàng Nhã Hồng, xem trộm nội dung
thư, sau đó đem đốt đi. Nửa năm sau khi xảy ra chuyện đó, Tăng Tuyết Minh trở
lại Quảng Châu thăm mẹ và nhận lời mời đến dự lễ khai trương cơ sở y tế tại
nhà một bạn đồng học cũ. Tại đây cô bất ngờ gặp laại nữ y sĩ HoàngNhã Hồng,
người đã từng làm việc cùng tại thị trấn Lặc Lưu, huyện Thuận Ðức. Nữ y sĩ đó
đã đem toàn bộ sự việc tuôn ra hết ngọn ngành. Lúc ấy so với thời hạn Hồ Chí
Minh hẹn gặp nhau ở Thượng Hải thì đã qua nửa năm. Tăng Tuyết Minh chỉ còn
biết kêu khổ khôn nguôi, nuốt nước mắt vào lòng. Như vậy con người kia đã gieo
tại hoạ khiến Tăng Tuyết Minh mất đi cơ hội được trở lại bên chồng, cũng gây
cho cô một bi kịch suốt đời trong tương lai. " Ðến cuối
năm 1931, rốt cuộc Tăng Tuyết Minh cũng có được một cơ hội gặp Hồ Chí Minh
nhưng lại là tại toà án của nhà đương cục Anh ở Hương Cảng xét xử Hồ Chí Minh.
Tăng Tuyết Minh chỉ có thể nhìn thấy Hồ Chí Minh từ rất xa, còn Hồ Chí Minh
thì hoàn toàn không biết vợ mình có mặt tại toà. Cuối những năm 20 - đầu 30
hoàn cảnh của các nhà cách mạng Việt Nam hoạt động tại Hương Cảng rất tồi tệ.
Trong hàng ngũ cách mạng có kẻ phản bội, các cơ sở bí mật bị phá hoại, chính
quyền thực dân Pháp và nhà đương cục Anh ở Hương Cảng cấu kết với nhau bắt bớ
các chiến sĩ cách mạng. Hồ Tùng Mậu bị các nhà đương cục Anh bắt rồi giao cho
mật thám Pháp " dẫn độ " về Việt Nam giam cầm. Hồ Chí Minh cũng bị
các nhà đương cục Anh bắt ngày 5-6-1931, lí do là làm tay sai cho hội Lao
Liên, âm mưu tiến hành hoạt động phá hoại tại Hương Cảng. Sau khi Hồ Chí Minh
bị bắt, Quốc tế Cộng sản thông qua hội Chữ thập đỏ quốc tế kêu gọi cứu giúp.
Tổ chức đó lại mời một luật sư tiến bộ người Anh ở Hương Cảng là ông Loseby
bào chữa cho Hồ Chí Minh. Sau vài tháng bị giam giữ, Hồ Chí Minh bị đưa ra
xét xử. Lần này đến Hương Cảng, Người lấy bí danh là Tống Văn Sơ. Nhưng sau
khi bị bắt nhà đương cục Anh đã phát hiện đó chính là Lý Thuỵ, cũng tức là
Nguyễn Ái Quốc. Lúc ấy rất nhiều báo Hương Cảng đưa tin. Cùng thời gian này,
thân mẫu Tăng Tuyết Minh đang bị bệnh. Cô cùng mẹ đến Hương Cảng trú tại cơ
sở chữa bệnh của anh cả là Tăng Cẩm Nguyên. Ðọc được tin toà sẽ xét xử chồng
mình là Lý Thuỵ liền nhờ bạn bè cũ cùng đến toà. Người đến dự thính xét xử
rất đông. Tăng Tuyết Minh phải ngồi nghe cách xa phòng xử án. Nhìn thấy hình
dáng tiều tuỵ của người chồng xa cách đã năm năm mà lòng khôn ngăn trăm mối
ngổn ngang. Nhưng do khoảng cach khá xa, lại giữa toà ánm vợ chồng chẳng
những vô phương trò chuyện mà Hồ Chí Minh thậm chí chắc chắn không hề biết
Tăng Tuyết Minh đang ở trước mắt mình. Tăng Tuyết Minh muốn đến thăm nom
nhưng có lời truyền ra rằng đây là một trọng phạm chính trị không được phép
thăm hỏi, gặp gỡ. Tăng Tuyết Minh hỏi dò nhiều nơi và biết được rằng hội Hồng
thập tự quốc tế và luật sư Loseby đang tìm cách cứu Hồ Chí Minh, tình cảnh có
lẽ cũng sẽ chuyển biến, đành cùng thân mẫu trở về Quảng Châu, lòng hoang mang
không biết làm sao.
Tăng Tuyết Minh năm 1965 (sáu mươi tuổi) " Tháng
2 năm 1932, thân mẫu Lương thị của Tăng Tuyết Minh bệnh nặng qua đời, hưởng thọ
76 tuổi. Tăng Tuyết Minh chuyển đến công tác ở y xá Quần An ở huyện Ðông Hoàn,
vốn là cơ cấu phân chi của y xá Quần An huyện Thuận Ðức, vẫn làm nữ hộ sinh.
Lúc này, cha mẹ cô đều đã mất, anh em đông nhưng người thì đi xa, người thì
chết sớm, Tăng Tuyết Minh côi cút độc thân, thật là buồn khổ. Năm 1943, sau
tiết xuân, thầy giáo cũ là Trương Tố Hoa mở tại đường Long Tân ở Quảng Châu
một phòng chẩn trị, có lời mời Tăng Tuyết Minh đến giúp sức. Cô bèn xin thôi
việc ở Ðông Hoàn, đến phòng chẩn trị của Trương Tố Hoa làm nữ hộ sinh và làm
việc ở đó cho đến tận ngày (Trung Quốc) giải phóng. Sau khi nước Trung Quốc
mới được thành lập, chính phủ tiến hành cải tạo và chỉnh đốn các cơ sở kinh
tế tư nhân, thành lập các trạm vệ sinh bảo vệ sức khoẻ tại các khu. Tăng Tuyết
Minh hưởng ứng lời kêu gọi của chính phủ, đã đến công tác tại trạm số 8 ở khu
vực phía Tây. Về sau trạm này đổi gọi là Viện Vệ sinh Kim Hoa (nay là Viện Y
học Trung y khu Lệ Loan). Tăng Tuyết Minh công tác ở đó, hành nghề nữ hộ sinh
đến tận năm 1977 khi về hưu." Thế là từ sau
lần trông thoáng thấy chồng ở Hương Cảng, không bao giờ Tăng Tuyết Minh gặp
lại Nguyễn Ái Quốc nữa. Theo tác giả Hoàng Tranh, tháng 5-1950, thấy hình Chủ
tịch Hồ Chí Minh đăng trên Nhân dân Nhật báo cùng với tóm tắt tiểu sử, bà tin
chắc Hồ Chí Minh chính là chồng mình, nhất là sau khi tìm mua được cuốn Truyện
Hồ Chí Minh (nhà xuất bản Tân Hoa). Bà đã " báo cáo với tổ chức ”, đồng
thời gửi mấy bức thư cho chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua đại sứ Việt Nam tại
Bắc Kinh là Hoàng Văn Hoan. Những bức thư ấy “ đều như đá chìm biển khơi
(...) thậm chí chúng có được gửi ra khỏi Quảng Châu hay không là điều còn
đáng hoài nghi ". Tuy nhiên, một cán bộ lãnh đạo Quảng Châu đã tới gặp
Tăng Tuyết Minh, trao cho bà lá thư của bà Thái Sướng (một trong những người
đã tới dự tiệc cưới năm 1926 cùng với bà Ðặng Dĩnh Siêu, vợ của Chu Ân Lai)
" chứng thực Hồ Chí Minh chính là Lý Thuỵ cũng tức là chồng Tăng Tuyết
Minh ". Cán bộ này cũng " giải thích (...) lí do tại sao không tiện
liên lạc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, hy vọng Tăng Tuyết Minh hiểu và lượng thứ
việc này, yên tâm công tác ". Vẫn theo sử gia Hoàng Tranh thì về phần
mình, Hồ Chí Minh đã " từng thông qua Tổng lãnh sự ViệtNam tại Quảng
Châu dò tìm tăm tích của Tăng Tuyết Minh, năm 1960 lại nhờ Bí thư Trung Nam
cục Ðào Chú dò tìm dấu vết của bà " song " việc trên đương nhiên
không thể có bất kì kết quả gì " vì " điều này vào thời ấy hoàn
toàn không kì lạ ". Bà Tăng
Tuyết Minh đã " yên tâm công tác ” cho đến năm 1977 mới về hưu, sau 52
năm tận tuỵ với nghề nữ hộ sinh. Theo Hoàng Tranh, gia đình bà theo đạo Công
giáo từ đời ông nội, và bà " thường xuyên đi lễ ở giáo đường ". Bà
" có thói quen ăn uống đạm bạc, không dùng cá thịt ", cuộc sống
" vô cùng giản dị ", " luôn vui vẻ giúp người "... " 11 giờ
15 phút ngày 14 tháng 11 năm 1991, sau 86 năm trải qua con đường đầy lận đận
long đong, tại nơi cư ngụ [687 đường Long Tân Ðông, Quảng Châu], cụ bà Tăng
Tuyết Minh đã bình yên nhắm mắt, thanh thản trút hơi thở cuối cùng ". Hoàng Tranh |