Những Kỷ Niệm Về Bác Hồ
Tôi có khoảng thời gian gần 25 năm làm việc gần Bác. Tôi được biết một số việc, hoặc được nghe rồi nói lại cho các đồng chí. Có tài liệu các đồng chí có thể sử dụng được, có tài liệu các đồng chí nghiên cứu thêm.
Trong khoảng thời gian 25 năm đó có 3 năm tôi công tác
ở xứ, khu và tỉnh, c̣n tôi liên tục ở Trung ương, lúc đầu tôi làm phó trưởng ban
Tổ chức Đảng vụ (cơ quan của Đảng lúc đó gọi như thế), tức là làm phó cho anh Lê
Đức Thọ, sau là anh Lê Văn Lương. Sau tôi c̣n làm chánh văn pḥng của đồng chí
Trường Chinh, sau cùng là làm công tác Tuyên huấn, báo chí. Các công việc trên
giúp tôi có điều kiện gần gũi Bác hơn. Các anh trong Bộ Chính trị cũng có nhiều
người đi tù cùng tôi về. Tôi có may mắn được dự hầu hêt các phiên họp Bộ Chính
trị hay Ban Bí thư. Nhiều khi Bác bảo tôi làm việc này hay việc khác, tất nhiên
là những việc nhỏ thôi. Khi Trung ương họp Bác thường hay ngó trông xem có thấy
tôi ngồi ở phía sau không, bởi tôi làm công tác báo chí. Nhiều cuộc họp tôi bị
Bác phê b́nh, nhưng nhiều lần được Bác khen. Hội nghị Trung ương, hội nghị các
ngành, hội nghị quân sự, hội nghị cán bộ tôi đều dự cả. Nhiều chuyện tôi biết
được từ các cuộc hội nghị này, cố nhiên không phải chuyện ǵ cũng biết, có
chuyện tôi thật sự là nhân chứng, có chuyện th́ tôi nghe lỏm được.
Tôi
muốn kể lùi về quá khứ một chút. Vào những năm 1933-1934, khi tôi c̣n đang đi
học, tôi biết hàng xóm nhà tôi có hai người bị bắt từ năm 1930 được tha về. Nghe
đồn họ là cộng sản, họ nói giỏi lắm, tôi mới t́m đến. Họ nói Nguyễn Ái Quốc bị
chết rồi. Lúc đó tôi c̣n nhỏ, nhưng nghe nói mất người đứng đầu th́ cảm thấy gay
go thật. Sau này tôi tham gia phong trào Dân chủ (1937-1938) cùng với nhiều
người, sau có người vào Bộ Chính trị như Lê Đức Thọ, Nguyễn Lương
Bằng.
Đầu tháng 8-1945, anh Lê Đức Thọ được bổ sung vào Trung ương, là uỷ
viên dự khuyết, phụ trách an toàn khu của Trung ương, kiêm cả Bí thư Xứ uỷ Bắc
kỳ, tức là người phụ tá trực tiếp của đồng chí Trường Chinh. Tôi được gọi về phụ
trách khu an toàn của Trung ương và phụ trách trực tiếp khu ngoại thành Hà Nội.
Tôi phụ trách khu an toàn A, c̣n khu B ở trên kia th́ tôi không biết. Một hôm,
anh Lê Đức Thọ nói với tôi là anh đi họp một cuộc Hội nghị quan trọng, dặn tôi ở
nhà giữ ǵn, trong nom cẩn thận công việc của Trung ương, sau này tôi mới biết
là anh đi dự Hội nghị Tân Trào. Anh c̣n tiết lộ bí mật cho tôi biết chuyến đi
này anh đi thế nào cũng gặp Nguyễn Ái Quốc.
Sau ngày 19/8, Hà Nội lập
chính quyền cách mạng. Tôi lănh đạo cuộc khởi nghĩa ở ngoại thành, tham gia chỉ
đạo khởi nghĩa ở Đông Anh, Phúc Yên, trực tiếp chỉ đạo việc lập chính quyền ở
ngoại thành Hà Nội. Khởi nghĩa thắng lợi, chính quyền được thành lập, Uỷ ban
Nhân dân cách mạng Bắc Bộ và Uỷ ban Nhân dân cách mạng Hà Nội ra mắt. Tổ chức
này ngang với thị trưởng Hà Nội trước đây thay Trần Văn Lai, thống sứ Bắc kỳ.
Những người ra mắt toàn là học tṛ trung học Hà Nội cũ, như Trần Quang Huy ở
trường Thăng Long, Nguyễn Duy Thân ở trường Bưởi, cùng với ông Vũ Kỳ... Hai
cuộc ra mắt toàn là các cậu học tṛ kém tuổi tôi. Nhân dân Hà Nội xôn xao lắm.
Họ nói lănh tụ Việt Minh có thế thôi à! Tôi cũng sốt ruột. Khởi nghĩa xong họ
bầu tôi làm chủ tịch, được 3 ngày tôi không làm nữa, v́ lúc này tôi đang phụ
trách an toàn khu của Trung ương.
Hàng ngày tôi ra Bắc Bộ phủ gặp anh
Xuân Thuỷ và một số người khác. Họ hỏi tôi:
- Anh xem có cách nào đi t́m
Trung ương về không, chứ thấy t́nh h́nh khó khăn lắm.
Dân không hiểu lănh
tụ Việt Minh là ai cả, chúng tôi th́ c̣n trẻ lắm, tôi làm sao biết được để mời.
Hàng ngày giải quyết công việc ở trong khu xong tôi lại đạp xe ra Bắc Bộ phủ xem
t́nh h́nh thế nào. Chiều ngày 24/8 tôi trở về chỗ ḿnh vẫn ở tức là khu an toàn,
gặp khoảng hơn 10 người đang ăn cơm ở đ́nh làng Phú Xá. Tôi thấy một cụ già có
râu, ngồi cạnh có anh Trần Đăng Ninh. Bữa ăn của đoàn cán bộ chỉ có cơm gạo hẩm,
canh mướp suông, mọi người ngồi trên chiếc phản ở đ́nh làng Phú Xá. Anh Trần
Đăng Ninh trước ở tù với tôi, tuy đă được bầu vào Trung ương nhưng chưa làm được
ngày nào đă bị bắt, sau vượt ngục trốn về. Tôi biết ông cụ này được anh Trần
Đăng Ninh đưa đi chắc phải to hơn Trung ương. Tôi nghe giọng Nghệ đoán chắc là
Ông Cụ rồi. Ở đây tôi muốn nói thêm một chút thế này: Đêm hôm trước ngày Ông Cụ
về, đoàn tự vệ ở Chèm có bắt được 4 người bên kia sông sang, bốn người đó hỏi
phụ trách khu này là ai, khi biết tôi là Khánh phụ trách khu này, họ đề nghị cho
gặp tôi. Tôi gặp chẳng phải ai xa lạ mà là anh Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Trân,
Vũ Thụy Khôi, Nguyễn Văn Phương, tức Chu. Bốn người đi Tân Trào về. Họ nói
chuyện về Hội nghị Tân Trào và cho tôi xem danh sách chính phủ lâm thời được dán
khắp thành phố. Dân biết trong chính phủ có ông Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Vơ
Nguyên Giáp. c̣n nhiều nhân vật khác nữa họ không biết như Nguyễn Văn Xuân, c̣n
Nguyễn Lương Bằng thực sự dân cũng không biết, họ chi biết có đồng chí Sao Đỏ
thôi.
Lại nói về chuyện gặp Bác ở đ́nh Phú Xá. Hôm đó tôi cũng mặc bộ
quần áo mùa thu b́nh thường như các vị ở đây thôi.
Bác nh́n tôi và hỏi anh
Trần Đăng Ninh:
- Quan nào mà diện thế ?
Chuyện này sau được anh Trần Đăng
Ninh nói lại tôi mới biết.
Như thế, trước khi về Hà Nội Bác đă chú ư tới
cách ăn mặc của cán bộ ta, ư Bác muốn cán bộ cách mạng là phải ăn mặc giản dị,
không được làm ra dáng ông quan cách mạng. Trong ư thức của Bác, cán bộ cách
mạng, nhất là khi cách mạng mới thành công không thể ăn mặc diện được. Cơm nước
xong, lúc đó cũng đă mưuộn, tôi mời Bác về nghỉ ở nhà tôi. Tôi mới chuyển sang
nhà một bà chánh tổng, tức nhà ông chánh tổng Luân ở làng Gạ (Phú Gia) nhưng ông
chết lâu rồi. Nhà này do chị Sáu cán bộ của đội công tác giới thiệu cho tôi. Nhà
không to lắm, cũng đủ để chứa độ hơn 10 người. Nhà này kín đáo, tụt vào trong
đê. Nhà ở Phú Xá ngay cạnh bờ đê không tiện. Tiện đây tôi muốn nói lại một chút.
Có ai đó viết về Bác, nói về Bác mặc áo choàng hay áo ǵ đó là không phải. Bên
ngoài Bác mặc chiếc áo của người thiểu số. Trời nóng nên Bác mặc quần cộc, tức
quần soóc, túi áo có một đèn pin khoằm khoằm. Bác mới ốm dậy nên phải chống
gậy.
Chủ nhà mời Bác nằm ở một chiếc sập gỗ, gỗ thường thôi, không phải
gỗ gụ, ở trước bàn thờ. Anh Trần Đăng Ninh và một số người khác nằm ở hai gian
bên cạnh. Tôi nằm trong buồng chủ nhà vẫn dành cho tôi. Quen kiểu đùa như trong
nhà tù, tôi nói với Bác:
- Đồng chí nằm đây cho sướng cái thân
già!
Sau anh Trần Đăng Ninh máy tôi ra ngoài, nói: “Ông cụ không thích đùa
đâu!”.
Cố nhiên lúc đó tôi cũng đă biết ông cụ là ai rồi.
Bác nói (khi ấy
chưa gọi là Bác, mà gọi là Cụ):
- Thế chú cùng nằm với tôi rồi chúng ta cùng
nói chuyện.
Cụ hỏi tôi:
- Chiều nay đồng chí vào trong thành có nghe
chuyện ǵ lạ không ?
Tôi nói:
-Thưa đồng chí, có hai việc, việc thứ nhất
dư luận đang bàn tán Hồ chí Minh có phải là Nguyễn Ái Quốc không ?
Cụ
hỏi:
- Anh em ḿnh trả lời thế nào ?
Tôi trả lời là anh em ta nói mập mờ.
Không nói là phải, mà cũng không nói là không.
Cụ nói:
- Như thế là anh em
ḿnh nói đúng.
Cụ hỏi tôi việc thứ hai.
Tôi nói:
- Quân Trung Quốc đă
đến, trông nhếch nhác lắm, mặc quần áo vàng bạc màu, chân quấn xà cạp, gánh cả
nồi niêu, bát đĩa, lại có cả chó theo sau.
Cụ nói:
- Ấy, Đệ nhất phương
diện quân của người ta đấy!
Tôi hỏi Cụ ư nghĩa của việc Mỹ ném bom nguyên tử
xuống Nhật bản. Cụ nói:
- Việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản thực ra
không cần thiết nữa. Đây chính là Mỹ muốn đánh tín hiệu cho Liên Xô, rằng nếu
không dừng lại th́ tôi sẽ..”
Người nhận định Mỹ ném bom Nhật Bản là để cảnh
cáo Liên Xô.
Nói đến việc Chính phủ về Hà Nội. T́nh h́nh sẽ khó khăn, nếu
không có người như Cụ ra mắt. v́ lúc đó các thế lực khác sẵn sàng giương cờ lên,
trong khi ḿnh toàn những người “vô danh” cả.
Nguyễn Ái Quốc - Hồ chí
Minh đă xuất hiện trong ngày 2 tháng 9 đàng hoàng và giản dị. Người đọc Tuyên
ngôn Độc lập rơ ràng, giọng ấm cúng rất gần gũi với nhân dân. Từ đấy uy tín của
cách mạng, của Việt Minh, của Đảng (tuy Đảng lúc đó chưa ra công khai) mới lan
rộng. Sự thật th́ các thế lực phản động cũng đă biết rơ. Tưởng, Pháp, Mỹ đă biết
từ trước người đứng đầu lực lợng cách mạng là ai. Cánh Việt Quốc, Việt Cách
cũng biết. Bọn chúng đều tập trung vào thực hiện âm mưu đánh đổ chính quyền của
Đảng cộng sản, của Hồ Chí Minh, đưa Việt quốc, Việt Cách lên cầm quyền. Mũi nhọn
đả kích của kẻ thù bên trong và bên ngoài đều chĩa vào Hồ chí Minh và Đảng cộng
sản. Chúng lôi kéo Bảo Đại, tập hợp các lực lợng phản động chiếm Yên Bái, Vĩnh
Yên, Hải Ninh (Móng Cái).
Bác nhận định t́nh h́nh thế giới từ trận ném
bom của Mỹ xuống Nhật Bản. Bác có ư kiến ngay lập tức từ lúc Đảng ta mới giành
được chính quyền. Người nói cán bộ cách mạng phải giản dị, sống gần gũi với quần
chúng. Chính v́ thế khi đồng chí Nguyễn Lương Bằng định chuẩn bị cho Bác một bộ
quần áo tơm tất để ra mắt đồng bào nhưng Bác không nghe. Người yêu cầu may cho
ḿnh bộ quần áo kaki màu vàng, kiểu Tôn Trung Sơn. Từ đó Người mặc bộ quần áo
này để tiếp khách, c̣n b́nh thường Người chỉ mặc bộ quần áo nâu. Kể thêm chuyện
này để các đồng chí hiểu rơ thêm về Bác. Nghe nói khi cách mạng Trung Quốc thắng
lợi năm 1949, trên đường về Bắc Kinh Mao Trạch Đông đă làm bài thơ vịnh “Tuyết”,
v́ ông trông thấy nước Trung Hoa mênh mông, chỗ nào cũng thấy tuyết trắng xoá.
Ông nói đất nước Trung Hoa hùng vĩ như thế này, trước kia đời Tần Thuỷ Hoàng ghê
gớm lắm té ra cũng không bằng vô sản, không bằng ḿnh đây. Trước khi đi, Mao
Trạch Đông nói với những người chung quanh rằng: “Bây giờ chúng ta về làm
vua”.
Sau đó anh Lê Đức Thọ có nói lại với tôi về việc Bác muốn chọn thư
kư, anh Lê Đức Thọ giới thiệu 3 người: Trần Quang Huy, Nguyễn Chuẩn (tức Vũ Kỳ)
và tôi. Sau khi cân nhắc Bác nói tôi có thể về làm Bí thư Hà Nội, anh Vũ Kỳ gần
như suốt đời gắn bó với Bác.
Sau khi Bác về ít lâu, tôi được cử làm Bí
thư Hà Nội, có lần tôi chủ tŕ một cuộc họp của thanh niên Hoàng Diệu (Hà Nội) ở
Nhà hát lớn thành phố. Mọi người đến dự đông, chúng tôi ngỏ ư mời Bác. Người vui
vẻ nhận lời. Bác gợi ư nên mời cố vấn Vĩnh Thuỵ. Tổ chức cuộc mít tinh chúng tôi
không làm như bây giờ, không kê bàn chủ tịch lên sân khấu. Những người chủ tŕ
hội nghị ngồi ở dưới. Trên sân khấu để 1 bàn, 2 ghế để Bác và cố vấn Vĩnh Thụy
ngồi. Sau khi tuyên bố lư do, tôi mời cụ Chủ tịch (lúc đó gọi Bác như thế) cho ư
kiến. Người lên nói t́nh h́nh của đất nước và nhiệm vụ của thanh niên. Tôi cũng
chủ động mời ngài Cố vấn Vĩnh Thụy lên nói mấy lời, không ai nghe
rơ.
Cảnh tượng trên sân khấu rât đối nghịch nhau. Một bên là một ông già
mặc quần áo kaki giản dị. Bên kia là một ông béo tốt, bảnh bao, nhưng nói năng
ấp úng. Một sự so sánh giữa một ông vua cũ và một ông chủ tịch mới.
Tưởng
Giới Thạch điều Lư Hán sang làm tư lệnh để chuẩn bị tiếp quản vũ khí của quân
dội Nhật ở Việt Nam. Đây là một âm mưu. V́ Long Vân là trùm quân phiệt ở Vân
Nam. Nếu không có Lư Hàn th́ Long Vân không làm được ǵ, v́ ông ta vừa già vừa
nghiện hút. Lư Hán là tay chân đắc lực của Long Vân. Tưởng điều Lư Hán đi khác
nào điệu hổ lư sơn, để tước dần vây cánh của Long Vân. Nhưng Lư Hán thực sự cũng
không có quyền bằng Tiêu Văn. Ai đó nói Tiêu văn là người có cảm t́nh với Bác là
rất sai. V́ Tiêu Văn chính là người của Tưởng, làm công tác đảng... Tưởng cử
Tiêu Văn sang Việt Nam với nhiệm vụ quan trong nhất là đánh đổ Việt Minh, đánh
đổ Đảng cộng sản. Thế nhưng Tiêu Văn không làm được. Lư Hán càng không làm được.
Việc cứ nấn ná măi, Tưởng c̣n phái Tổng tham mưu trưởng là Hà Ứng Khâm (về chức
tước gọi là Hà Bộ trưởng) sang. Bác chỉ thị cho chúng tôi tổ chức một cuộc mít
tinh, diễu hành thật lớn để đón Hà bộ trưởng, nhưng thực chất là để thị uy.
Chúng tôi huy động được nhiều người Hà Nội, khoảng hơn 10 vạn. Hà Ứng Khâm sang
ở Phủ Toàn quyền. Bác nói tôi nhân danh nhân dân Hà Nội đón Hà Bộ trưởng, Bác
bảo tôi cứ nói để Bác dịch cho. Tôi nói mấy câu đại loại hoan nghênh Hà Bộ
trưởng, chúc t́nh hữu nghị. Bác dịch như thế nào tôi không rơ, v́ lúc đó tôi
không biết tiếng Trung Quốc. Ngày hôm sau Hà Bộ trưởng gặp Bác.. Bác hết sức
gian khổ với bọn Lư Hán, Tiêu Văn và Trương Sỹ Thu (Bí thư của Quốc dân đảng),
với cánh Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh. Bọn chúng lập ra một
tờ báo tên là Việt Nam ở phố Quan Thánh. Chúng bắc loa nói xấu Hồ Chí
Minh.
Bác nói với đồng chí Trần Quốc Hoàn bảo tôi dẫn đầu một đoàn nhà
báo đến phỏng vẫn Nguyễn Hải Thần. Người dặn rằng ông này không biết ǵ đâu, hay
nói lung tung. Các đồng chí hỏi ông ta trả lời như thế nào ghi lại rồi đưa đăng
báo. Tôi cùng với anh Thép Mới, Như Phong và cô gái Tuyết Minh đến xin gặp
Nguyễn Hải Thần. Hôm đầu đến ông khất đến ngày mai. Hôm sau đến nữa th́ ông dứt
khoát từ chối. Nhân dịp tết Bác bảo chúng tôi: Hà Nội nên tổ chức một đoàn đại
biểu đến chúc Tết ông Nguyễn Hải Thần. Lúc đó ông ta ở phố Hoàng Diệu, chỗ Đại
sứ quán Trung Quốc bây giờ, cố vấn Vĩnh Thụy ở 51 Trần Hưng Đạo. Chúng tôi đến
nhà ông Nguyễn Hải Thần, bà vợ Tàu của ông cho biết ông mệt không tiếp ai cả.
Đến nhà cố vấn Vĩnh Thụy, ông ở trên nhà xuống nói ấp úng mấy câu rồi chuồn, chứ
không mời ngồi.
Về chuyện Bác đồng ư cho tôi làm Bí thư Hà Nội, rồi đến
khi v́ sai lầm của tôi mà Bác cho tôi nghỉ chức bí thư. Đài đưa tin Pháp ném bom
Nam Bộ, Bộ trưởng thông tin tuyên truyền Trần Huy Liệu tuyên bố trên đài cảnh
cáo người Pháp ở Nam Bộ rằng: “Nếu các người cứ tiếp tục ném bom Nam Bộ, th́
chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm tính mạng những người Pháp ở Hà Nội”. V́
những người Pháp bị quân Nhật bắt giam ở Hà Nội, khi quân Tưởng và Mỹ đến đă thả
hết ra. người Pháp hay ra phố đi chợ. Hôm sau đài của ta đưa tin quân Pháp lại
ném bom Nam Bộ với giọng gay gắt. Thanh niên ở Hà Nội trong đó có Trần Lâm (sau
làm Tổng giám đốc đài phát thanh) mới tổ chức nhau lại, ra phố Tràng Tiền, chợ
Đồng Xuân, thấy người Pháp nào là đánh đến nơi. Họ cho người đến hỏi tôi lúc đó
là Bí thư Hà Nội là làm như thế có được không? Hôm ấy anh Trần Quốc Hoàn bận họp
hội nghị công nhân cứu quốc Bắc bộ. Tôi đến Bộ Tuyên truyền hỏi Trần Huy Liệu
không gặp mà lại gặp anh Nguyễn Hải Triều. Anh Triều nói chính phủ đă quyết định
rồi, cứ làm tới thôi. Chiều hôm đó Bác cho gọi tôi lên gặp Bác ở căn nhà lợp
ngói đá ở Uỷ ban Nhân dân Hà Nội bây giờ, Người hỏi tôi t́nh tiết sự việc như
thế nào. Tôi thật thà thuật lại mọi chuyện. Nghe xong Người không nói ǵ. Mấy
ngày sau tôi được nghỉ chức Bí thư Hà Nội, nhưng vẫn ở Thành uỷ. Giữa năm sau,
Bác cho tôi đi Hải Pḥng làm Bí thư. Được ba tháng lại cho làm Xứ uỷ Bắc kỳ. Như
thế khi gặp khuyết điểm th́ Người phê b́nh, nhưng đến khi cần th́ Người vẫn
dùng. Chính sách dùng cán bộ của Bác là như thế.
Hồi đó c̣n chuyện này
nữa. Chuyện này chắc ông Vũ Kỳ biết hơn tôi. Khoảng tháng 10 năm 1945, khi bà
Bạch Liên, chị ruột của Bác, biết em ḿnh trở về, đă ra Hà Nội muốn gặp. Gặp
Bác, bà nắm tai Bác kéo lên và kêu: Đúng nó đây rồi! Bà nhận ra v́ Bác có cái
sẹo nhỏ ở tai, khi c̣n bé ở nhà câu cá, giựt câu bị lỡi câu mắc vào tai. Để bà
ở Bắc bộ phủ th́ không tiện, Bác nói tôi đưa bà về nhà tôi ở. Bà ăn trưa, ngủ
đêm ở nhà tôi, c̣n ban ngày đưa bà đi chơi thăm các nơi. Sau chuyến này tôi
không biết bà có ra thăm Bác lần nào nữa không. Lúc đó tôi ở 23 Hàng Nón. Bà ra
có mang theo biếu Bác hai chục trứng gà. Bác bảo đem luôn về nhà tôi.
Về
quan hệ của Bác với bên ngoài. V́ quan hệ của ta với Trung Quốc và Liên Xô không
được thuận tiện, cho nên khi chính quyền của ta được thành lập th́ hai nước đều
không công nhận. Trung Quốc th́ quan hệ không chính thức. Hai người sang ta đầu
tiên nhân danh Đảng mà cũng là Đảng địa phương thôi, đó là Chu Nam và Trang
Điền. Một người là chính uỷ, một người là tư lệnh quân khu Hoa Nam sang nhờ ta
giúp họ tiễu phỉ ở Thập Vạn Đại Sơn. Sau đó ta có cử một trung đoàn do Lê Quảng
Ba phụ trách sang Trung Quốc. Các đồng chí Việt Nam ở Diên An và Trung Quốc sau
khi thấy cách mạng Việt Nam thắng lợi th́ xin về. Lúc đầu là Nguyễn Khánh Toàn,
Nguyễn Sơn, Lư Ban, Trương Ái Dân, Cao Tử Kiến. Trương Ái Dân trong thời gian
kháng chiến chống Pháp làm công tác công vận ở Liên khu III, do tôi phụ trách.
Đồng chí ấy nói với tôi rằng, sau cuộc khủng bố của Pháp năm 1930-1931 đồng chí
ấy sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, được đi Diên An. Trong cuộc vận động
chỉnh phong năm 1942-1943, đồng chí ấy bị thẩm vấn lư lịch. Người ta hỏi người
đứng đầu Đảng cộng sản là ai? Đồng chí ấy trả lời là Trần Văn Giàu, liền bị chôn
một nửa người xuống một hố sâu. Sau đó, không hiểu v́ sao được thả. Sau cách
mạng tháng Tám năm 1945, đồng chí được về nước cùng với một số người nói trên.
Cao Tử Kiến công tác ở Yên bái trong thời gian kháng chiến chống Pháp. Sau khởi
nghĩa ta mở một lớp huấn luyện ở Vạn Phúc cho cán bộ học. Tôi không được học.
Nghe anh Lê Đức Thọ nói lại là đó là Hồng Lĩnh, tức Nguyễn Khánh Toàn, nói chẳng
ai hiểu ǵ cả. Sau tôi nghe mấy người khác nói ông ta là một giáo sư giỏi lắm.
Cả Bùi Công Trừng đi học ở Liên Xô về nói cũng thế cả. Về quan hệ với Liên Xô,
tôi biết, Liên Xô, nhất là Stalin coi Bác là một người dân tộc chủ nghĩa cải
lương từ năm 1928. Sau lại thêm việc Bác bị bắt ở Hồng Kông rồi lại được thả,
khiến Liên Xô Nghi ngờ. Stalin không hiểu được lại có những người như Lôdơbai.
Lại thêm việc Hà Huy Tập báo cáo. Anh Lê Duẩn có nói với tôi là Hà Huy Tập báo
cáo với quốc tế về việc mật thám đưa bà Thanh đi Trung Quốc t́m Nguyễn Ái Quốc
và ra nghị quyết phê phán sai lầm dân tộc chủ nghĩa cải lương của Nguyễn Ái
Quốc. Bác đến Liên Xô năm 1934-1938 chỉ làm công tác ở ban thuộc địa của Quốc tế
cộng sản, không được giao nhiệm vụ cụ thể. Người được giao nghiên cứu làm luận
án phó tiến sĩ về vấn đề thuộc địa. Bác xin được làm nhưng không được trả lời.
Người xin về nước. Tại Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ VII, Người không tham
gia đoàn đại biểu Đảng ta, chỉ là đại biểu dự thính. Liên Xô vẫn cho rằng Việt
Minh là một thế lực dân tộc chủ nghĩa. Họ không thấy Đảng cộng sản đâu, và v́
sao Đảng cộng sản giải tán. Năm 1948, cả hai nước đều t́m hiểu xem Việt Nam là
gi? Đảng ta cử Nguyễn Chương, cúng ở Xứ uỷ với tôi, làm phó cho Lê Đức Thọ sang
Xiêm để tổ chức lại tổ chức của ta ở đó. Trong khu uỷ ở Khu Bốn mọi người mâu
thuẫn với nhau, mà toàn những lăo thành cả, như Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Hoan, Hồ
Tùng Mậu, Trần Hữu Dực. Ông Hoàng Văn Hoan th́ nổi tiếng về những chuyện kèn cựa
ngay từ đầu. Ta cử Hoàng Văn Hoan bàn với Nguyễn Chương (có thể là do gợi ư của
Trung Quốc) là cử Nguyễn Chương sang Trung Quốc để nghiên cứu. Nhưng thực tế
Trung Quốc muốn qua Nguyễn Chương để t́m hiểu t́nh h́nh Việt Nam. Nguyễn Chương
đến Trung Quốc báo cáo t́nh h́nh. Phương hướng báo cáo cũng hữu khuynh đúng như
họ đánh giá, nói là ta dân tộc chủ nghĩa, đề cao địa chủ quan lại, không nêu cao
vai tṛ của Đảng và Liên minh công nông. Đại diện của Liên Xô ở Praha, gặp 2 đại
diện của ta là Trần Ngọc Danh và Lê Hy hỏi t́nh h́nh. Hai người này nói cùng
khớp với Nguyễn Chương nói. Nói khớp như nhau bởi v́ chúng tôi lúc đầu nghiên
cứu theo cương lĩnh của đồng chí Trần Phú, nghĩa là cương lĩnh thứ hai của Quốc
tế cộng sản, tức là làm cách mạng tư sản dân quyền, lấy công nông làm trụ cột,
do giai cấp công nhân lănh đạo, lập chính quyền xô viết.. Chỉ đến khi cách mạng
Trung Quốc thắng lợi, Bác trực tiếp sang mới tŕnh bày rơ vấn đề. Việc này tôi
không được nghe trực tiếp, nghe anh Lê Văn Lương nói lại. Khi gặp Bác, Lưu
Thiếu Kỳ nói ngay rằng: “Các đồng chí giải tán Đảng, các đồng chí tưởng lừa được
địch, nhưng địch không là được mà lại lừa chính chúng tôi, v́ chúng tôi hiểu
các đồng chí giải tán Đảng thật. C̣n địch nó thừa hiểu các đồng chí không giải
tán Đảng”. Hôm tuyên bố giải tán Đảng tôi không được dự. Nhưng nghe nói lại
rằng, quyết định này của bác thật là táo bạo. Lúc đó không làm thế cũng nguy, v́
âm mưu của Tưởng là đánh đổ Đảng cộng sản. Với bọn Lư Hán, Tiêu Văn, Đảng cộng
sản tồn tại là nó chết, v́ sẽ bị Tưởng trị. Nên ta mới lập mẹo tuyên bố giải tán
Đảng, chỉ tuyên bố về danh nghĩa thôi, c̣n trên thực tế Đảng vẫn tồn tại. Khi
đưa ra bàn tuyên bố giải tán Đảng ở Thường vụ, người không tán thành nhất là
đồng chí Trường chinh. Sau Tưởng không có lư do ǵ thúc ép khi Đảng đă tuyên bố
giải tán.
Sang Trung Quốc, Mao đưa Bác vào quỹ đạo của Mao. Sang tới Liên
Xô, Stalin lại đưa Bác vào qũy đạo của Stalin. Chuyến đi của Bác năm 1950 sang
Trung Quốc và Liên Xô của bác là chuyến đi gian khổ. Stalin nói: “Bây giờ cách
mạng Trung Quốc thắng lợi rồi, Trung Quốc có trách nhiệm giúp đỡ các nước phương
Đông, c̣n Liên Xô có trách nhiệm giúp đỡ các nước châu Âu và châu Mỹ”. Trung
Quốc nhận định như thế là do Quốc tế phân công Trung Quốc phụ trách châu Á. Bám
vào ư kiến ấy, sau này Trung Quốc coi như là người đỡ đầu ta. Khó khăn ở bên
ngoài là như thế. Tôi cho rằng v́ lư do như thế mà mấy lần Bác từ chối làm Tổng
bí thư. Ngoài việc Ban chấp hành Trung ương trong nước đă chỉ định đồng chí
Trường Chinh làm Tổng bí thư, có lẽ Bác cho rằng hội nghị Trung ương lần thứ 8
nếu Bác nhận làm Tổng bí thư th́ Liên Xô sẽ gây chuyện. Từ Đại hội I ở Ma Cao Hà
Huy Tập đă phê phán Bác như Quốc tế cộng sản đă phê. Bác không nhận là chủ tịch
nước cũng là thật ḷng chứ không khách khí. Sau này anh Lê Đức Thọ nói với tôi
rằng khi đề nghị Bác làm chủ tịch nước Bác từ chối măi. Bác nói ḿnh là Chủ tịch
nước à? Ḿnh chỉ đứng đằng sau thôi! C̣n t́m người khác làm. Người c̣n nói: nếu
t́m khó quá cứ đưa Bảo Đại ra làm rồi ḿnh thu xếp. Bác thực sự v́ cách mạng chứ
không v́ ḿnh. Đấy là về phía Liên Xô, Trung Quốc, c̣n về phía Đảng cộng sản
Pháp, là Đảng thân thiết đối với ta, lúc đầu họ cũng cho rằng Việt Minh là phái
thân Nhật chứ không phải là cộng sản. Năm 1950, Đảng cộng sản Pháp phái Léo
Figuère uỷ viên dự khuyết của Trung ương, phụ trách tờ báo Thanh Niên sang điều
tra t́nh h́nh của ta. Léo Figuère đến Việt Bắc. Về mặt chức vụ tôi cũng tương
đương với anh, nên được cử tiếp anh. Cố nhiên là năm 1946, khi sang Pháp Bác
cũng đă nói một phần nào rồi, nhưng Đảng cộng sản Pháp chưa thể hiểu hết. Léo
Figuère muốn biết thực sự Đảng cộng sản c̣n tồn tại hay không, anh ta đi khắp
các nơi, ở đâu cũng thấy có Đảng cộng sản, mà đảng viên Đảng cộng sản là những
người lao động, những người công nhân, trí thức, c̣n quan lại địa chủ là tượng
trưng bên ngoài thôi. Từ đó Đảng cộng sản Pháp mới thực sự công nhận ta. Cũng
từ đó mới có các phong trào ủng hộ Việt Nam. Trước đó Đảng cộng sản Pháp không
làm ǵ để ủng hộ ta. Đó là khó khăn đối với Bác lúc bấy giờ.
Trong Đảng
ta có hai nguồn đào tạo, một học ở Liên Xô về, một học ở Trung Quốc về. Do đó họ
theo quan điểm hai nơi, có những ư kiến không giống nhau: đôi lúc hục hặc với
nhau. Nhưng nói chung cả hai bên đều chịu Bác. Chỉ có Nguyễn Sơn về sau có vấn
đề phải ra đi. Trước khi mất Nguyễn Sơn có tâm sự với tôi rằng sai lầm th́ phê
b́nh chứ sao lại đuổi đi. Ông ta trách Bác. Lúc đó tôi hỏi anh Vơ Nguyên giáp,
anh ta hay hục hặc như thế để anh ta làm phó cho anh có được không, Vơ Nguyên
Giáp nói làm thế nào được. Anh ta suốt ngày chửi tôi, anh ta c̣n phê b́nh Trường
Nguyễn Ái Quốc rất ghê. Sau Bác nói chú Nguyễn Sơn hữu tài nhưng.... nên mời chú
đi. Thực ra th́ cái khó của hai nhóm này không hiểu được tư tưởng biện chứng
mác-xít. Ta làm cách mạng ở một nước thuộc địa chứ không phải làm cách mạng ở
một nước tư bản, hay quân phiệt nông dân như Trung Quốc. Vấn đề thống nhất dân
tộc Việt Nam nhiều người không hiểu được, cho đến tận bây giờ nhiều người vẫn
hiểu là phải nhấn mạnh liên minh công nông. Bác có lúc nói Đảng của giai cấp
công nhân là theo thời cuộc và cũng là để chiều ḷng người. Bác định nghĩa về
Đảng đúng nhất là ở Đại hội II. Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động,
tức là của dân tộc Việt Nam. Bây giờ lại càng đúng, v́ nông dân, công nhân có
cách biệt ǵ lớn, không phải là giai cấp bị áp bức, cùng làm chủ cả, cùng là
người lao động tự do, thêm một số trí thức nữa, chứ không phải chỉ có giai cấp
công nhân vừa mới ra đời mấy chục năm nay. Bác hết sức sâu sắc nhưng Người không
nói ra. Những bài viết, những bài phát biểu của Bác từ năm 1920 đến năm 1925 có
phân tích sâu sắc, lư luận sắc bén. Sau này, từ cách mạng tháng Tám trở đi Người
viết ngắn gọn đi thẳng vào vấn đề, không phân tích dài ḍng để quần chúng dễ
hiểu. Hai bên không hiểu, cứ “chiếu tướng” nhau rồi sinh chuyện. Nói Bác lư luận
kém là hoàn toàn sai.
…. Trừ mấy trường hợp, như Trần Văn Giàu. Tôi được
biết Trần Văn Giàu học ở Liên Xô về. Tôi biết có người tên là Phi Vân cũng học ở
Liên Xô Về, v́ hư hỏng bị đi tù ở Sơn La. Khoảng năm 1935, ở tù cùng Phi Vân
tôi hỏi Phi Vân nhận xét về Nguyễn Ái Quốc, Phi Vân nói: “Ông này không có ǵ
đâu, ở nhà cứ tưởng là nhân vật quan trọng lắm, chứ ông ta dân tộc chủ nghĩa,
tŕnh độ lư luận kém”. Đó là cách nhận định về Bác của mấy người đi Liên Xô về.
Trần Văn Giàu thuộc loại nói trên. Có lần Tràn Văn Giàu nói với tôi năm 1932 về
anh là Bí thư, sau khởi nghĩa Nam kỳ bị thất bại, anh em ḿnh nhiều người bị
bắt, anh đứng ra lập một tổ chức Tiên Phong, coi như ṇng cốt của cách mạng.
Khởi nghĩa ở Sài G̣n chính anh là người lănh đạo. C̣n ở Nam Bộ một số đồng chí
của ta như Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Thị Thập ra nắm vùng nông thôn. Ba
người này ra ngoài Bắc dự Hội nghị Tân Trào. Nguyễn Thị Thập đến không kịp. Ung
Văn Khiêm đến chỗ tôi rồi đi Tân Trào, chứ Trần Văn Giàu không được thừa nhận.
Việc phân xử Trần Văn Giàu có các lớp đàn anh đi tù ở Côn Đảo về. Họ là bậc thầy
ở Nam Bộ, là những người lănh đạo quen thuộc của nhân dân Nam Bộ. Thế của Trần
Văn giàu yếu đi, về sau điều Trần Văn Giàu đi Xiêm.
Sau khi gặp Stalin và
Mao, hai bên cứ thúc ép Bác làm như họ, tức là liên minh công nông, do Đảng lănh
đạo, lập chính quyền công nông, rồi làm cải cách ruộng đất. Bác chưa muốn làm
cải cách ruộng đất. Thuyết ba giai đoạn của đồng chí Trường chinh đưa ra ở Đại
hội II là có ư kiến của Bác. Theo thuyết ba giai đoạn th́ cải cách ruộng đất để
sau, hăy làm giảm tổ, giảm tức. Đồng chí Trường Chinh phân tích rất hay. Năm
1946, họp Xứ uỷ tôi được nghe ông nói: “Dưới chính quyền cách mạng, những cải
cách nhỏ đều có ư nghĩa cách mạng, nhiều cải cách nhỏ cộng lại thành cuộc cách
mạng lớn”.
Mùa thu năm 1950, Trung Quốc phái hai đoàn cố vấn sang Việt
Nam. Một đoàn chính trị do La Quư Ba làm cố vấn. La Quư Ba trước là Bí thư của
Mao, Bí thư Sơn Tây. Ông này là người nghiêm chỉnh, phục Mao Trạch Đông như một
ông thánh. Ông là người tin cẩn của Mao. C̣n tổng cố vấn về quân sự là Vi Quốc
Thanh. Đoàn cố vấn quân sự đông hơn, v́ nó có đủ cả các bộ máy của quân sự. Ta
không hiểu thâm ư của Trung Quốc là muốn “sửa” ta. Họ sang để giới thiệu kinh
nghiệm Trung Quốc, lư luận Mao Trạch Đông, lư luận quân sự, tổ chức quân đội.
Việc đầu tiên là họ “sửa” quân đội đă. Họ “sửa” cả Đảng trong quân đội cho nên
mới lập ra chức chính uỷ. Trước ta chỉ có chính trị viên. Cũng là chính trị viên
cả nhưng có khác nhau về chức năng. Chính uỷ là người bao trùm lên tư lệnh, chứ
không phải tư lệnh là người quyết định. Lập ra chính uỷ là để xác định vị trí
của Đảng, mà việc đầu tiên là nhằm vào ông Giáp. V́ ông Giáp xuất thân trí thức,
năm 1950 mới có 10 tuổi Đảng, mặc dù ông tham gia cách mạng từ năm 1930, nhưng
ông hoạt động bị bắt, rồi lại đi học, măi đến năm 1940 mới được Bác kết nạp vào
Đảng. Theo Trung Quốc ông là một trí thức xuất thân không phải công nông, mà để
ông nắm quân sự là không ổn. Đặt ra chế độ chính uỷ là để phụ trách Đảng trong
quân đội. Có người đưa cho đoàn cố vấn một danh sách cán bộ trong quân đội xuất
thân gia đ́nh không phải là công nông định để gạt ra ra khỏi quân đội. Ai đưa
danh sách này cho đoàn cố vấn? Tôi ngờ rằng đó là một người trong quân đội,
người này là Lư Ban, phó của Văn Tiến Dũng. Văn Tiến Dũng là cục trưởng, Lư Ban
là cục phó. Ông Giáp mới đưa danh sách đó cho Bác, Bác bảo: “Đốt ngay đi, thay
bằng ấy người th́ quân đội không c̣n cán bộ”; Nguyễn Hữu An, Đặng Vũ Hiệp đều
thuộc danh sách ấy cả, v́ thuộc trí thức. Theo họ chấn chỉnh quân đội trước để
chuyển mạnh sang Tổng phản công. Lúc đó ta tin tưởng quá nhiều vào Trung Quốc,
v́ các ông Trang Điền, Chu Hạ sang nói khi nào quân giải phóng Nam Hạ (đi xuống
phía nam) th́ sẽ giúp Việt Nam đánh Pháp.
Đầu năm 1950, Bác cùng Bộ Chính
trị phân tích t́nh h́nh, mối quan hệ giữa thế và lực. Lực của ta c̣n yếu, mới có
một đơn vị tổ chức thành đại đoàn 308. C̣n lại là tiểu đoàn và trung đoàn. Lực
Lương thực sự cũng yếu, Tổng phản công lúc này cũng khó; chỉ hy vọng ở cái thế.
Bác đă viết trong “học đánh cờ”; lực yếu nhưng thế mạnh th́ lực sẽ được tăng. Về
lư luận th́ đúng, nhưng c̣n trong điều kiện cụ thể lại khác. Nên ta tính năm
1950 chưa thể tổng phản công được. Vi Quốc Thanh chuẩn bị. Mọi việc nhất nhất
xin ư kiến của Mao. Mùa thu năm 1950, ta đánh chiến dịch Biên giới - Đường số 4.
Trần Canh trực tiếp sang giúp. Tôi nghe nói lúc đầu ta định đánh từ Cao Bằng
(theo ư của ông Giáp). Trần Canh nói ta nên đánh Đông Khê. V́ Đông Khê là tuyến
chính nhất ở trên này. Mà đánh vào điểm yếu th́ cả pḥng tuyến của địch sẽ bị
rung. Đánh vào điểm mạnh th́ ta chưa đủ sức. Đúng là Trung Quốc có công giúp ta
trong trận Biên giới. (Về điểm này nên xem lại “Đường số 4 rực lửa” của Đặng Văn
Việt). Sau thắng lợi mới tổng kết chiến dịch và sau đó là tiến hành chỉnh huấn,
chỉnh quân, thay đổi lại tổ chức của quân đội.
Thế là năm 1950-1951 đoàn
cố vấn thực hiện chỉnh đốn quân đội. Các chỗ khác họ chưa đụng tới. Đại hội Đảng
ta năm 1951 đại biểu nước ngoài tới dự chỉ có La Quư Ba, bên Campuchia có Xiêng
Hiêng (sau phản bội), phía Lào có một đại biểu. Tại Đại hội La Quư Ba phát biểu
chủ yếu về thuế nông nghiệp. Sau đó bắt đầu đánh thuế. Họ đem các nề nếp từ bên
Trung Quốc sang, đem kinh nghiệm chỉnh Đảng, chỉnh phong từ Diên An sang. Sau
Đại hội ta không nói ǵ đến cải cách ruộng đất, chỉ thấy nói đến thuyết ba giai
đoạn, v́ thế nên mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất
định bắt phải cải cách ruộng đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa Bác mới
quyết định phải thực hiện cải cách ruộng đất. Bác viết một bài nhan đề “Terre et
Eau” (Đất và Nước) kư tên là Le Ding, đăng ở Tạp chí “V́ một nền hoà b́nh lâu
dài, v́ một nền dân chủ mới”. Bác nói đại ư: “Đất và Nước bao giờ cũng đi liền
với nhau, muốn giải phóng nước phải đưa đất cho dân”. Bác nói khéo để nói lên
việc phải cải cách ruộng đất. Năm 1952, Đảng ta không có đoàn nào dự Đại hội
Đảng cộng sản Liên Xô. Mùa hè năm 1952, sau khi đi Trung Quốc và Liên Xô về Bác
chuẩn bị cho hội nghị cán bộ đầu năm 1953, quyết định cải cách ruộng đất. Trung
Quốc cử đoàn các cố vấn sang bao gồm cố vấn công an, cố vấn tổ chức, cố vấn
tuyên truyền. Đoàn cố vấn cải cách ruộng đất do Kiều Hiểu Quang làm trưởng đoàn.
Kiều là phó Bí thư tỉnh uỷ Quảng Tây. Họ muốn qua cải cách ruộng đất để “chỉnh
đốn” lại Đảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành cải cách ruộng đất đến lúc dừng là
3 năm. Khi đó tôi thường được dự họp Bộ chính trị do đó cũng biêt một số việc.
Đó là việc làm thí điểm cải cách ở đồng bằng và chọn đồn điền Nguyễn Thị Năm.
Nguyễn thị Năm tức là Cát Thành Long có một người con làm trung đoàn trưởng ở
cục chính trị của Văn Tiến Dũng. Gia đ́nh bà trong dịp tuần lễ vàng có hiến 100
lạng vàng. Bà c̣n tham gia công tác của Hội Phụ nữ từ năm 1945 đến 1953. Tôi
chưa đến đó lần nào, các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ thường
hay ăn cơm ở nhà bà. Gia đ́nh Nguyễn Thị Năm cũng giống như các gia đ́nh Đỗ Đ́nh
Thiện, Trịnh Văn Bô giúp đỡ nhiều cho cách mạng. Chọn địa chủ Nguyễn Thị Năm để
làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung Quốc. Họp Bộ Chính trị Bác nói:
“Tôi đồng ư người có tội th́ phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu
phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho
cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành
hoa”. Sau cố vấn Trung Quốc là La Quư Ba đề nghị măi, Bác nói: “Thôi tôi theo đa
số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”. Và họ cứ thế làm. Thuyết của họ là không
dựa vào tổ chức cũ mà tổ chức lại một số tổ chức khác của Đảng, họ phủ nhận hết
chỉ các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể. Ai lănh đạo Cách mạng Tháng
Tám thành công, ai lănh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến 1953, thế mà họ
thẳng tay bỏ hết, trong đó có mầy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không
phải là cải cách ruộng đất mà là đánh vào Đảng ta. May mà đến năm 1956 ta kịp
dừng lại, nếu không th́ tan nát hết. Sau này có những phiên họp Bộ Chính trị tôi
hay ngồi lại cùng Bác nói chuyện, có lần bác trầm ngâm nói: “Ḿnh đă nói để
kháng chiến xong đă, mới tiến hành cải cách ruộng đât, cứ ép măi. Mà nếu có làm
cũng làm theo cách ta, chứ không theo cách của họ”.
Đánh thuế công thương
nghiệp, cải tạo tư sản cũng là do Trung Quốc đề ra. Hậu quả là hơn một triệu
người di cư vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ điều đó chỉ đúng một phần nào, c̣n
là do ta làm vội, làm ẩu, đánh tràn lan hết. Không phải địa chủ mà phú nông,
thậm chí trung nông cũng bị đánh. Đảng viên nhiều người tốt cũng bị đánh. Kết
quả của những chính sách cải cách lúc đó là như thế. Do đó khi cách mạng tháng
Tám thắng lợi không khí vui mừng đến như thế, mà chiến thắng Điện Biên Phủ không
khí không được vui bằng.
Tôi nhớ có chuyện thế này, đầu năm 1951, lúc đó
tôi là chánh văn pḥng của Tổng bí thư nên được dự các cuộc họp của Thường vụ
Trung ương. Trong một cuộc họp Thường vụ Trung ương, Bác nói Stalin không được
như thế đâu, chỉ v́ người ta cần có một ngọn cờ mà đưa lên như thế. Nghĩa là Bác
biết rơ Stalin. Người không sùng bái, cũng như không sùng bái Mao Trạch Đông.
Nhiều lúc Bác cũng phải ngoại giao. Cũng như Bác không thích ǵ Tưởng Giới
Thạch, nhưng Bác vẫn dịch cuốn “Trung Quốc mệnh vận” do Tưởng viết, rổi đem biếu
Trương Phát Khuê. Tranh thủ để giữ vững chính quyền, giảm được kẻ thù. Bác hết
sức tinh trong nh́n nhận t́nh h́nh chính trị. Nhưng Người ít nói. Nhiều người
không biết cứ tưởng bác mơ hồ trong vấn đề này khác. Chính trị Bác sắc sảo,
nhưng Người rất ghét nói ba hoa. Bác bao giờ cũng v́ dân, v́ nước, chứ không v́
cá nhân ḿnh. Nhiều người sắc sảo nhưng lại v́ bản thân ḿnh nhiều, củng cố vị
trí của ḿnh nhiều hơn. Nếu người lănh đạo cách mạng nào cũng được như Bác th́
không bao giờ chính quyền bị đổ, v́ Bác lúc nào cũng có Đảng, có dân, quan hệ
với dân chặt chẽ không bao giờ làm điều ǵ v́ ḿnh, tất cả đều xuất phát v́ nhân
dân. Tôi cho rằng hiểu được Bác không phải dễ, làm theo Bác càng khó
hơn.
Sau chiến thắng 1954, Bác gọi tôi đến và căn dặn: “Ta chiến thắng
rồi công tác tuyên truyền chỉ nên biểu dương tinh thần anh dũng của quân và dân
ta, không nên sỉ nhục Pháp. V́ như thế sẽ khích động tinh thần tự ái dân tộc của
họ. Sau này đối với Mỹ, Bác cũng căn dặn như thế.
Tháng 10 năm 1956, đồng
chí Trường Chinh xin từ chức Tổng bí thư, v́ sai lầm trong cải cách ruộng đất,
Trung ương bàu đồng chí Lê Duẩn làm Tổng bí thư, lúc này đồng chí Lê Duẩn vẫn ở
Nam Bộ. Trong lúc chờ đồng chí Lê Duẩn ra nhận chức Tổng bí thư, Trung ương đề
nghị Bác làm Chủ tịch, tạm kiêm nhiệm chức Tổng bí thư. Để giúp Người giải quyêt
công việc hàng ngày, Trung ương cử đồng chí Vơ Nguyên Giáp sang giúp Bác. Ngoài
ra c̣n có công việc chuẩn bị cho Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng. Đồng
chí Vơ Nguyên Giáp cùng với đồng chí Trần Quang Huy, Hoàng Tùng chuẩn bị sơ bộ
một bản đề cương báo cáo chính trị. Khi đồng chí Lê Duẩn ra Hà Nội làm nhiệm vụ
Tông Bí thư, đồng chí trực tiếp giải quyết mọi công việc của Trung ương cùng
Bác. Đồng chí bắt tay vào việc chuẩn bị cho Báo cáo chính trị tại Đại hội. Giúp
cho đồng chí Lê Duẩn trong những công việc này có Trần Quang Huy, Hoàng Văn
Thái, Hoàng Tùng. Đồng chí Lê Duẩn làm việc liên tục cùng các đồng chí trên ở
nhà số 6 phố Hoàng Diệu.
Đồng chí Lê Đuẩn phân tích t́nh h́nh miền Nam từ
năm 1954 đến lúc đó và tŕnh bầy có hệ thống đường lối giải phóng miền Nam. Đồng
chí viết thành dự thảo Nghị quyết tŕnh Bác và Bộ chính trị thảo luận. Trong quá
tŕnh chuẩn bị các đồng chí Quân uỷ Trung ương cũng tham gia thảo luận, góp thêm
nhiều ư kliến. Quá tŕnh chuẩn bị Nghị quyêt này kéo dài gần một năm.
Về
cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1968, Người đưa ra sáng kiến này là
đồng chí Lê Duẩn, sau khi đă trực tiếp chỉ đạo mọi mặt công tác ở miền Nam từ
năm 1958 (nói đúng hơn là từ năm 1946 đến 1954 và từ năm 1954 đến năm 1957). Bộ
Chính trị và Bác quyêt định mục tiêu, phương hướng và các vấn đề khác của chiến
dịch. Cuối năm 1967, Bác đi chữa bệnh ở Trung Quốc. Giáp Tết, Trung ương họp ở
Kim Bôi quyết định mở chiến dịch này. Đồng chí Lê Duẩn trực tiếp chỉ đạo mọi
công tác chuẩn bị chiến dịch này ở cả hai miền cùng với Quân uỷ Trung ương và
Trung ương cục miền Nam.
Sau đây tôi kể thêm một số kỷ niệm mà tôi không
bao giờ quên. Khi Bác đi Liễu Châu gập Chu Ân Lai, th́ ở nhà chị Bác (bà Bạch
Liên) qua đời. Lúc đó Bác cùng Bộ Chính trị đóng tại xă Kim Quan, huyện Yên sơn,
tỉnh Tuyên Quang. Nhận được điện báo từ khu Bốn đánh ra, tôi báo cáo anh Trường
Chinh, anh Trường Chinh ngậm ngùi nhưng không nói phải làm ǵ. Khi Bác về tôi
báo cáo lại. Bác hỏi tôi: “Thế các chú có nhân danh Bác điện vào chia buồn và
xin lỗi gia đ́nh và địa phương là Bác bận việc không về được không? Tôi trả lời:
“Thưa Bác, không ạ”. Bác nói: “Các chú ngốc quá”.
Trong thời kỳ kháng
chiến chống đế quốc Mỹ, Bác giao cho tôi tham gia chuẩn bị Hội nghị chính trị
đặc biệt. Bác cho phép tôi được góp ư kiến vào bài nói của Người tại Hội nghị và
bồi dưỡng cho một số người phát biểu tại Hội nghị trong đó có anh hùng
Núp.
Năm 1968 Bác có vịệc phải ra nước ngoài, ở nhà Ban Bí thư mà cụ thể
là đồng chí Tố Hữu có chủ trương dong bọn giặc lái Mỹ mà ta bắt được đi diễu qua
các đường phố để cảnh cáo Mỹ. Khi về Bác hỏi: “V́ sao các chú lại làm một việc
dại dột như thế?” Tôi thành thật báo cáo Bác là ḿnh không tham gia việc này.
Bác nói luôn rằng tôi cũng ở trong Trung Ương mà lại không chịu trách nhiệm sao
được, dư luận thế giới sẽ không đồng t́nh về việc làm của ta.
Bác đọc báo
thấy các báo đưa tin Bộ Văn hoá đúc tượng nửa người của Bác bằng đồng (việc này
do đ̣ng chí Hà Huy Giáp quyêt định). Bác hỏi tôi, (v́ lúc đó tôi làm công tác
tuyên truyền): “Ai cho phép các chú làm? Đồng để dùng vào việc quân, không phải
để tạc tượng”.
Từ khi tôi phụ trách báo Nhân Dân và một phần công tác của
Ban Tuyên huấn, tôi thường xuyên được Bác dạy bảo, phê b́nh, cho chỉ thị công
tác, khi gặp trực tiếp, khi gọi qua điện thoại, hoặc qua các đồng chí khác. Bác
dạy tôi cả kinh nghiệm viết báo. Bác viết khá đều đặn cho báo Sự Thật, báo Nhân
Dân. Những bài viêt của Bác báo Nhân Dân đă tập hợp lại. Tuy nhiên bản thảo của
Bác giữ lại không nhiều.
Tháng 7 năm 1969 tôi đưa Charles Fourniau, phóng
viên thường trú báo L’Humanité đến phỏng vấn Bác. Hai người phóng viên cuối cùng
tôi đưa đến phỏng vấn Bác là Marta Rohad của Cuba và Charles Fourniau. Bác cho
gọi tôi lên sớm để góp ư kiến về những câu trả lời.Tôi nói chắc đồng chí đó sẽ
hỏi cảm tưởng của Bác khi Người vào tuổi 80. Bác nổi nóng, dồn cho tôi một hồi.
Người nói chúng tôi tại sao lại bày ra việc kỷ niệm 80 tuổi, so với Các Mác,
Lênin, chỉ là con cháu thôi, các chú tưởng rằng Bác cũng như người khác hay sao?
V́ lúc bấy giờ không khí chống sùng bái cá nhân rât kinh khủng. Đúng lúc đó th́
Charles Fourniau vào. Chuyện của hai Bác cháu tạm dừng. Nhưng chủ đề câu chuyện
Charles Fourniau hỏi Bác hôm đó lại về chuyến đi của Bác từ Pháp sang Liên Xô
năm 1923. Sau buổi làm việc khi Charles Fourniau về rồi, Bác gọi tôi vào, và
dường như Người đă quên chuyện lúc trước, Người chỉ vào trong nhà và nói: “Trong
tủ lạnh có nhiều thứ, chú vào lấy mà ăn”.
Một kỷ niệm không bao giờ quên
đối với tôi là trước khi vĩnh biệt chúng ta mấy ngày Bác cho gọi tôi vào, Người
giơ tay cho tôi nắm rất lâu. Khi Bác mất tôi được tham gia công việc tổ chức
tang lễ. Túc trực bên quan tài của Người. Tôi viết phần tiểu sử của Người. C̣n
bài điếu văn tôi viết dài quá, anh Lê Duẩn bảo Đông Ngạc viết lại.
T́m
hiểu về Bác tôi thấy Bác có 10 nỗi đau lớn.
Một là gia đ́nh tan nát. Mẹ
và người em út mất sớm v́ nhà nghèo không đủ tiền mưua thuốc, không ai chăm sóc,
trong lúc bố đi vắng. Cụ Nguyễn Sinh Sắc bị thù oán nên bị hại. Tính cụ ngay
thẳng, phê phán thẳng thắn những người xấu và làm theo ư ḿnh cho là phải. Bọn
quan lại ghét cụ. Nhân có một người bị phạm tôi đưa đến, lệ ngày xa trước khi
xử án phải nọc người đó mấy chục roi trước. Chẳng may người phạm tội bị bệnh từ
trước nên sau khi bị đánh trả về một thời gian người ta chết. Nhân việc này trên
mới cách chức cụ và đầy đi biệt xứ. C̣n ông anh và bà chị Bác cũng bị tù đày,
rồi sau mất sớm.
Nỗi đau thứ hai là: sau vụ chính biến Tưởng Giới Thạch,
Bác đi Liên Xô. Trước đó Bác phụ trách các nước Đông Nam Á của Quốc tế cộng sản.
Bác có đi dự Đại hội V Quốc tế cộng sản nhưng không được bầu vào Ban chấp hành.
Lần này sang, do cách hoạt động của ḿnh Bác bị Liên Xô nghi ngờ là chưa đủ tiêu
chuẩn cộng sản. Sang Liên Xô Bác không được giao việc ǵ cả, không có chức vụ
chính thức trong tổ chức quốc tế. Bác xin về, họ không cho tiền. Sau Bác phải đi
xin bạn bè tiền để về. Bác về Xiêm t́m đến các gia đính người Nghệ như gia đ́nh
cụ Đặng Thúc Hứa, Bác hoạt động trong Việt kiều. Sau Bác có sang cả Lào để gây
dựng cơ sở ở đó. như thế việc Bác về Xiêm là do Bác chủ động chứ không phải do
Quốc tế phân công. Nghe tin ở nước nhà giải tán Việt Nam thanh niên Cách mạng
đồng chí hội, để lập Đảng cộng sản, Bác cho rằng chưa phải lúc. Bác cho rằng,
lúc đầu hăy tập hợp thanh niên và giương cao ngọn cờ yêu nước đă. Có tổ chức
Đảng cộng sản chỉ là tổ chức bí mật chứ chưa đưa Đảng cộng sản ra và nói đấu
tranh giai cấp vội, cứ nói đánh Tây cho quần chúng dễ hiểu. Theo tôi v́ sao lại
lập Đảng cộng sản? Chuyện này có lẽ bắt nguồn từ Đảng cộng sản Pháp. Đảng cộng
sản Pháp sợ liên lụy không dám bênh vực phong trào cách mạng ở các nước thuộc
địa nữa. Sau cách mạng tháng Mười, hai người cộng sản Pháp sang Liên Xô gặp
Lênin và Phrôtxa và Cachin. Phrôtxa không đồng ư với Lênin một số điểm cho nên
về nước không được dùng mà chỉ có Cachin mới được dùng. Những điều này tôi đoán
lúc đầu Bác không biết, v́ lúc đó Bác đang là một nhà cách mạng chân thành,
trong sáng, không nghĩ đến những điều phức tạp bên trong.
Đảng cộng sản
Pháp cho rằng bác không lập ra Đảng cộng sản mà chỉ tuyên truyền chủ nghĩa yêu
nước, lại phê phán Đảng cộng sản Pháp khá nhiều, trên báo chí và ở Đại hội Quốc
tế cộng sản Đảng cộng sản Pháp lưu ư không tán thành Bác. Năm 1923, Nguyễn Văn
Tạo là học sinh băi khoá ở Sài g̣n được sang Pháp học, được kết nạp vào Đảng
cộng sản Pháp, rồi vào Trung ương ngay. Nguyễn Ái Quốc không được bàu vào Trung
ương, Bác làm ở Ban Thuộc địa, Đảng cộng sản Pháp cử 3 người trong đoàn Pháp
sang dự Đại hội thứ VI Quốc tế cộng sản trong đó có Nguyễn Văn Tạo. Nguyễn Văn
Tạo đề nghị là ở Đông Dương điều kiện đă chín mưồi, đề nghị cho thành lập Đảng
cộng sản. Sau đó mới tác động đến nhóm Bắc Kỳ - Ngô Gia Tự, Nguyễn Phong Sắc,
Nguyễn Đức Cảnh, ba người hăng hái nhất lập ra chi bộ Đông Dương cộng sản Đảng,
đề nghị giải tán Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Việc đó chính là
phê phán Nguyễn Ái Quốc, hay gọi là sự sửa sai đối với Nguyễn Ái Quốc. Nhưng Bác
vẫn im lặng t́m cách sửa sai việc đă rồi, v́ ba tổ chức t́m cách chống nhau gây
chia rẽ. Sau Lê Văn Lương nói với tôi là khi Bác về Trịnh Đ́nh Cửu có hỏi Bác
giấy uỷ nhiệm của Quốc tế cộng sản, v́ Bác nói là Quốc tế cử về. Bác nói: “Đồng
chí thử tưởng tượng xem nếu tôi mang trong người giấy uỷ nhiệm của Quốc tế cộng
sản th́ liệu tôi có về được đến đây không ?”
Trong số những người dự hội
nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản có Lê Hồng Sơn, Đông Dương cộng sản đảng. Có
người nói không có Đông Dương cộng sản đảng là không đúng. Người sáng lập An Nam
Cộng sản Đảng là Hà Huy Giáp, nhưng anh theo quan điểm công nông, đưa công nhân
lên là chính, nên mới đưa Hạ Bá Cang lên. Hạ Bá Cang, Nguyễn Thiều, Châu Văn
Liêm được cử đi dự Hội nghị hợp nhất, nhưng sau đó Hạ Bá Cang bị bắt ở Hài Pḥng
nên không dự được. Đại diện cho Bắc kỳ là Trịnh Đ́nh Cửu và Nguyễn Đức Cảnh. Bác
đưa ra chính cương vắn tát và điều lệ vắn tát, thật sự là Bác đă trở lại đường
cách mạng với 3 mục tiêu: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Mà dân tộc độc lập, dân
quyền tự do, dân sinh hạnh phúc chính là tư tưởng của Tôn Văn. Nhưng cách thực
hiện khác hoàn toàn. Tôn Văn dùng cách mạng tư sản, bác là làm cách mạng nhân
dân, cách mạng quần chúng rồi tiến dần lên cách mạng chủ nghĩa xă hội thật sự.
Bác nói là làm từ từ, dần dần. Tiến lên chủ nghĩa xă hội ngay làm sao được với
một nước có nền nông nghiệp lạc hâu. Mẫu của Stalin không phải đâu cũng áp dụng
như thế. Nhiều ông cách mạng c̣n trẻ kinh nghiêm it cứ tin theo sách, nhưng bác
không khờ như thế.
Năm 1931-1932, ở Hương Cảng Bác không có chức vụ ǵ,
nhưng v́ sự nghiệp cách mạng Bác vẫn làm. Bác gửi thư cho Quốc tế Cộng sản đề
nghị giao việc, v́ thời gian đó bác chỉ làm nhiệm vụ như một hộp thư. Đường
giao thông của ta với Pháp bị vỡ do một anh thuỷ thủ người Pháp bị bắt khai ra.
Khi tôi ở trong tù th́ được thông báo cho biết là Trần Văn Giàu bị bắt khai ra
đường dây. Nhưng sau này tôi hỏi lịch sử Đảng Sài g̣n, họ nói có tài liệu chứng
minh là không phải Trần Văn Giàu khai. Mật thám t́m được chỗ Bác ở và bắt Bác.
Việc Bác được tha là nhờ luật sư Loseby. Ông luật sư căi cho bác là ông Stafe
Krip (thực tế là Nowen Krip), sau này ông là bộ trưởng dưới thời thủ tướng
Churchill. Việc Bác bị bắt rồi lại được tha Liên Xô không hiểu, họ nghi ngờ có
điều ǵ phức tạp trong vụ án. Tại sao lănh tụ cộng sản mà được đế quốc tha yên
ổn, cho nên trong ṿng 4 năm họ không giao việc ǵ. Bác là nhân viên thường ở
Ban Thuộc đia. Sau đó Bác nhận làm nghiên cứu sinh phó tiến sĩ, nhưng Người rất
chán. Đại hội VII của Quốc tế cộng sản Bác không có cương vị ǵ cả. Đại hội lần
thứ nhất của Đảng ta họp trước đó, bầu Bác là Uỷ viên dự khuyết, và c̣n ghi rơ
chỉ là công tác ở nước ngoài. Chính v́ thế nên Bác không có tên trong đoàn đại
biểu của Đảng ta sang dự đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ VII. Đoàn đại biểu của
Đảng cộng sản Việt Nam chỉ có Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong. Sau khi xin
việc măi không được, Bác xin về nước. Gần đây tôi có gặp một nhà trí thức Việt
Nam, người này có gặp một nhà trí thức Pháp, họ nói Bác suưt bị hại v́ những
chuyện lôi thôi này. Ông lănh tụ Nhật bản Nasaka Sanzo cùng bị làm rầy rà. Những
chuyện này Bác biết cả.
Thời gian này quan hệ với Trung Quốc không gay
go, v́ t́nh bạn của Bác với Chu Ân Lai, Lư Phú Xuân, Diệp Kiếm Anh.. khi Bác ở
Quảng Châu là thân thiết. Năm 1938-1939 Chu Ân Lai cũng giúp đỡ Bác nhiều, chỉ
có sau này với Mao Trạch Đông là Bác gặp khó khăn thôi.
Về việc Bác bị
bắt năm 1942 ở Trung Quốc tôi được biết như sau: Chuyện này do Hoàng Điền, đại
tá về hưu, người được dự các lớp huấn luyện ở Liễu Châu năm 1944, nói với tôi.
Mục đích chuyến đi này của bác là gặp Chu Ân Lai để hỏi thăm t́nh h́nh quốc tế.
Lúc Bác bị bắt trong người có tấm danh thiếp: Hô Chí Minh - Việt Nam hoa kiều kư
giả và một số giấy tờ khác. Hoàng Điền nói: Trương Bội Công đứng đầu bọn t́nh
báo của Trương Phát Khuê đă bố trí Trần Báo ở với những người cách mạng của ta
thường đi qua để bắt. Tên này là em bà Ngô Khổn Duy, vợ ông Hồ Học Lăm, người đă
biết rơ Bác Hồ. Bác bị hành hạ khổ sở. Nhưng nỗi đau nhất của Bác là Người bị
bắt trong lúc t́nh h́nh thế giới và trong nước có nhiều biến động. Nếu ở nhà lúc
đó không có anh Trường Chinh th́ thật sự chúng ta cũng không có ngày nay đâu. Tả
lại phần nào nỗi đau của ḿnh trong những ngày bị bắt giữ, Bác có viết bài thơ:
“Trên đời ngàn vạn điều cay đắng, cay đắng chi bằng mất tự do”. Càng cay đắng
hơn là Bác bị bắt trong lúc cách mạng rất cần Người. Nỗi đau thứ tư là sau năm
1945 Liên Xô, Trung Quốc không công nhận ta, Đảng cộng sản Pháp cũng nghi
ngờ.
Nỗi đau thứ năm là 1950-1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang
phê phán gay gắt, buộc phải thay đổi đường lối dẫn ta đến sai lầm trong cải cách
ruộng đất. Tuy nhiên Trung Quốc giúp ta chỉnh lại quân đội có phần đúng. Mục
đích của họ là sửa lại cả quân sự, chính trị, tổ chức, cách dùng người. Nhân nói
về chính sách dùng người của Bác tôi muốn kể chuyện này. Có lần trong một cuộc
hội nghị về công tác tổ chức, Lư Ban nói: “Đối với con cán bộ khi kết nạp vào
Đảng không cần phải thời gian dự bị, mà được chính thức ngay”. Bác nói ngay:
“Chú nói như thế không đúng. Đối với người cách mạng phải xem cụ thể người ấy
như thế nào. V́ có chuyện hổ phụ sinh khuyển tử, tức là hổ đẻ ra con là chó như
Phan Bá Ngọc là con của Phan Đ́nh Phùng đă đưa mật thám bắt Phan Bội Châu. Nhưng
cũng có nhứng địa chủ lớn như Bành Bái, địa chủ nổi tiếng ở tỉnh Quảng Đông lại
là người tiến bộ, Đảng cộng sản coi là anh hùng. Cho nên không được máy móc,
không được xem nguồn gốc xuất thân, lư lịch làm quan trọng”.
Họ “sửa” khá
nhiều nên Bác đau ḷng. Bao nhiêu nhân sĩ Bác lôi kéo tranh thủ, sau đó phải gạt
hết, có những người c̣n bị đấu tố nữa.
Nỗi đau thứ sáu là Bác không ngờ
Liên Xô và Trung Quốc lại xung đột, mẫu thuẫn đến gay gắt như thế. Bác nói phe
xă hội chủ nghĩa do Liên Xô và Trung Quốc lănh đạo. Nhưng Liên Xô và Trung Quốc
cùng lănh đạo thế nào được. Một nước chỉ có một mặt trời. Mao Trạch Đông là mặt
trời hay Stalin là mặt trời đây. Liên Xô hay Trung Quốc đứng đầu lănh đạo. Chỉ
có một mà thôi. Hai bên xung đột nên bên nào cũng muốn lôi kéo Bác về phía ḿnh.
Bác bị giằng xé trong suốt những năm cuối của cuộc đời.
Nỗi đau thứ bẩy
là sự bất hoà giữa mấy người lănh đạo của ta. Không phải mọi việc đều êm đẹp cả.
Họ nhất trí với nhau về quan điểm đánh Mỹ, nhưng quan điểm quốc tế không thống
nhất, về quan hệ cá nhân với nhau không thuận lợi. Sau này Bác bảo tôi viết bài:
“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Ư Bác là muốn nói mấy
ông này. Bài đó tôi viết Bác sửa lại nhiều. Sau Bác nói anh Tố Hữu cũng sửa nữa.
Tôi được biết từ năm 1966, cứ mỗi chiều thứ bẩy, Bác lại cho làm cơm và nói:
“Mấy chú cứ đến đây ăn cơm vui vẻ với nhau, có ǵ khúc mắc cứ nói hêt ra, không
nên để bụng”. Anh Nguyễn Chí Thanh làm thư kư cho những cuộc đó cho đến khi anh
đi vào Nam. Sau anh Lê Văn Lương nói lại với tôi là họ cứ đến ăn cơm, chén hết
rồi họ về, chẳng ai nói với ai điều ǵ. Nếu không biết việc này th́ không hiểu
hết tại sao trong di chúc Bác lại dặn phải đoàn kết toàn Đảng, từ Trung ương đến
đia phương. Trên mà đă đoàn kết rồi th́ cần ǵ nói đến cơ sở nữa. Trên đoàn kết
mà dưới không th́ lôi thôi to, các ông trị cho chết. Chính v́ thế mà bác rất
buồn. Có thể có một vài hiện tượng, có đồng chí nào đó muốn vượt Bác, Bác biết
hết, nhưng Bác không quan tâm.
Nỗi đau thứ tám là t́nh h́nh trong nước và
thế giới trước khi Bác qua đời đều căng thẳng, nên đầu óc Bác không được thư
thái. Cuộc kháng chiến chông Mỹ kéo dài, nhân dân ta hy sinh nhiểu của, nhiều
người, Bác rất đau ḷng. Tuy Bác nói là Trường kỳ kháng chiến nhưng thực sự Bác
không muốn cuộc chiến tranh phải kéo dài. Từ đầu đến cuối Bác không muốn có
chiến tranh. Cho nên mới có cuộc hoà hoăn với Pháp. Đối với Mỹ cũng thế, Bác
muốn tranh thủ, nhưng không được mới phải đánh. Cộng thêm những năm tháng ốm đau
kéo dài (trên 3 năm), có lúc Người cáu gắt cũng v́ lẽ đó. Tất cả những nỗi đau
này Bác không thổ lộ cùng ai, kể cả với anh Lê Duẩn, anh Trường Chinh. Nếu chúng
ta không hiểu những nối đau của Bác, không hiểu được sự chín chắn, đúng đắn của
Bác trong chính trị th́ ta sẽ giáo điều, nói không sát.
Tổng kết lại, cho
đến nay Đảng ta có 4 thắng lợi lớn và 4 thất bại. Bốn thắng lợi th́ đă rơ: Thắng
lợi thứ nhất là Tổng khởi nghĩa thắng lợi, thắng lợi thứ hai là Kháng chiến
chông Pháp thắng lợi, thắng lợi thứ ba là Kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, thắng
lợi thứ tư là thực hiện công cuộc đổi mới đang thắng lợi dần dần. Thắng lợi
trong công cuộc đổi mới tuy Bác không c̣n, nhưng đường lối đi đúng tinh thần độc
lập tự chủ, tức là trở lại với chính ḿnh, trở lại với tư tường Hồ chí Minh mới
đổi mới được. Cứ để như cũ chắc hôm nay nước đổ rồi. Bốn thắng lợi đều do tư
tưởng độc lập tự chủ, do tư tưởng Hồ Chí Minh quyết định.
Bốn lần thất
bại là do học theo Trung Quốc, học theo Liên Xô. Đó là xông thẳng tới chính
quyền mà là chính quyền công nông thôi, đó là cải cách ruộng đât, đấu địa chủ.
Bác không phải là không nói tới đấu tranh giai cấp. Cụ nói đấu tranh giai cấp
phụ thuộc vào đấu tranh dân tộc.
Tất cả các lănh tụ ở các nước khi cầm
quyền không có ai trong sáng như Hồ Chí Minh, kể cả Fidel Castro. V́ Fidel cố
giữ một cái ǵ đó đă cũ, hai nữa là ông c̣n dành một phần cho “em”. Bác không
làm như thế. Ở Cuba không ai dám trái với Fidel. Kim Nhật Thành th́ quá tệ. C̣n
Mao Trạch Đông, Stalin, Khrutchev, Gorbachov... cũng không thể hơn Bác. Việc Bác
sống và sinh hoạt giản dị như thế không phải Người cố ư thể hiện cái ǵ là đồ
Nghệ, lập dị mà v́ Bác thấy dân c̣n đói khổ, chiến tranh làm họ nghèo đói chêt
chóc. Bác không nỡ ḷng sống một cách cách biệt. Vả lại Bác xuất thân từ một gia
đ́nh nghèo khổ. Bác giữ được phẩm chất như thế suốt cuộc đời.
Tôi không
đồng ư nếu chỉ nói rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mac-Lênin vào điều kiện Việt Nam. Tôi đă viết cuốn sách: “Từ tư duy truyền thống
đến tư tưởng Hồ chí Minh”. Nói như thế có nghĩa là Bác có nắm được tinh hoa của
chủ nghĩa Mác Lênin. Bác nắm được phép biện chứng của chủ nghĩa Mác-Ănghen cộng
với tư duy thực tiễn của người Việt Nam. Tức là điều kiện ở Việt Nam, đất nước
bị đô hộ kéo dài, nhân dân cực khổ, nên phải nói những điều thiết thực, không
nói lư luận viển vông. Bác có kinh nghiệm nhiều. Bác nói ông Phan Bội Châu, ông
Phan Chu Trinh là những người yêu nước rất đáng kính, nhưng các ông ấy không
biết làm công tác quần chúng, không thấy vai tṛ của dân đen. Bác nói và Bác hoà
nhập với nhân dân ngay từ khi Người về Cao Bằng. Nếu nói Bác chỉ học Mác -
Ănghen thôi th́ không đúng, Bác rất sáng tạo, quư trọng con người. tư tưởng Hồ
chí Minh không phải chỉ là sự vay mợn, mà là sản phẩm tinh thần của một phần tư
duy con người Việt Nam.
Sai lầm lớn nhất của Chủ nghĩa Xă hội là cứ xông
thẳng tới chính quyền. Và khi đă nắm được chính quyền rồi đáng lẽ phải thực hiện
dân chủ th́ lại nhấn mạnh chuyên chính. so sánh Bác với các Tổng bí thư các nước
mới thấy sự khác biệt. Mác nói mục đích của cách mạng vô sản là giành chính
quyền dân chủ, chuyên chính với kẻ thù để bảo vệ nền dân chủ. Cái sai nữa là,
sau khi giành được chính quyền rồi th́ thực hiện công hữu ngay lập tức, công hữu
cực đoan, tức là vô sản hoá hơn cả tư bản. Mọi người không ai có ǵ cả, chỉ là
người làm công ăn Lương, nên động lực mới yếu đi. Mác dự báo khoa học có cái
đúng có cái trật. Nhưng về xu thê lịch sử là Mác nói dúng. Chủ nghĩa tư bản
không thể tồn tại lâu mà nó phải thay thế bằng công bằng hơn, cuối cùng là chế
độ công hũ. Hiện tại không phải là công hữu hết mà chỉ cần xây dựng một nền
kinh tế hợp tác là đủ. Chúng ta chưa dám nói khác. Người cầm quyền lại càng sợ
nói khác đi.
----- O -----
Lời ban biên tập: Tác giả của bài viết
sau đây là ông Hoàng Tùng, một nhân vật cao cấp trong ĐCSVN. Ông đă từng giữ
cương vị Tổng biên tập báo Nhân Dân, ủy viên trung ương Đảng, thường trực ban bí
thư v.v... Đoạn hồi kư sau đây của ông trả lời cho ta nhiều câu hỏi: Khoảng thời
gian 1934-1938 Nguyễn Ái Quốc làm ǵ ? Uy tín của Nguyễn Ái Quốc trong Quốc Tế
Cộng sản như thế nào ? Hà Huy Tập đă báo cáo ǵ với Quốc tế cộng sản về Nguyễn
Ái Quốc ? Stalin có tín nhiệm Nguyễn Ái Quốc hay không ? Trung Quốc và Liên Xô
có công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hoà hay không ? V́ sao xảy ra cải cách
ruộng đất đau ḷng ? Thái độ của Hồ Chí Minh trong việc xử bắn bà Nguyễn Thị Năm
? v.v…
Chúng tôi gửi tặng độc giả đoạn hồi kỳ này nhằm để bạn đọc quan
tâm tới lịch sử Việt Nam cận đại có thêm tài liệu tham khảo. Tuy nhiên, ban lănh
đạo ĐCS Việt Nam hiện tại không hoan nghênh hồi kư này, cho rằng tác giả đă để
lộ nhiều bí mật của đảng, và như thế nó là một tài liệu “có hại”. V́ nhận định
đó mà hồi kư của Hoàng Tùng đă không được phổ biến rộng răi dưới h́nh thức
in.
Đối với phần đông dân chúng trong nước, sự hiểu biết về nước Mỹ quả thật
c̣n quá ít ỏi. Cách tuyên truyền của Đảng cộng sản đă khiến nhiều người nh́n
nước Mỹ bằng những dữ kiện sai, với một thế giới quan thù hằn, đầy thành kiến:
Nước Mỹ tuy giàu có nhất thế giới, nhưng xă hội Mỹ đầy tệ nạn, với lối sống đồi
bại, buông thả, nạn phân biệt chủng tộc diễn ra hàng ngày, người ta có thể cầm
súng giết nhau bất cứ lúc nào,v.v…
Có thật như thế không ? Tác giả bài
viết dưới đây là một đảng viên kỳ cựu ĐCSVN, ông từng được mệnh danh là “Con Hùm
xám của đường số 4” trong kháng chiến chống Pháp.
Đây là kết quả ghi chép
được của ông nhân một lần sang thăm nước Mỹ. Những ǵ mà ông được thấy tận mắt
khác xa so với những ǵ mà Đảng đă dạy ông. Chắc hẳn từ trong tâm khảm, ông đă
khoan khoái thốt lên rằng: “Suưt nữa th́ ta phải mang theo sang thế giới bên kia
một sự dối lừa”
Cũng xin nói thêm rằng, trong đoạn viết về những người
Việt Nam ở Mỹ, ông vẫn c̣n bị nhiễm lối nh́n nhận mà ĐCS đă “trao tặng” cho ông.
Ông không phân biệt được “yêu nước” và “yêu Đảng” là hai khái niệm khác nhau.
Những người Việt xa xứ có thể không chấp nhận sự lănh đạo đất nước của ĐCSVN,
nhưng dù họ là ai th́ chắc chắn trong họ luôn ấp ủ một t́nh cảm yêu thương da
diết của những người con luôn hướng về đất mẹ.