|
|
Đài BBC phỏng vấn tiến
sĩ Sophie Quinn-Judge, tác giả "Hồ Chí Minh: The Missing Years"
Sophie Quinn-Judge là tiến sĩ sử
học người Mỹ Sophie Quinn-Judge, đại học LSE, London.
BBC: Cuốn sách của
bà mở đầu bằng hội nghị hòa bình tại Paris năm 1919 khi lần đầu
tiên ông Hồ Chí Minh – mà lúc này có tên Nguyễn Ái Quốc – được
nhiều người biết tới. Vậy trước giai đoạn này chúng ta có biết gì
nhiều về hoạt động của ông, đặc biệt là việc người cha của ông có
ảnh hưởng thế nào đến ông không?
Sophie Quinn-Judge: Cha của ông Hồ là một nhân vật rất đáng chú ý
và tôi hi vọng sẽ có thêm tài liệu nghiên cứu tiếng Việt để hiểu
rõ hơn thân thế của người này. Nhưng rõ ràng là việc người cha bị
thất sủng, không còn là quan cấp tỉnh trong chế độ Pháp đã có tác
động đến cuộc sống ông Hồ. Bởi sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị miễn
nhiệm tại tỉnh Bình Định, con ông Nguyễn Tất Thành buộc phải thôi
học ở trường Quốc học Huế và trở thành thầy giáo tại Phan Thiết.
Rồi ông vào Nam và như mọi người đều biết, ông đi Pháp năm 1911. Nếu
cha ông vẫn còn tại chức, thì có lẽ người thanh niên Nguyễn Tất
Thành đã tiếp tục đi học ở Huế và sự nghiệp chống thực dân của
ông có thể đã ngả sang một hướng khác. Chúng ta không biết chắc,
nhưng những hoàn cảnh bên ngoài đã buộc ông phải ra nước ngoài.
BBC: Bà ngụ ý là ban đầu ông Hồ ra nước ngoài không phải với mục
đích tìm đường cứu nước?
Không, ý tôi không phải là như thế. Dựa trên tài liệu của Pháp nói
về các anh chị trong gia đình ông Hồ và những lần họ giúp đỡ cho
Phan Bội Châu, tôi nghĩ gia đình họ tham gia vào các hoạt động yêu
nước chống thực dân từ sớm. Tôi tin là ông Hồ Chí Minh cũng sẽ tham
gia vào các hoạt động chống thực dân theo cách này hay cách khác.
Nhưng bởi vì ông không thể ở lại trường Quốc học, nên ông ra nước
ngoài để tìm biện pháp hoặc học thêm để nghĩ cách chống người
Pháp.
BBC: Khi ông Hồ tới hội nghị hòa bình Paris 1919, người ta nhìn ông
Hồ như thế nào?
Đây là một điều mà chúng ta rất khó biết chắc bởi vì có một
khoảng trống lớn trong tiểu sử của ông Hồ. Chúng ta không biết
trước năm 1919, ông Hồ hoạt động ở mức độ nào, chuyện chính trị
có phải là vấn đề bận tâm duy nhất của ông hay không. Nên khi ông
xuất hiện tại hội nghị Paris tháng Sáu năm 1919, phân phát bản kiến
nghị cho các đại biểu tham dự, mọi người thấy khó chấp nhận ông
ấy như một nhân vật ngang hàng với những người nổi tiếng như Phan
Chu Trinh hay Phan Văn Trường.
BBC: Sau hội nghị ở Paris,
ông Hồ đến Nga năm 1923 rồi sau đó đi Quảng Đông. Trong khoảng thời
gian này, vị trí của ông Hồ trong Quốc tế cộng sản như thế nào,
bởi vì một số tác giả cho rằng lúc này ông Hồ đã được Quốc tế
cộng sản chú ý nhiều?
Đầu tiên, ông Hồ lúc đó không phải là thành viên của một đảng cộng
sản châu Á nào. Ông ấy đang là thành viên của đảng cộng sản Pháp.
Vì thế, ông chưa có vị trí vững chắc trong nội bộ Quốc tế cộng
sản. Ví dụ, ông không có chân trong ban chấp hành. Có nhiều nhân vật
khác quan trọng hơn như Mahendra Roy từ Ấn Độ hay Sen Katayama của
Nhật. Nhưng Nguyễn Ái Quốc có một thông điệp rất rõ về việc phong
trào cộng sản có thể tham gia thế nào trong phong trào quốc gia tại
các thuộc địa. Tôi nghĩ bởi vì thông điệp này nên ông ấy được
khuyến khích lên phát biểu tại đại hội lần thứ năm của Quốc tế
cộng sản năm 1924. Nhưng lúc ấy, theo tôi, ông Hồ chưa phải là người
phát ngôn hàng đầu về các vấn đề thuộc địa trong Quốc tế cộng
sản. Việc ông Hồ là thành viên đảng Cộng sản Pháp cũng có thể đã
khiến vị trí của ông trở nên phức tạp. Trotsky – đối thủ chính trị
của Stalin thời bấy giờ - có một ảnh hưởng đáng kể đối với những
người cộng sản Pháp. Trong một bãi mìn chính trị như vậy, ông Hồ
dường như bắt đầu học cách hợp tác với bất kì ai đang nắm quyền
lực và học cách theo đuổi những quan tâm của riêng mình.
BBC: Một số tác giả như Jean Lacouture nói rằng ông Hồ được gửi tới
Quảng Đông để làm trợ lý hay thư ký cho Borodin?
Tôi nghĩ điều này không chính xác, bởi vì ông Hồ lúc đó từ Nga đi
Quảng Đông mà không mang theo một hướng dẫn rõ ràng về những gì ông
sẽ làm tại đó. Ban đầu ông ấy không được cho một vai trò chính
thức. Có vẻ như người ta đã tìm cho ông công việc làm người dịch
thuật tại hãng tin của Nga tại đó để có tiền thực hiện các hoạt
động chính trị của ông. Chứ còn lúc mới đến Quảng Đông, ông Hồ
rất vất vả trong việc có đủ tiền giúp cho việc giúp đưa các thanh
niên Việt Nam sang Quảng ̣Đông tham gia các khóa đào luyện. Như vậy,
không có một kế hoạch, chỉ thị rõ ràng dành cho ông Hồ và ông
phải tự bươn chải, đối phó với các vấn đề khi chúng diễn ra.
BBC: Chúng ta có biết tâm trạng của ông Hồ lúc này không?
Tôi nghĩ ông ấy cảm thấy bức bối vì thiếu sự giúp đỡ cụ thể của
Quốc tế cộng sản, hay người Nga hay người cộng sản Pháp lúc đó.
Trong năm 1924, ông Hồ liên tục gửi thư yêu cầu các lãnh đạo Quốc tế
cộng sản chú ý nhiều hơn đến nhu cầu của phong trào tại Việt Nam.
Cuối cùng thì vào đầu năm 1927, thông qua một đại biểu Quốc tế
Cộng sản từ Pháp sang Quảng Đông, ông Hồ nhận được một khoản ngân
sách. Nhưng không may là trước khi kế hoạch được thực hiện, xảy ra
cuộc đảo chính của Tưởng Giới Thạch và ông Hồ phải rời khỏi
Quảng Đông trước khi các khóa đào tạo mà ông muốn tiến hành có
thể khởi động một cách toàn diện.
BBC: Trong khoảng thời gian ông Hồ ở tại Quảng Đông, có xuất hiện
cái tên của bà Tăng Tuyết Minh với những lời đồn đoán khác nhau.
Theo nguồn tài liệu mà bà có, thì Tăng Tuyết Minh là ai?
Gần đây đã có một chuyên gia Trung Quốc đề cập đến người này. Còn
theo tài liệu mà tôi tìm thấy tại Pháp, Tăng Tuyết Minh khi đó là
một phụ nữ trẻ ở Quảng Đông. Và có lẽ bà ấy và ông Hồ đã kết
hôn vào tháng Mười năm 1926. Họ ở với nhau cho đến khi ông Hồ phải
rời Quảng Đông tháng Năm 1927. Như vậy thời gian kéo dài khoảng sáu tháng.
BBC: Từ mà bà dùng – “có lẽ” – ở đây nghĩa là thế nào?
Tôi không chắc vào thời kì đó, một cuộc hôn nhân được định nghĩa
như thế nào. Ta bắt gặp những ví dụ khác nhau trong các văn bản về
phong trào cộng sản. Đôi khi một cuộc hôn nhân diễn ra đơn thuần vì
lý do chính trị. Hai người sống chung với nhau như một cách ngụy
trang để duy trì các hoạt động chính trị của họ. Thí dụ, nếu họ
điều hành một tòa soạn báo, sẽ an toàn hơn khi giả làm hai vợ
chồng. Và tôi không biết trong các phong trào cách mạng, đâu là các
yếu tố tạo nên một cuộc hôn nhân có ràng buộc. Những điều này có
vẻ không chặt chẽ, chẳng hạn nếu ta nhìn sự nghiệp của Mao Trạch
Đông, một người mà đã nhiều lần thay đổi người nâng khăn sửa túi
cho mình.
Câu hỏi về Nguyễn Thị Minh Khai
BBC: Sau khi rời khỏi Quảng Đông, ông Hồ Chí Minh đã bôn ba nhiều nơi
trước khi quay trở lại châu Á. Và rồi chúng ta có sự thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam, mà sau đó có tên Đảng Cộng sản Đông dương.
Theo quyển sách của bà, thì Đảng Cộng sản thành lập tháng Hai năm
1930 và đến tháng Mười năm đó, ông Hồ Chí Minh đã đánh mất ảnh
hưởng của mình trong đảng?
Cần nhắc là ông Hồ đã trải qua thời gian ở Thái Lan, rồi sang Hồng
Kông vào mùa đông 1929. Hồng Kông là nơi mà tháng Hai năm 1930, một
đảng cộng sản thống nhất của người Việt Nam ra đời. Cùng lúc này
thì có nhiều sự không rõ ràng xung quanh việc ai là người ban đầu
được chính thức giao trách nhiệm thành lập nên đảng. Bởi vì trước
đó Quốc tế Cộng sản gửi về hai người là Trần Phú và Ngô Đức
Trì. Hai người này đã học tại Moscow
trong khoảng ba năm và trở về mang theo chỉ thị của Quốc tế cộng
sản về cách thức thành lập đảng. Vậy là sau khi Nguyễn Ái Quốc
thành lập đảng cộng sản vào tháng hai, hai người này quay về Việt
Nam hoạt động. Cuối cùng đến tháng Mười, diễn ra hội nghị trung
ương lần thứ nhất tổ chức tại Hồng Kông. Đến lúc này hai người,
mà đặc biệt là Trần Phú - theo tôi – đã cố gắng ấn định các chỉ
thị mà họ mang theo từ Moscow.
Chỉ thị này bao gồm đảng phải là tổ chức của riêng giai cấp lao
động, một chủ trương mà sẽ dẫn đến một nỗ lực thanh trừng các
thành phần yêu nước gốc trung lưu trong nội bộ đảng.
BBC: Cũng khoảng thời gian này, có một lá thư đề ngày 12-1-1931 của
Văn phòng Viễn Đông của Quốc tế Cộng sản nhắc ông Nguyễn Ái Quốc
rằng ông cần thông báo cho họ về cuộc hôn nhân của mình hai tháng
trước khi cuộc hôn nhân diễn ra. Đây là lúc muốn được hỏi bà, theo
bà, thì có cuộc hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Minh Khai và ông Hồ
Chí Minh hay không?
Tôi không chắc đó có phải một cuộc hôn nhân thật sự hay không. Chúng
ta biết là khoảng giữa năm 1930, bà Nguyễn Thị Minh Khai được giao
đến làm việc tại văn phòng của ông Hồ ở Hồng Kông, rồi sau đó
được giao công việc liên lạc với đảng cộng sản Trung Quốc. Vào
tháng Hai năm 1931, ông Hồ có nhắc việc vợ của ông đang bận chuẩn
bị cho ngày Tết và chuẩn bị đón khách từ Việt Nam. Ông Hồ cũng
viết thư cho Quốc tế Cộng sản, có vẻ như trong đó ông đề cập tới
một đám cưới sắp diễn ra. BởI vì sau đó Quốc tế Cộng sản viết
thư trả lời, nói ông cần đình hoãn đám cướI cho đến khi có chỉ
thị mới. Tôi sẽ ngần ngừ khi nóI liệu ông Hồ có phảI đang nóI về
việc làm đám cưới thật sự hay không bởI vì trong các thư từ, họ
thường sử dụng nhiều loạI mật mã. Nhưng trong trường hợp này, có
vẻ như lá thư nói những chuyện thật sự đang diễn ra bởi vì trong
cùng một lá thư ông Hồ cũng thảo luận nhiều vấn đề khác một cách
công khai. Và từ những gì ngườI ta biết vào năm 1934, Nguyễn Ái
Quốc có một người vợ được cử tới đại hội của Quốc tế cộng sản
ở Moscow.
Khi Minh Khai tới Moscow,
bà ấy có viết trong lý lịch nói mình kết hôn với “Lin” – bí danh
của ông Hồ thời bấy giờ. Vì vậy, người ta có thể ngờ rằng giữa
hai người có một mối quan hệ vào năm 1931.
BBC: Bà nói mình không chắc có thể dùng chữ “hôn nhân” ở đây. Vậy
nếu người ta hỏi liệu đã một mối quan hệ tình cảm giữa ông Hồ
Chí Minh và bà Nguyễn Thị Minh Khai, vậy bà sẽ trả lời thế nào?
Tôi nghĩ câu trả lời là Có, đặc biệt nếu chúng ta dựa vào một số
chứng liệu khác. Ví dụ vào năm 1945, trong cuộc nói chuyện với một
phóng viên Mỹ, ông Hồ Chí Minh có nhắc ông từng có một người vợ,
nhưng bà đã qua đời. Hoặc có những đề cập nói rằng vào cuối thập
niên 1930, khi Nguyễn Thị Minh Khai quay về Việt Nam, bà đã chia cắt
với người chồng là một nhà cách mạng lớn tuổi đang ở nước ngoài.
Điều này nghe giống như một sự miêu tả ông Hồ Chí Minh.
BBC: Nhưng nếu dựa trên những nguồn tài liệu của Pháp, ta có khuynh
hướng tin là bà Nguyễn Thị Minh Khai có nhiều mối quan hệ với các
đồng chí khác nhau trong khoảng thời gian từ 1930 đến 1940. Vậy thì
đâu là thực, đâu là hư?
Đây chính là điểm làm câu chuyện phức tạp. Thông tin tình báo của
Pháp lúc bấy giờ thường đề cập bà Minh Khai có mối quan hệ với
nhiều người khác nhau. Ví dụ, năm 1932, mật thám Pháp tin rằng bà
là người tình của Trần Ngọc Danh, em trai ông Trần Phú. Chúng ta
không biết chắc liệu đây có thuộc về dạng hôn nhân cách mạng hay
không, khi mà hai người cùng chí hướng đã giả trang làm người yêu
để dễ đánh lạc hướng chính quyền đương thời. Hay còn điều gì hơn
thế! Thật khó để biết rõ cách thức hoạt động của những người
hoạt động cách mạng bởi vì họ có thể xem mình thuộc về một thế
giới khác, vượt khỏi các khuôn khổ đạo đức bình thường.
Mâu thuẫn trong đảng
BBC: Trong quyển sách, bà viết là đến khi hội nghị trung ương đảng
cộng sản Đông Dương họp tại Sài Gòn ngày 12-3-1931, mối quan hệ
giữa Ban chấp hành trung ương với ông Hồ Chí Minh đã xuống dốc rất
nhiều. Vì sao lại như vậy?
Thật sự thì Ban chấp hành gồm rất ít người, người lãnh đạo chính
là ông Trần Phú. Tôi nghĩ có một sự khó chịu về nhau từ cả hai
phía – ông Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông và các ông Trần Phú, Ngô Đức
Trì và các lãnh đạo khác ở Sài Gòn. Than phiền chính của họ là
những khó khăn trong việc liên lạc với Quốc tế cộng sản, mà đại
diện là văn phòng phương Đông tại Thượng Hải. Có nhiều lý do vì sao
việc liên lạc lại khó khăn. Một trong số đó là chi nhánh đảng cộng
sản Trung Quốc tại Hồng Kông đã bị người Anh phát hiện vào khoảng
đầu năm 1931. Nên không còn một cơ sở hạ tầng cho việc liên lạc như
trước đây. Và dĩ nhiên lúc đó đảng cộng sản tại Việt Nam cũng bị
tổn hao vì những đợt bắt bớ của người Pháp. Trong hoàn cảnh khó
khăn như vậy, dễ hiểu là vì sao các bên đổ lỗi cho nhau. Ông Hồ
không nhận được thông tin từ trong nước, nên ông yêu cầu ban chấp hành
ở miền Trung và Hà Nội. Điều này làm các lãnh đạo ở Sài Gòn
khó chịu. Vì thế ông Hồ cảm thấy mình không được sử dụng đúng và
sau đó đề nghị đảng cho thôi chức vụ của ông tại Hồng Kông.
BBC: Nhưng bên cạnh đó, một lý do khác dường như là xung đột trong
hệ tư tưởng giữa các bên, phải không?
Vâng, theo tôi, ông Hồ lúc đó bị chỉ trích vì người ta bắt đầu xem
ông là một nhà cải cách theo xu hướng quốc gia. Ông ấy coi đảng
phải sử dụng những tình cảm yêu nước để thu hút nhiều đối tượng.
Trong khi đó, tại Sài Gòn, chi bộ đảng đã bắt đầu đi theo chính
sách mới của Quốc tế Cộng sản, tức là đấu tranh giai cấp và đảng
chỉ là đảng của người vô sản mà thôi, sinh viên hay tầng lớp trung
lưu chỉ đóng vai trò hỗ trợ.
BBC: Cái vấn đề là người quốc gia hay cộng sản đã được bàn đến
nhiều xung quanh ông Hồ Chí Minh. Có người nói là ngay cả khi xem ông
Hồ là người theo chủ nghĩa dân tộc, thì thật ra đó không phải lý
thuyết của chính ông? Bà nghĩ sao?
Thật khó để biết đâu là xu hướng riêng trong chính sách của ông Hồ
lúc đó, đâu là ông đi theo chính sách của Quốc tế cộng sản thời
kì thập niên 1920. Nhưng có thể nói xu hướng của ông Hồ lúc đó phù
hợp với chính sách của Quốc tế cộng sản lúc 1920, theo đó, những
người cộng sản nên tập trung vào các cuộc cách mạng dân tộc ở các
nước thuộc địa bởi vì giai cấp vô sản hay đảng cộng sản còn rất
nhỏ, tự mình hành động thì không có lợi. Ông Hồ theo xu hướng này.
Còn ông có những ý tưởng nào vượt ra khỏi điều này không, thì tôi
không rõ.
BBC: Chúng ta hãy chuyển sang giai đoạn giữa thập niên 1930 khi ông Hồ
quay về Nga. Có vẻ như vị trí của ông trong Quốc tế cộng sản lúc
này bị lung lay?
Stalin lúc này đã củng cố ảnh hưởng của mình. Nói chung những ai
đã từng làm việc ở nước ngoài sẽ bị nghi ngờ mang tư tưởng tư
sản. Những ai trở về Nga phải tự thú. Có cảm giác kẻ thù ở mọi
nơi. Đặc biệt những người như ông Hồ Chí Minh đã từng làm việc với
mặt trận thống nhất tại miền nam Trung Hoa. Thêm vào điều đó, lại
còn những vụ bắt giữ người cộng sản tại Hồng Kông, Thượng Hải năm
1931. Cơ sở của quốc tế cộng sản tại Thượng Hải sụp đổ. Và những
người lãnh đạo đảng cộng sản tại Việt Nam cũng bị bắt. Nên dĩ
nhiên diễn ra các vụ điều tra xem ai có tội, và ông Hồ chắc chắn
trải qua những ngày vất vả khi đó.
BBC: Sau những vụ thanh trừng tại Nga 1937 – 1938, thì nhiều người tự
hỏi vì sao ông Hồ Chí Minh có thể tồn tại sau những ngày như thế?
Đó là câu hỏi mà các chuyên gia nước ngoài đã tập trung nghiên cứu
từ lâu. Quan điểm trước đây của họ cho rằng lý do chính là vì ông
Hồ, vào cuối thập niên 30, đã trở thành lãnh tụ của đảng cộng
sản nên vì thế được Stalin bảo vệ hay ít nhất cũng là một trong
những người được tin dùng. Theo tôi, đó là một sự tổng quát hóa
không có cơ sở. Stalin có thể diệt trừ những người thân cận nhất
của mình, không có ai là an toàn. Những nhân vật thân cận như
Kalinin, Molotov cũng là nạn nhân của Stalin (vợ của họ bị bắt và
đây có thể xem là một cách để khống chế những người này). Nên
phải nói ngay từ đầu cái ý nghĩ bạn có thể an toàn khi ở cạnh
Stalin là điều không có thật. Và ngoài ra, ông Hồ Chí Minh đã bị
cảnh gần như bị giáng chức vào năm 1935 vì cáo buộc ông chịu trách
nhiệm cho những vụ bắt giữ năm 1931. Nên không thể nói ông ấy lúc
đó là nhân vật hàng đầu trong Quốc tế cộng sản. Kết luận lại, tôi
nghĩ lý do chính là vì ông đã sống kín đáo, lặng lẽ. Mà thực sự
Việt Nam cũng không phải nằm trong danh sách những nước là Stalin lo
âu. Ông ta quan tâm hơn đến việc thanh trừng đảng cộng sản ở các
nước láng giềng.
Nhìn lại
BBC: Theo tường thuật của bà trong sách, đường cách mạng của ông Hồ
Chí Minh vẫn còn rất gian nan trong thập niên 30. Vậy ông Hồ đã làm
thế nào để có được quyền lực trong đảng cộng sản để rồi sau này
dẫn tới cách mạng năm 1945?
Một trong những điểm tôi cố gắng làm rõ trong quyển sách là quá
trình dẫn đến việc nắm quyền lực năm 1945 của ông Hồ không phải là
một tiến trình có sẵn từ đầu. Năm 1938, khi ông Hồ quay lại Trung
Quốc, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập là thuộc trong số những lãnh đạo
đảng tại Sài Gòn. Sau đó thì lần lượt từng lãnh đạo tại Sài Gòn
bị Pháp bắt sau khi mặt trận bình dân tại Pháp sụp đổ và người
Pháp một lần nữa ra chính sách trừ diệt đảng cộng sản. Sau đó,
tôi nghĩ có một cuộc khủng hoảng lãnh đạo trong đảng. Lúc này, ông
Hồ đang ở Trung Quốc xây dựng một nhóm những người yêu nước Việt
Nam theo đuổi chính sách thống nhất – một chính sách mà vào lúc
này quốc tế cộng sản quay lại sử dụng. Tôi nghĩ đến đầu thập niên
40, ông Hồ Chí Minh là người Việt Nam cần lúc đó, có mặt và sẵn
sàng hành động.
BBC: Như bà viết trong sách, nhiều tác giả – cả cộng sản và không
cộng sản – đã phần nào phóng đại vai trò của ông Hồ Chí Minh. Vì
sao?
Tôi nghĩ đó là điều mà trong giới sử học gọi là phát triển bằng
cách viết ngược (back formation). Bởi vì ông Hồ trở thành chủ tịch
nước năm 1945, người ta đặt ra những tiền đề không có căn cứ về sự
nghiệp của ông. Và thật dễ dàng để cho rằng ông đã luôn là một
trong những nhân vật hàng đầu trong quốc tế cộng sản. Dĩ nhiên đảng
cộng sản Việt Nam sẵn sàng chấp nhận suy nghĩ này vì nó cho họ
một uy tín trong phong trào cộng sản quốc tế.
BBC: Nhưng vì sao ngay cả những người không cộng sản cũng có thiên
hướng chấp nhận điều này?
Theo tôi, đó là vì một chân dung như thế cũng hợp với những nghị
trình của họ. Họ muốn tin rằng ông Hồ đã luôn là một người cộng
sản ẩn đằng sau cái vỏ dân tộc chủ nghĩa. Tôi nghĩ những nhà chỉ
trích ông Hồ Chí Minh - thuộc cả hai phía cộng sản và không cộng
sản - duy trì chân dung về ông như một nhà cộng sản đầy quyền lực
bởi vì ông ấy là biểu tượng nổi tiếng nhất của phong trào cộng
sản Việt Nam.
BBC: Khi đọc về những bước đường đầu tiên trong sự nghiệp của ông
Hồ Chí Minh, nó có giúp gì cho người ta hiểu về phần đời sau này
của ông hay không?
Vâng, tôi nghĩ phần nào đó, những gì diễn ra trong thập niên 30 cũng
tái lặp trong cuối thập niên 40, đầu 50. Mâu thuẫn trong phong trào
cộng sản tại Việt Nam và quốc tế không bao giờ vụt tắt. Một bên
muốn đi tới thật nhanh, xây dựng điều mà họ gọi là chủ nghĩa xã
hội bằng cách loại trừ tầng lớp trung lưu. Một bên lại cho rằng
chủ nghĩa cộng sản phải được xây dựng từ từ, trải qua giai đoạn
của chủ nghĩa tư bản. Tôi nghĩ người ta cần hiểu hai quan điểm này
cứ thay nhau được chấp nhận, rồi gạt bỏ. Cứ như vậy. Đó là một
trong những lý do – tôi nghĩ – vì sao ông Hồ Chí Minh không phải bao
giờ cũng duy trì được vị trí là một nhà lãnh đạo có thực quyền.
|