|
Giă từ ông Bốn và nghề bồi
tầu, bác Hồ đi Anh, nói là để học tiếng Anh.
Người kể chuyện về cuộc đời bác khúc này là ông
Nam. Ở Anh, việc đầu tiên của bác là đi
cào tuyết cho trường học. Làm đúng được
một ngày th́ mệt bá thở, phải quịt. Sau
đó, xin được một chân đốt ḷ. Nhưng nghề
này cũng không khá. Bác than "Ở đây thật đáng sợ, luôn luôn ở
trong cảnh tranh tối tranh sáng ... Trong hầm hết sức nóng, ngoài
trời hết sức rét, và không có đủ quần áo, tôi bị cảm ..."
(trang 25).
V́ bị cảm, bác
nằm phè luôn hai tuần. Lúc ăn gần cạn láng, bác xin được một chân
rửa bát kiêm đổ rác. Ông Nam kể rằng trong lúc hành nghề đổ rác, bác
biểu diễn được một tṛ ngoạn mục: Thấy những phần
ăn thừa bị vứt đi phí quá bác "giữ ǵn
sạch sẽ và đưa lại cho nhà bếp". Người đầu bếp
Ét-cốp-phi-e bèn cảm khái và cho bác lên chức làm bánh.
Công việc nhẹ nhàng hơn rửa bát mà lương cao hơn.
Đi Xem Chiến
Tranh
“Ông Nam kể
tiếp: "Thế giới đại chiến bùng nổ... Anh ba đến nói với tôi: "Xin từ
biệt anh Nam "
- Anh đi
đâu ?
- Tôi đi Pháp.
- Không nói
chơi chứ? Nước Pháp đang có chiến tranh. Anh đến Pháp làm ǵ?
- Tôi đi xem.
Tôi sẽ viết thư cho anh.
Anh Ba bắt tay
tôi, chúng tôi hôn nhau. Và cứ thế anh Ba đi, không va ly, không
hành lư”. (trang 27).
Bác Hồ đ̣i "đi
xem chiến tranh !"
Các cụ ta dạy
rằng: "Ăn t́m đến, đánh nhau t́m đi". Dân tộc các nước khác dù
không từng nghe kinh nghiệm khôn ngoan của các cụ ta, cũng chỉ xem
chiến tranh trên màn ảnh, trong rạp hát, trong sách vở ... Lạng
quạng vào vùng chinh chiến để chết mất xác à ? Bác Hồ từ đầu sách
tới giờ vẫn đưa ra những lư do khôn ngoan để giải thích cho việc
xuất ngoại của ḿnh: di Phi châu để xem các nước, đi Pháp để học hỏi,
đi Anh để học tiếng Anh v.v... Bây giờ, bác hùng dũng tuyên bố: đi
Pháp để xem chiến tranh ! Chắc bác cũng không
tối tăm đến thế, đây chỉ là một quả phét lác để loè ông Nam đấy thôi.
Ông Nam mô tả cuộc ra đi của bác Hồ với vẻ khâm phục: “...Và cứ
thế anh Ba đi, không va ly, không hành lư.” Mẹ
kiếp ! Đi xem chiến tranh dĩ nhiên phải
đi chân tay không chứ bê theo hành lư, va ly cồng kềnh th́ ... chạy
lẹ thế nào được !
Đến Đây Là Hết
Viết đến khúc này
tiểu thuyết gia Hồ chí Minh bút hiệu Trần dân Tiên lại đột nhiên lên
cơn sảng. Không biết bom đạn ở Pháp có làm kẻ "đi xem" là anh Ba mát
dây chăng ? Sau khi lảm nhảm ít ḍng mô tả t́nh trạng chiến tranh,
nhắc lại nội dung lá thư của anh Ba khoe rằng đă được gặp nhà ái
quốc Phan chu Trinh v.v... chú Trần dân Tiên viết:
“Cuộc phỏng
vấn của tôi đến đây là hết, và cũng từ đó bắt đầu khó khăn cho chúng
tôi . Chúng tôi không biết hỏi vào đâu . Không biết sau này anh Ba
làm ǵ.” (trang 28).
Thế là hết chuyện,
thế là cuốn sách ngưng lại ở giữa trang 28 chăng ? Cuộc phỏng vấn
hết. Hết người để hỏi. Không biết ǵ thêm về anh Ba. Cuốn sách được
thực hiện dựa trên lời kể đi đến chỗ hoàn toàn bế tắc. Chú Trần dân
Tiên tịt ngóp, buông bút và độc giả có thể buông cuốn sách rồi chăng
? Chưa đâu, 28 trang văn chương ca tụng đâu có làm bác thoả măn
được.
Thế nên ngay sau
khi kêu ḿnh lâm vào chỗ bế tắc, bác lại viết tiếp, tỉnh bơ . Đây là
một vài đoạn văn xuất hiện ngay sau khi chú Trần dân Tiên bế tắc:
“Đức bị đánh
bại. Chiến tranh chấm dứt. Vua Đức trốn sang Na uy, và ở đây vua làm
nghề xẻ gỗ. Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích và Lê Nin đă lănh đạo công
nông Nga nổi dậy. Cách mạng tháng Mười thành công. Những đoàn đại
biểu các nước thắng trận và các nước bại trận đến Véc-xây họp Hội
nghị hoà b́nh. Bên cạnh những đoàn đại biểu chính thức, có nhiều
đoàn đại biểu thay mặt cho các dân tộc bị áp bức.
Họ tới là v́ nghe có 14 điểm của tổng thống Mỹ
Uynsơn (Wilson). Có
cả người Ái nhĩ lan, người Ấn độ, người
Triều tiên, người Ả Rập v.v... Họ đến để yêu cầu độc lập và tự do.
Trong số đó người ta thấy có ông Nguyẽn ái Quốc
(tức là anh Ba).
Ông Nguyễn
liên lạc với các đoàn đại biểu Triều tiên, Ái nhĩ lan và các đoàn
đại biểu khác. Ông Nguyễn tổ chức nhóm người Việt nam yêu nước ở Pa-ri
và ở các tỉnh khác. Với danh nghĩa của tổ chức này, ông đă những yêu
cầu ra trước hội nghị Véc xây . Yêu cầu gồm có 8 khoản. Những khoản
chính là:
- Việt nam tự
trị
- Tự do hội
họp, tự do tín ngưỡng, tự do báo chí, tự do đi lại, đại xá tù chính
tri..
- Quyền lợi
b́nh đẳng giữa người Pháp và người Việt Nam.
- Băi bỏ việc
bắt ép dân mua rượu và thuốc phiện. băi bỏ thuế đinh (người), thuế
muối và sưu dịch.
Những yêu cầu
ấy gửi đến cho các đoàn đại biểu đồng minh và tất cả nghị viên của
Quốc hội Pháp. Cũng nên nhắc lại là ông Phan chu Trinh và ông Phan
văn Trường không tán thành hoạt động của nhóm Việt nam yêu nước, v́
các ông ấy cho nhóm thanh niên là "trẻ con" ” (trang 29).
“... Được
những sự thật ấy rèn luyện, ông Nguyễn hiểu rằng những lời tuyên bố
tự do của các nhà chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ
là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Và muốn được giải
phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào ḿnh, trông cậy vào lực
lượng của bản thân ḿnh. Những lời yêu cầu của ông Nguyễn cũng như
các đại biểu các dân tộc bị áp bức khác không có kết quả ǵ hết.”
(trang 30).
Cả đoạn văn hoàn
toàn là lời tự thuật của bác. Bác làm ǵ, nghĩ ǵ, bác cứ vanh vách
kể ra. Học khôn được ǵ trong lúc ấy, bác cũng khai luôn (“Được
những sự thật ấy rèn luyện, ông Nguyễn hiểu rằng...”) Cái tṛ
viết tiểu sử dựa trên các cuộc phỏng vấn, dựa trên lời kể của các
ông Bốn, ông Dân, ông Nam v.v... đến đây bị dẹp đi cái rụp. Cả đến
những lời huyênh hoang tự nâng bi: Bác bận không viết tiểu sử, bác
khiêm tốn không muốn ai viết tiểu sử ... ở đầu sách, lúc này cũng bị
bác quên tiệt. Tưởng như, đêm hôm trước, bác đeo mặt nạ Trần dân
Tiên ngồi viết thật khuya, mệt quá, trí tưởng tượng cạn, phịa ra đến
ông Nam là hết vốn sáng tác, Trần dân Tiên phóng đại xuống giấy mấy
ḍng: “Cuộc phỏng vấn đến đây là hết” rồi buông bút lăn quay
ra ngủ. Hôm sau, bác bừng mắt dậy, hốt hoảng nhảy lên bàn viết tiếp
sự nghiệp nâng bi, bác quên mất tiêu chú Trần dân Tiên, cũng chẳng
nhớ chú ấy đă bày ra tṛ ǵ, viết cái ǵ. Bác phom phom kể tiếp
thành tích, bất cần lời rên xiết của chú Tiên: “Chúng tôi không
biết hỏi vào đâu. Không ai biết sau này anh Ba làm ǵ ?”
Bảo rằng v́ quên
mà bác hành động kỳ quái như thế th́ cũng không đúng. Chữ nghĩa bác
viết ra c̣n lù lù trên giấy, văn chương bác lại được in tới in lui .
"Văn ḿnh" đă là một món hấp dẫn, hay ho". "Văn ḿnh" tự ca tụng th́
c̣n hay biết mấy, chắc bác phải đọc lại cả ngàn lần, đọc thủng giấy
luôn, quên sao được.
Không kém trí nhớ,
không đần độn, mà nhất định không thấy một đoạn sách lố bịch như thế
... chắc chắn bác Hồ kính yêu của chúng nó khi đọc đến đoạn ấy lại
lên cơn mê . Văn tự nâng bi của bác đă tác dụng vào tâm trí bác như
ma túy làm đê mê, đờ đẫn như những anh ghiền. Cũng trong đoạn văn
lạc bầy vô duyên này, bác Hồ tặng cho độc giả nhiều chi tiết hay ho
. Xin quí vị độc giả coi lại đoạn văn được trích dẫn ở trên nói về
bản yêu cầu tám khoản của bác và lời chê của quí ông Phan chu Trinh,
Phan văn Trường. Hai vị chê nhóm của bác Hồ là ... trẻ con.
Bị chê bác có vẻ
hậm hực lắm, bác nhắc lại vụ này bằng giọng cay cú ra mặt. Nhưng lại
chính bác là người chứng minh lời chê của các cụ Phan chu Trinh,
Phan văn Trường là đúng. Bởi v́ sau đó: “ Những lời yêu cầu của
ông Nguyễn cũng như của các đại biểu các dân tộc bị áp bức khác
không có kết quả ǵ hết” và “Được những sự thật ấy rèn
luyện, ông Nguyễn hiểu rằng những lời tuyên bố tự do của các nhà
chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời
đường mật để lừa bịp các dân tộc.”
Tám Khoản Yêu
Cầu
Lại xem tám khoản
yêu cầu nhóm của bác đưa ra trước hội nghị Véc-xây th́ thấy "nhóm
thanh niên" không những trẻ con mà c̣n khờ khạo tức cười. Bản yêu
cầu gồm 8 khoản th́ đă có tới 7 khoản dư thừa. Đ̣i "Việt Nam được tự
trị" là đủ rồi, c̣n đ̣i thêm: băi bỏ
việc ép dân mua rượu, băi bỏ thuế muối, đ̣i tự do hội họp, tự do tín
ngưỡng v.v... chi nữa. Làm thế có khác ǵ
một anh viết giấy đ̣i nhà, đ̣i lại quyền làm chủ căn nhà, xong rồi
lại thêm những khoản: tôi phải được tự do nấu nướng trong bếp căn
nhà đó, tôi phải được tự do sử dụng cầu tiêu căn nhà đó v.v...
Việt nam được tự trị rồi, ḿnh được làm chủ ḿnh, được tổ chức đất
nước ḿnh rồi th́ Pháp nó đứng ở đâu để băi bỏ dùm ḿnh việc ép dân
mua rượu và thuốc phiện ? Ngố can không
nổi !
Tự nhiên nhảy
chồm vào khơi khơi viết một đoạn (từ trong 28 đến giữa trang 31) rồi
th́nh ĺnh, không báo hiệu trước, không giải thích, bác rút lui tỉnh
bơ, trao lại công tác cho chú Trần dân Tiên. Sau ba cái hoa thị ngăn
cách "cụm" văn chương lạc loài của bác, chú Trần dân Tiên viết tiếp:
“Một người
quen ông Nguyễn ở Pa-ri đă cho chúng tôi nhiều tài liệu rất quí báu.”
(trang 31)
Đến phiên
chú Trần dân Tiên lên cơn mê sảng. Tất nhiên, trong t́nh trạng "tuy
hai mà một" chú Tiên, bác Hồ làm ǵ cũng có đôi, có cặp, bác đă sảng
th́ chú phải mê. Nhưng cơn mê này kéo hơi dài. Mới câu trước chú
Tiên khẳng định: “Cuộc phỏng vấn của tôi
đến đây là hết. Chúng tôi không biết hỏi vào đâu .
KHÔNG AI BIẾT
sau này anh Ba làm ǵ.” Ngay câu sau bác
đă viết tỉnh bơ: “Một người quen ông Nguyễn
... cho chúng tôi nhiều tài liệu quí báu”
Hai câu văn lăng
mạ ông thân sinh của nhau thậm tệ như thế chắc chắn đội ngũ văn nô
Hà nội phải thấy . Nhưng không anh nào dám hó hé phê b́nh, dám đề
nghị cắt bỏ. Bác Hồ th́ mê sảng mà các cháu th́ rét !
Càng Lớn Càng
Dốt
Người quen ông
Nguyễn ở Pa-ri quả thực đă cho chú Trần dân Tiên và độc giả nhiều
tài liệu rất quí báu. Ông ta tiết lộ về khả năng, kiến thức thực sự
của bác Hồ lúc đó. Trần dân Tiên viết:
“Ông này nói
với chúng tôi như sau:
"Lúc ấy,
ông Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả cho Tổ
quốc; nhưng ông Nguyễn lúc đó
RẤT ÍT HIỂU VỀ CHÍNH TRỊ, KHÔNG BIẾT THẾ NÀO LÀ CÔNG HỘI,
thế nào là BĂI CÔNG
và thế nào là CHÍNH ĐẢNG."”
(trang 31)
Lúc đó, "ông
Nguyễn" đă hết tuổi vị thành niên, đă đến Pháp, đă đi qua các xứ Phi
châu, đă đến nước Anh v.v... nghĩa là đă học hỏi được nhhiều rồi
thế mà vẫn mù tịt, không viết thế nào là băi công, là công đoàn, là
chính đảng, vẫn "rất ít hiểu về chính trị" . Hẳn quí vị độc giả c̣n
nhớ. Ở những trang đầu sách, lúc Nguyễn tất Thành mới là một cậu bé
15 tuổi, chưa ra khỏi nước, th́ lại được Trần dân Tiên tâng bốc là
một cậu bé sáng suốt về chính trị, cậu chê bai khắp lượt các nhà
cách mạng Phan bội Châu, Phan chu Trinh ... rồi chê cụ Hoàng hoa
Thám là phong kiến. Lúc nhỏ sáng suốt thế, đến tuổi trưởng thành,
bôn ba hải ngoại, học hỏi trau giồi kiến thức hàng ngày lại hoá ra "rất
ít hiểu về chính trị" nghĩa là càng lớn càng ngu dốt đi.
Phải chăng v́ bác
Hồ tự thương ḿnh quá, tự phục ḿnh quá nên hay sốt ruột, bốc nhằng.
Vừa thấy cậu bé Nguyễn tất Thành ra tuồng là bác phải ca tụng ngay,
cầm ḷng không đậu, chờ không nổi . Thế nên chính những lời ca tụng
vội vàng của bác làm cho bác hoá ra kẻ tiến bộ giật lùi. Lúc nhỏ
khôn, lúc lớn dại. Mười lằm tuổi th́ sáng mà lúc hai mươi đầu óc lại
tối hù ? Đọc đi đọc lại đoạn văn này, Kiều Phong đâm ra hồ nghi:
Phải chăng kỹ thuật tự nâng bi của bác có chỗ trục trặc đă tạo ra
t́nh cảnh nghịch thường, hay sự thật đúng như thế ? Sự thật đúng là
bác Hồ càng lớn càng tối tăm đi. Bởi v́ cứ nh́n vào phần đất nước
Việt nam được bác hướng dẫn th́ cũng thấy một t́nh trạng giật lùi
tương tự. Dưới sự lănh đạo anh minh của Bác, cả miền Bắc hùng hục
chạy ngược chiều tiến của nhân loại. Bác Hồ càng lớn càng tối tăm,
ác độc. Nhân dân được bác lănh đạo càng lúc càng đổ dốc ào ào "từ
người xuống vượn" mất có mấy năm ! (thơ Nguyễn chí Thiện).
Đỡ Đầu Văn Học
Từ trang 31, bác
Hồ viết về thời kỳ bác học làm báo, viết văn.
Cũng chính trong
thời kỳ này, con cáo già Cộng sản đă nh́n thấy ở Nguyễn tất Thành
một đệ tử sáng giá, một tên tay sai đắc lực. Nó ra tay ve vuốt, nuôi
nấng, dạy dỗ cậu:
“Trong tất cả
những tờ báo Pháp, chỉ có tờ "Dân chúng", cơ quan của Đảng xă hội
Pháp là đă in những lời yêu cầu của Việt nam. Ông Nguyễn đến toà
báọ Chủ nhiệm báo, ông Sạc-Lông-ghê (Charles Longuer), cháu ngoại
Các Mác và nghị viên của Quốc hội Pháp, đă tiếp ông. Ông Nguyễn lấy
làm lạ, v́ chưa bao giờ ông ta được ai đón tiếp thân mật như thế !
Ông Lông-ghê gọi ông Nguyễn là đồng chí thân ái . Ông nói cho ông
Nguyễn rơ tất cả cảm t́nh của ông đối với nhân dân Việt nam. Ông
khuyến khích ông Nguyễn viết bài và ông sẽ đăng lên tờ báo "Dân
chúng" để làm cho nhân dân Pháp hiểu rơ những sự bất công xảy ra ở
Việt nam. Có thể nói rằng cuộc gặp gỡ ấy đă mở đường cho sự hiểu
biết chính trị của ông Nguyễn. Nó cũng làm cho ông Nguyễn hiểu rơ
nhân dân Pháp.
Ông Nguyễn
không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan văn
Trường viết thay. Ông Trường viết giỏi, nhưng không muốn kư tên. Mà
chính ông Nguyễn đă phải kư tên những bài báo. Nhược điểm về trí
thức làm cho ông Nguyễn rất khó chịu. Nhất là ông Trường không viết
tất cả những điều ông Nguyễn muốn nói. V́ vậy, ông Nguyễn bắt tay
vào việc học làm báo.
Thường lui tới
toà báo "Dân chúng", ông làm quen với những người Pháp khác trong đó
có chủ bút tờ "Đời sống thợ thuyền". Cũng như ông Lông-ghê, người
chủ bút này cũng rất đáng mến. Ông bảo ông Nguyễn viết tin tức cho
tờ báo của ông. Biết rằng không thể nhờ ông Trường viết măi, ông
Nguyễn nói thật là ḿnh c̣n kém tiếng Pháp. Người chủ bút nói: Điều
đó không ngại; có thế nào anh viết thế ấy. Tôi sẽ chữa bài của anh
trước khi đưa in. Anh không cần viết dài: năm, sáu ḍng cũng được.
Ông Nguyễn bắt
đầu viết rất khó khăn. Tin tức về Việt nam ông Nguyễn không thiếu,
ông thiếu nhất là văn Pháp ...” (trang 31-32)
Đoạn văn này cho
độc giả thấy hai điều:
1- Những người
như ông Phan văn Trường đối xử với cậu Nguyễn tất Thành rất tử tế,
bao dung. Tuy chê nhóm của Hồ là "trẻ con", không tán thành đường
lối hoạt động của Hồ, nhưng thấy Hồ dốt Pháp văn, viết không được,
ông Phan văn Trường vẫn ra tay viết giúp, rồi cho Hồ kư tên. Trong
tập hồi kư này Hồ kêu ca rằng: "Ông Trường không viết tất cả những
điều ông Nguyễn muốn nói" . Nghĩa là Hồ muốn nói nhiều, có "ư kiến"
này nọ ghê lắm nhưng ông Trường cứ dẹp đi, cất bớt đi. Nghe Hồ rên
xiết, ta có cảm tưởng là ông Trường đă ếm tài của mầm non chính trị
Nguyễn tất Thành, đă cắt bỏ của cậu những ư kiến, lời lẽ hay ho,
xuất xắc lắm.
Nhưng ông Trường
đă chịu khó viết bài dùm cậu, cho cậu kư tên, để thổi cậu lên, tất
nhiên ông cũng mong cậu có những ư kiến hay ho để ông đỡ vất vả. C̣n
ém tài cậu làm ǵ. Vậy tại sao ông cứ "không viết tất cả những điều
ông Nguyễn muốn nói? Ta đă có câu trả lời nằm trong đoạn trước "Ông
Nguyễn" đă trổ tài nói ở hội nghị Véc-xây . Ông đ̣i hỏi rằng nước
Pháp phải để "Việt Nam tự trị".
Và đó mới là một khoản. Sau khi Việt Nam
tự trị rồi ông c̣n đ̣i thêm tới bẩy khoản nữa: Pháp không được ép
dân Việt mua rượu và thuốc phiện, phải bỏ thuế dinh, thuế muối và
sưu dịch v.v.. "Ông
Nguyễn" nói như thế th́ chắc đoàn đại biểu đồng minh ở hội nghị đă
được một phen cười vỡ bụng. Ông Phan văn Trường chắc phải dẹp
bớt những lời lẽ lèm bèm của "ông Nguyễn" đi v́ đâu có chủ đích giúp
"Ông Nguyễn" viết văn khôi hài.
2- Bác Hồ lúc về
già thèm khát lời xưng tụng mà lúc trẻ th́ cứ chết lịm người đi v́
những câu vuốt ve. Cả hai nỗi thèm khát này đều làm cho bác u mê, đờ
đẫn. Khi được cháu ngoại Các Mác xoa đầu, bác hả hê ghi lại: “Ông
Nguyễn lấy làm lạ, v́ chưa bao giờ ông ta được đón tiếp thân mật như
thế ! Ông Lông-ghê gọi ông Nguyễn là đồng chí thân ái …” và
bác reo lên: “Có thể nói rằng cuộc gặp gỡ ấy đă mở đường cho sự
hiểu biết chính trị của ông Nguyễn.”
Lúc mới tới Pháp,
đi uống cà phê, lần đầu tiên được một anh bồi gọi là ông, bác đă
sướng mê tơi và vội vă kết luận: “Người Pháp ở Pháp rất tốt.”.
Bây giờ được một anh Cộng sản gộc gọi là "đồng chí thân ái" th́
tất nhiên "Ông Nguyễn phải thấy ngay: Cộng sản là một chế độ dễ
thương nhất thế giới. Nhờ anh chủ bút một tờ báo Cộng sản hướng dẫn,
bác Hồ dần dần viết được những mẩu tin ngắn. Đây là đoạn mô tả thời
kỳ bác học làm báo:
“... Khi thấy
viết đă bớt sai lầm ông chủ bút bảo ông Nguyễn: "Bây giờ anh viết
dài hơn một tí, viết độ bảy tám ḍng" . Ông Nguyễn viết bảy, tám
ḍng. Dần dần ông Nguyễn có thể viết cả một cột báo và có khi dài
hơn. Lúc bấy giờ, người chủ bút bạn thân của ông Nguyễn khẽ bảo: "Bây
giờ anh viết ngắn lại. Viết từng này hoặc từng này ḍng. Không viết
dài hơn."
“Ông Nguyễn
thấy rằng phải rút ngắn cũng khó như trước kia phải kéo dài. Nhưng
cũng hết sức cố gắng. Và ông thành công. Ông bắt đầu vào làng báo từ
đó.” (trang 32-33).
Tài nghệ mới viết
được một cột báo đă bị chủ bút bảo phải viết ... ngắn lại. Thế mà
mầm non báo chí Nguyễn Ái Quốc đă khoe ngắng lên là ḿnh "vào làng
báo" rồi ! Nếu ở miền Nam trước năm 1975, với văn tài "bảy tám ḍng"
như thế, kư giả Nguyễn Ái Quốc may phước lắm th́ xin được làm đàn em
của ông Văn Đô chuyên trị đi nhặt tin xe cán chó.
Những bài học về
báo chí của bác cũng chẳng giống ai . Trong khi một kư giả phải học
cách săn tin, viết tin, điều tra, phỏng vấn v.v... th́ bài học mà
anh chủ bút Cộng sản dạy bác quanh đi quẩn lại vẫn là: "Viết năm,
sáu ḍng". "Bây giờ, phải viết dài một tí độ bảy tám ḍng". "Bây
giờ, phải viết ngắn lại" . Khi viết hồi kư khoe ḿnh "vào làng báo"
tất nhiên bác phải tŕnh làng tất cả những bài học hay ho sáng giá
nhất, những câu đối thoại sâu sắc nhất giữ thày tṛ bác. Cái sâu sắc
nhất ấy chỉ là chuyện viết ngắn, viết dài ! Nhưng báo chí không
phải là nạn nhân duy nhất. Sau khi hành hạ làng báo, bác quay qua
tra tấn, đấu tố làng văn.
Trần Dân Tiên kể
tiếp:
“Về văn học,
ông Nguyễn thích đọc Sếch-Pia (Shakespeare) và Đích-ken (Dickens)
bằng tiếng Anh, Lỗ Tấn bằng tiếng Trung Hoa và Huy-gô (Hugo), Dô-la
(Zola) bằng tiếng Pháp. A-na-ton Phơ-răng-sơ (Anatole
France) và Lê-Ông Tôn-stoi (Leon
Tolstoi) có thể nói là những người đỡ đầu văn học cho ông Nguyễn.
Đọc những
truyện ngắn của A-na-tôn Phơ-răng-Xơ và của Lê-ông Tôn-stôi, ông
Nguyễn thấy hứng thú về văn chương giản đơn và tự nhủ: "Người ta chỉ
cần viết điều ǵ người ta thấy và cảm, bằng cách nắm lấy màu sắc và
hoạt động của sự vật, như thế th́ viết cũng không khó lắm.” (trang
33).
Riêng lời tự nhủ của bác đă là một câu nhận định
về văn chương lảm nhảm, lủng củng và có thể khiến các ông Antole
France và Leon Tolstoi khóc thét. Viết
điều ǵ "người ta thấy và cảm" th́ được rồi, nhưng lại "bằng cách
nắm lấy (?) màu sắc và hoạt động
của sự vật" th́ là nghĩa thế nào ?
Lê-ông Tôn-stôi
và A-na-tôn Phơ-rang-Xơ là 2 nhà văn xấu số nhất. Họ là thủ phạm gợi
hứng cho bác Hồ lăn xả vào làng văn, gây cho bác cảm tưởng "viết
cũng không khó lắm." . Nhưng cái tội lớn nhất của họ là "đỡ đầu văn
học" cho Hồ chí Minh. Đỡ đầu bằng cách nào. Đọc văn Hồ ? Sửa văn Hồ
? khuyến khích Hồ viết ? Giới thiệu tác phẩm của Hồ ? Chỉ cho Hồ
những sách cần đọc ? Những chuyện cần học ? Thư từ qua lại bàn
chuyện văn chương với Hồ ? Hướng dẫn Hồ vào làng văn ?
May phước cho ông
văn sĩ Nga và ông văn sĩ Pháp này: Cả hai đều không sống đồng thời
với Hồ. Cả hai chỉ có một hành động liên hệ với Hồ duy nhất là họ
viết sách để lại cho đời, và Hồ đọc được, hứng thú về "văn chương
giản đơn" của họ, thế thôi . Cái việc Hồ mừng rỡ reo lên: hai ông ấy
đỡ đầu văn học cho tôi, hoàn toàn ngoài dự tưởng của họ, ngoài trí
tưởng tượng của người b́nh thường.
Đọc sách của
người xưa, cảm hứng v́ sách rồi cầm bút viết văn, làm thơ ... chuyện
ấy xảy tới cho nhiều người . Nhưng nhận vơ tác giả cuốn sách là
người "đỡ đầu văn học" cho ḿnh th́ cổ kim, đông tây chỉ có mầm non
văn nghệ Hồ chí Minh dám làm cái công việc nhận quơ, nhận quàng trơ
trẽn đến thế. Trong tất cả những trường hợp "thấy kẻ sang bắt quàng
làm họ" của dân Việt, cũng chưa từng có vụ nhận quàng nào khôi hài
hơn. Theo gương bác, những anh văn công chuyên làm vè có thể hô hoán
"Nguyễn Du đă đỡ đầu văn học cho tôi" bởi v́ các anh ấy đă đọc và
thích truyện Kiều . Các thi hào, thi bá Lư Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị
v.v... sẽ can tội "đỡ đầu văn học" cho một ông chuyên làm thơ quảng
cáo thuốc ho bà lang trọc v́ ông này cũng mê đọc Đường thi dữ lắm .
Bác Sáng Tạo
Dù sao, nếu Hồ
trở thành một văn thi sĩ lỗi lạc th́ vụ nhận vơ
này cũng không làm đau ḷng quí ông Anatole France và Leon Tolstoi.
Ta hăy xem thành tích của mầm non văn nghệ Nguyễn Ái Quốc: Bác có
viết một số truyện ngắn, được tờ "Nhân Đạo" đăng
tải . Nhân đạo không phải là một tờ báo
văn chương. Nó là tờ truyền đơn quảng cáo chế độ Cộng sản.
Truyện ngắn được đăng trên "Nhân Đạo" không
chứng tỏ văn tài, chỉ thể hiện khả năng làm đầy tớ Cộng sản.
Về tác phẩm lớn của Hồ th́:
“Ông Nguyễn
chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển: "Bản án kết tội chế độ
thực dân Pháp" quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp,
trích trong những sách của người Pháp viết để ở Thư viện Quốc gia”
(trang 34)
Tài sáng
tác của bác đă yếu kém mà đến khả năng viết sách kể tội thực dân
của bác cũng không khá. Công tác cực nhọc nhất của mầm non văn nghệ
Nguyễn Ái Quốc là chạy vào thư viện cóp nhặt những trang sách của
các tác giả Pháp, gom lại, làm một cuốn sách của ḿnh, mà lại là "QUYỂN
SÁCH DUY NHẤT."
Ở đoạn trên, chú
Trần Dân Tiên đương huyênh hoang rằng bác “không có một phút nào
quên Tổ quốc ḿnh bị giày xéo và đồng bào ḿnh bị áp bức.” (trang
34). Nhưng tổ quốc bị giày xéo, đồng bào bị áp bức thế nào bác
không viết (hay không viết nổi) thành sách. Việc ấy đâu có đ̣i hỏi ở
bác một khả năng sáng tác, tưởng tượng. Chỉ cần
ghi lại vụng về những chuyện đang xảy ra ở Việt Nam là bác có một
cuốn sách dày. Nhưng người được Leon Tolstoi và Anatole
France "đỡ đầu văn học" chỉ làm nổi một
việc là đi chép những trang sách trong thư viện, sắp xếp lại rồi
hùng dũng kư tên ! Tội nghiệp hai ông Leon Tolstoi và Anatole
France ! Chỉ v́ viết
văn "giản đơn" được bác thích mà mang cái họ "đỡ đầu văn học" cho
một cây bút quá tồi.
Về công tŕnh
sáng tác của bác, Trần Dân Tiên bốc:
“Đầy hăng hái,
ông Nguyễn viết cả một vở kịch Rồng Tre”. (trang 34)
Đáng lẽ chú Tiên
phải viết: "Ông Nguyễn viết vở kịch Rồng Tre" hoặc "Ông Nguyễn viết
một vở kịch nhan đề là Rồng Tre". Nhưng thôi, chuyện văn chương bác
lủng củng th́ nói sao cho hết. (Vả lại, trễ rồi. Nếu bác c̣n sống,
"Nếu có bác trong ngày vui di tản" th́ ta đă gửi bác đến Trung tâm
Việt ngữ Hồng Bàng tu nghiệp là mọi chuyện em thắm ngay, khỏi mất
công chê bai)
Xin quí vị độc
giả chú ư đến chữ "cả" trong câu văn của Trần Dân Tiên. Chữ "cả" làm
cho câu văn như reo lên một cách lăng xẹt. “...ông Nguyễn viết CẢ
một vở kịch” . "CẢ" không hàm ư tất cả (có ai viết nửa vở kịch
rồi ngưng đâu). Viết cả một vở kịch th́ có ǵ là ghê gớm, phi
thường ? Trần Dân Tiên reo ḥ thán phục với ngụ ư rằng: ngoài cuốn
sách cóp nhặt, bác c̣n viết được một vở kịch nữa đấy . Ôi chao! Chỉ
cần giở bất cứ một đặc san, bích báo nào của trẻ em trung học miền
Nam, chúng ta cũng gặp những siêu nhân ngang tài với bác "viết cả
một vở kịch.". Có em
viết cả hai ba vở kịch lận. Vở kịch Rồng Tre hay ho cỡ
nào ? Trần Dân Tiên viết:
“Đại ư vở kịch
như thế này: Có những cây tre thân h́nh quằn quẹo. Những người chơi
đồ cổ lấy về đẽo gọt thành con rồng. Nó là một đồ chơi. Là con rồng
nhưng thật ra chỉ là một khúc tre. Là một khúc tre, nhưng lại hănh
diện có tên và h́nh dáng con rồng. Tuy vậy chỉ là một quái vật vô
dụng.” (trang 34)
Tre, trúc là
giống mọc thẳng. Tây con có thể không biết, chứ người gốc Mít như
bác Hồ phải biết. Một cây tre mọc cong queo là đă là hiếm, ở đây bác
Hồ bảo: “Có những cây tre thân h́nh quằn quẹo” nghĩa là nhiều.
Như lời Án Tữ xưa nói: "Cây quít mọc ở phía Nam sông Hoài th́ ngọt,
mọc ở phía Bắc sông Hoài th́ chua, là v́ thủy thổ khác nhau".
Vậy nay, những
cây tre mọc ở ngoài đời th́ thẳng mà mọc trong ḷng bác lại quằn
quẹo chẳng là v́ tâm địa bác cong queo khác thường
chăng ?
Tre cong queo đă
hiếm, mà cong queo đến độ như con rắn, con rồng uốn khúc th́ đúng là
kim cổ kỳ quan. Trên thế gian những giống cây cong queo đâu có thiếu
ǵ. Bác lại chọn đúng loài cây mọc thẳng nhất, bắt nó cong để viết
kịch th́ đúng là đă "vận dụng hết óc sáng tạo", hết tiệt luôn. Đấy
là cái khoản chọn vật, bây giờ hăy xét cách chọn người của kịch tác
gia Hồ. Người chơi đồ cổ là người chuyên sưu tầm và có thể buôn bán
đồ cổ. Một cây tre cong queo đâu có phải là một món đồ cổ đáng để họ
sưu tầm. Nhà chơi đồ cổ đi kiếm cây tre cong đă lạ, cái việc đẽo gọt
nó thành con rồng càng lạ hơn. Việc chơi đồ cổ không cho họ có bàn
tay tài hoa của một nhà điêu khắc. Viết như thế th́ cũng không khác
ǵ kể chuyện rằng ở bên đường có một khúc gỗ, có mấy anh chuyên gia
thiến heo đem khúc gỗ về đẽo gọt nó thành một ... cây đờn !
Muốn đẽo gọt cây
tre cong queo thành con rồng, nhân vật kịch của bác phải là một nhà
điêu khắc, hay hèn nhất th́ cũng là một ông thợ mộc khéo tay. Nhưng
kịch của bác nhất định bắt mấy tay chơi đồ cổ h́ hục gọt cây tre
thành con rồng, coi bộ họ cũng gian khổ ác liệt như nhân dân bị bác
bắt biến sỏi đá thành ... cơm vậy ! Anh nào lọt vào tay bác cũng hốc
hác !
Vở kịch được bác
gán cho một ư nghĩa cao siêu: “Là một khúc tre, nhưng lại hănh
diện có tên và h́nh dáng con rồng.” Mới nghe tưởng ghê,
tưởng sáng kiến mới lạ. Nhưng ư kiến này, tiếc thay, bác Hồ lại
thuổng của tiền nhân. Bài thơ "Tiến sĩ giấy" của cổ nhân thâm trầm,
sâu sắc biết bao nhiêu. Cái anh chàng thuổng lại, đem về viết kịch,
làm thành chuyện rồng, huyện rắn vừa ngô nghê vừa ngớ ngẩn chẳng ra
làm sao cả.
Xưa nay, trong
hồi kư, bút kư, những truyện tức cười, những hành động lố bịch,
những sáng tác vụng dại, non kém được kể lại không phải là hiếm.
Nhưng khi kể những chuyện ấy, tác giả chỉ cốt dựng lại một thuở xa
xưa, một thời non trẻ lúc mà tác giả chưa trưởng thành, chưa làm ra
cái ǵ nên hồn. Chỉ những thiên tài, thần đồng mới có những thành
tích lớn lao đáng khoe khoang từ lúc c̣n rất trẻ. Ngoài ra người ta
kể lại chuyện cũ để cười, để giễu cợt chút đỉnh ... kiểu như một
người nhắc lại cái bệnh tè dầm của ḿnh thời bé dại, vậy thôi . Bác
không phải là thiên tài, thần đồng. Nền văn chương, kịch cợm của bác
dù được tới hai văn hào Nga và Pháp "đỡ đầu văn học" vẫn chỉ là một
cuốn sách cóp nhặt, một vở kịch lèm bèm, dở ẹc. Thế mà bác long
trọng ghi lại tất cả một cách nghiêm trang, như ghi lại một đoạn đời
thành công lớn lao, với những thành tích to lớn !
T́nh yêu quả thực
đă làm người ta mù quáng. Bác si mê bác quá nên không bao giờ thấy
nổi sự lố bịch của người yêu
Nghề Nghiệp và Hoạt Động
Sau khi khoe bác
viết kịch được các nhà phê b́nh văn nghệ khen hay, bác học tập nghề
làm báo rất gian khổ và được vào làng báo Tây v.v... chú Trần Dân
Tiên kể tiếp:
“Trong thời
gian ở Paris, ông Nguyễn sống rất cực khổ ...” (trang
34).
Ô hay ! Đă vào
làng báo Tây là ngon rồi, khỏe rồi sao c̣n "rất cực khổ." Tây vốn
trọng nhà văn, nhà báo. Ông nhà văn, kịch tác gia kiêm kư giả Nguyễn
Ái Quốc sao lại thảm vậy ? Hăy nghe chú Trần Dân Tiên kể tiếp:
“Để kiếm tiền,
ông Nguyễn làm nghề rửa ảnh và phóng đại ảnh. Chính cụ Phan Chu
Trinh đă dạy cho ông Nguyễn nghề này” . (trang 34).
(Ở đây chúng ta
lại có dịp thấy tấm ḷng bao dung của nhà cách mạng Phan Chu Trinh.
Gặp một kẻ lấc cấc, bắng nhắng như Hồ, ông vẫn không giận, không
ghét, vẫn dạy nghề cho). Con người đói nhất của làng báo Tây, ngoài
nghề rửa ảnh, c̣n có một cái "gióp" cao quí hơn:
“Ông làm cả
nghề sơn vẽ đồ cổ. Ở Paris có nhiều nhà làm giả đồ cổ Trung quốc; họ
làm đồ gỗ, b́nh phong và những vật khác bắt chước theo kiểu Trung
quốc. Họ sơn bằng sơn Nhật và vẽ hoặc viết những chữ ngoằn ngoèo giả
chữ Trung Quốc. Những bà quí tộc giả, những trọc phú rất ham những
vậy ấy, không biết là đồ giả và mua rất đắt. Công việc sơn vẽ giả
đồ cổ Trung quốc rất dễ cho ông Nguyễn, không may đấy chỉ là một
công việc hàng mùa, mỗi năm chỉ làm vài tháng.” (trang 34-35)
Ối trời ! Hóa ra
bác Hồ chí Minh rực rỡ tên vàng của chúng nó đi làm cái nghề chế tạo
đồ cổ giả để lừa bịp mấy bà già !
Tưởng tượng
ra cái mặt bác nghệt, cái lưỡi bác thè, cái tay bác cặm cụi viết
những chữ "ngoằn ngoèo" giả làm chữ Trung Quốc, thấy "anh minh"
không thể tả được, chỉ hơi kém lương thiện tí thôi. Đọc đến chỗ này,
ta thấy một nghi vấn văn học đă được giải toả, đă có lời giải thích.
Quí vị c̣n nhớ: khi viết vở kịch Rồng Tre, bác "sáng tạo" rằng:
“Những người chơi đồ cổ đem khúc tre cong quẹo về đẽo gọt thành con
rồng v.v..” . Thật ra có lẽ bác định viết: "những người
LÀM ĐỒ CỔ đem
khúc tre về đẽo gọt ..."
Làm đồ cổ ? Ở
trên đời đâu có loại người tài ba đến thế. Món đồ được coi là cổ,
phải có bàn tay của thời gian xiá vô.
Kẻ làm cái đĩa
thời Khang Hy cũng chỉ là một anh thợ đồ gốm chuyên làm đĩa làm chén.
Trăm năm, ngàn năm sau, một món đồ tầm thường hóa ra đồ cổ. Đâu có
ai làm ra một món ǵ rồi lập tức biến nó già đi vài trăm năm thành
đồ cổ. Đồ cổ không ai làm được trừ phi nó là đồ ... giả. Và đó là
nghề của chàng.
Bác ngồi làm đồ
cổ giả hung hăng quá nên nó nhập tâm, hóa ra nó méo mó nghề nghiệp,
khi viết kịch cũng đưa đại cái nghề bất lương đó vô tác phẩm và khán
giả mới có dịp thấy "người chơi đồ cổ" lại có khả năng đẽo rồng, gọt
phượng ! Ôi chao ! Nếu trời không xui, đất không khiến cho bác tự
khoe ra th́ bố ai mà biết được bác lại có lúc chơi những tṛ gian
vặt, bất hân, đi lừa lọc mấy bà già khờ khạo như thế ! Cũng ở chỗ
này, thêm một lần nữa ta biết Trần Dân Tiên chính là bác. Nếu đứa
khác viết hồi kư giùm bác mà lại phang ra cái nghề lừa bịp bà già
của bác thủa thiếu thời, khiến bác nom buồn cười quá như thế th́ đội
ngũ văn nô sẽ xúm lại khiền nó thấy mẹ.
Bác có hai
nghề độ thân. Cái nghề cụ Phan Chu Trinh dạy cho (rửa ảnh, phóng đại
ảnh) th́ oai hùng, lương thiện mà cái nghề bác tự kiếm lấy lại bất
lương quá đi thôi. Sao không noi gương những lăo ông di tản rực rỡ
tên vàng, thường cày hay gióp phom phom mà gióp nào cũng đàng hoàng
cả. Lúc ấy c̣n trẻ túng đói, chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc bấn
quá phải sinh nhai bằng cái nghề lừa bịp. Thôi th́ cũng thông cảm,
bỏ qua . .Nhưng khi viết hồi kư, bác đă già đầu
rồi, đă biết suy nghĩ, đắn đo rồi, thế mà c̣n lên giọng tiếc hùi hụi:
“KHÔNG
MAY, đây chỉ là một công việc hàng mùa, mỗi
năm chỉ làm vài tháng”
Bác không may
một, th́ nhân dân Việt Nam không may mười.
Giả thử rằng cái
tṛ sơn đồ cổ bịp bà đầm già của bác lúc đó mà phồn thịnh, bác may
mắn hơn, kiếm ăn khá hơn, bận rộn suốt bốn mùa th́ có lẽ bác đă
thành một tay sơn đồ cổ giả chuyên nghiệp
và, với sự chịu khó, tài láu cá vặt, bác sẽ thành công. Nước Pháp có
thêm một thằng bịp nhưng nước Việt thoát được một kẻ hại nước, tàn
dân . Không may thật. Uổng thật. Kiều Phong cũng tiếc hùi hụi.
|