|
|
GÓP Ý VỚI SỬ GIA
WILLIAM J DUIKER (Cập
nhật hóa ngày 13/03/2004; Sửa chữa lần chót ngày 14/03/04) Cách đây không lâu,
giới nghiên cứu lịch sử hải ngoại có dịp đón chào một cuốn sách nghiên cứu về
Hồ chí Minh của Học giả William J. Duiker. Học giả Duiker dã bỏ ra trên 20
năm trời, đi khắp các thư khố Pháp, Liên Xô và Việt Nam để tìm tòi những tài
liệu liên quan đến Hồ chí Minh và từ đó vẽ lại chân dung Hồ chí Minh từ khi
sinh ra đời cho đến khi qua đời. Cuốn sách được nhiều học giả nghiên cứu về
Việt Duiker là một giáo sư
đại học môn Sử đã về hưu, trước đây ông từng là viên chức phục vụ tại Tòa Ðại
sứ Mỹ ở Sài Gòn vào giữa thập niên 1960. Ðể biên soạn cuốn sách về Hồ chí
Minh, Duiker đã bỏ ra trên 20 năm thu thập tin tức mới từ những cuộc phỏng
vấn và từ những văn khố ở Việt Nam, Trung Hoa, và Mỹ. Trước đây đã có những
sử gia Tây phương nghiên cứu về Hồ như một con người và xem xét ảnh hưởng bối
cảnh văn hóa của cuộc cách mạng do Hồ tiến hành, nhưng Duiker mới là người
không những ghép lại những khoảng trống trong đời Hồ mà còn cung cấp những dữ
kiện về Hồ như là một nhà ngoại giao và chiến lược gia. Cuộc chiến tranh Việt
Nam là một biến cố trọng đại trong lịch sử Hoa kỳ vào thế kỷ 20. Nhưng cuốn
sách hồi ký về cuộc đời Hồ chí Minh của Duiker đã nhắc nhở chúng ta là vấn đề
lớn cho người Việt Nam, cũng như cho những người khác trên hành tinh này, là
phản ứng ra sao đối với sức mạnh thực dân và sự phá hủy của xã hội truyền
thống. Hồ chí Minh đã dâng trọn đời mình cho nhiệm vụ ấy. Thời niên thiếu của Hồ
diễn ra trong một thế giới loạn lạc và xáo trộn. Ông sinh năm 1890, chỉ 5 năm
sau khi người Pháp thiết lập sự kiểm soát cai trị trên toàn cõi nước Việt Nam
một cách vững chắc. Ông sinh ở vùng Nghệ An, một vùng núi non đẹp đẽ nhưng
nhỏ hẹp và hiểm trở. Ðây là một trong những vùng đẹp nhất nước nhưng nó cũng
là vùng nghèo khổ và có truyền thống cách mạng nổi dậy nhiều nhất. Cha của Hồ
là một viên quan lại, đã dạy cho Hồ tiếng Hán và nhiệm vụ của một kẻ sĩ trong
đạo Khổng. Theo Duiker, thân sinh ông Hồ là cụ Sắc có quen biết lâu năm với
những người khoa bảng học rộng như Phan bội Châu và Phan chu Trinh, đó là
những nhà tranh đấu quốc gia quan trọng nhất trong hai thập niên đầu của thế
kỷ 20. Ông Duiker cho rằng cha Hồ bất mãn với quan triều và từ đó quyết định
nghỉ việc nhưng các tài liệu sau này cho thấy cha Hồ bị cho nghỉ việc vì say
rượu đánh chết người. Hồ được cha gửi vào trường Quốc Học ở Huế với ước mong
là Hồ sẽ theo gương quân sư Nguyễn Trãi thời thế kỷ 15, nghĩa là học hỏi để
hiểu kẻ thù thì mới đánh bại kẻ thù được. Khi Hồ và học trường
danh tiếng Quốc Học năm 1907, ông đã là một người có khuynh hướng nổi dậy. Có
lời kể ông bị đuổi ra khỏi trường vì đã ủng hộ nhân dân xuống đường biểu tình
chống lại thuế nông nghiệp cao và lao động khổ sai. Lại có dư luận giải thích
rằng vì cha ông bị đuổi việc nên ông phải rời trường Quốc Học. Ông đi về phía
Nam, làm đủ thứ nghề lặt vặt để sống qua ngày. Năm 1911, ông vào làm
bồi bếp trên một chiếc tàu thủy dự định sẽ đi tới Pháp với cái tên là "
Ba ", đây là biệt danh đầu tiên của ông trong số 50 biệt danh ông lấy
sau đó trong quãng đời làm cách mạng. Ông tâm sự về sau với một nhà báo Liên
xô là, " Tôi muốn trở nên quen biết với nền văn hóa Pháp để xem thực tế
có giống như những lời hoa mỹ trên sách báo không " Hồ đi khắp các hải cảng
từ Á châu sang Phi châu, ghé New York và London. Ông có ở lại New York một
thời gian, làm nghề lao động và có sinh hoạt với Hội Quốc Tế cải tiến sự tin
tưởng cho người da đen của Marcus Garvey ở khu Harlem. Tại London, ông làm bếp
phụ cho ông đầu bếp Auguste Escoffier tại khách sạn Carlton. Tới cuối thế
chiến thứ nhất ông định cư ở Paris, nơi được coi là trái tim của đế quốc
Pháp. Trong khi làm nghề sửa ảnh, ông lập ra Hội Người Việt lưu vong, lên án
sự đối xử tàn bạo của thực dân Pháp ở thuộc địa trong những buổi họp của Ðảng
Xã Hội Pháp. Năm 1919 ông đưa một kiến nghị lên những chính phủ Ðồng Minh tại
hội nghị Versailles, yêu cầu họ thi hành quyền dân tộc tự quyết cho Việt Nam
mà Tổng Thống Mỹ Woodrow Wilson đề ra. Chỉ có cảnh sát Pháp là lưu ý đến bản
kiến nghị và tác giả của nó là Nguyễn ái Quốc! Họ theo dõi Hồ khắp mọi nơi dù
Hồ chỉ là một thanh niên yếu đuối, nghèo khổ giống như anh hề Chaplin trên
màn bạc. Duiker căn cứ nhiều vào
những nguồn tin tình báo, phần lớn của Pháp, Anh, Trung Hoa và từ những điệp viên
trong Quốc Tế Cộng Sản, dĩ nhiên là nhiều tin tức hơn là là từ FBI hay CIA.
Từ những tài liệu ấy, Duiker đã tìm ra những chi tiết phong phú. Một gương
mặt xuất hiện từ đống tài liệu ấy là Nguyễn ái Quốc, đây là biệt danh mà ông
Hồ dùng trong 25 năm trời ,đi qua các lục địa, xây dựng liên minh, khắc chế
kẻ thù và dần xây dựng nên một đảng để làm cho giấc mơ của ông được thành sự
thật, ông là một nhân vật có hàng trăm biệt danh bị hàng ngàn cảnh sát ngày
đêm dòm ngó và săn đuổi. Hồ lần đầu tiên nhắm
tới viễn tượng một nước Việt Nam độc lập là vào năm 1919 tại Versailles, khi
ông cầu khẩn những cấp lãnh đạo đồng minh phải thi hành lời kêu gọi của
Woodrow Wilson nhắm tới chuyện làm sao cho xứ Ðông Dương của người Pháp được
có quyền tự quyết ( self - determination ). Lúc ấy ông mới có 28 tuổi. Ông là
con một viên quan tri huyện tên Nguyễn sinh Huy. Thật ra anh thanh niên
Nguyễn tất Thành lên tàu sang Pháp năm 1911 không phải là để tìm đường cứu
nước mà bởi vì bố anh, đầu năm 1910 bị một án kỷ luật nặng, mất chức tri
huyện Bình Khê, bị hạ bốn cấp trong ngạch quan lại, bị đuổi ra khỏi giai cấp
quan lại vì cái tội say rượu, đánh chết một nông dân tên Tạ đức Quang. Ông
huyện Huy từ đó mất nguồn sinh sống, phải lang thang làm nghề thầy lang bốc
thuốc khá mất thể diện, nên ông không bao giờ trở về Huế và về làng Kim Liên
( Nghệ An) nữa. Anh Thành đang học trung học, đành phải bỏ học tìm đường tự
cứu mình và cứu gia đình. Anh làm bồi bếp tàu thủy, làm bánh ngọt ở Luân Ðôn,
viết thư xin vào trường học Trường Thuộc Ðịa, gửi đơn xin viên khâm sứ Trung
Kỳ để mong ông này rủ lòng thương mà cho bố anh đi làm lại, dù làm huấn đạo
hay làm biện cũng được. Phải tới 7, 8 năm sau ở Pháp, sống bằng nghề rửa ảnh,
tiếp xúc với một số người Việt như các ông Phan văn Trường, Phan chu Trinh,
Nguyễn thế Truyền thì anh Nguyễn tất Thành mới dấn thân đi làm chính trị. Ở
Paris, anh bắt đầu thăm dò dư luận quần chúng về những tội ác do thực dân
Pháp gây ra ở Việt Nam. Anh tham gia Ðảng Xã Hội Pháp và có cảm tình nhiều
với đảng này và sau đó trở thành đảng viên sáng lập Ðảng Cộng sản Pháp.
Versailles là nơi đầu
tiên mà Hồ nử lực thuyết phục những chế độ dân chủ Tây phương tôn trọng những
tự do mà họ theo đuổi. Nhưng " những quyền thiêng liêng để quyết định số
phận của riêng mình " ( chữ của ông Hồ năm 1919) đã không được áp dụng
cho những người ở các nước nô lệ ở lúc đó và cũng không áp dụng cho đến cuối
thế chiến 2, khi mà những lời hứa hẹn tương tự của Tổng thống Franklin
Roosevelt được đưa ra. Ông Duiker hình như đã
không chú ý nhiều đến giai đoạn ông Hồ ở Trung Hoa, nơi mà Hồ đã sống phần
lớn thời gian trong thập niên 20, 30 và 40. Hồ làm việc với Mikhai Borodin,
vốn là người buôn vũ khí của Stalin bán cho Tưởng giới Thạch. Trong thời gian
này Hồ đóng vai một thương gia người Hoa mang tên Ling. Năm 1945 tại Côn
Minh, là Tổng hành dinh của Không đoàn số 14 của Mỹ, Hồ gia nhập vào cơ quan
tình báo Mỹ OSS, được đặt cho bí danh là Lucius. Ðể đổi lại tin tức tình báo
về quân Nhật ở Việt Nam, người Mỹ cung cấp một số súng ống loại nhẹ cùng huấn
luyện cho Mặt trận Việt Minh của ông. Ðây là một giai đoạn có nhiều chuyện lý
thú nhưng ông Duiker dường như không mấy quan tâm đến. Ðể tìm một phương tiện
chống lại thực dân Pháp tại quê nhà Việt Nam, Nguyễn tất Thành đã tới với
Quốc Tế Cộng Sản trong khi Quốc Tế Cộng Sản cũng đang muốn đi tìm một tổ chức
Việt Nam để chống Pháp.Sau hội nghị Versailles năm 1919, chủ thuyết Cộng Sản
của Ðảng Cộng Sản Nga dần dần thúc đẩy chuyện lật đổ những chính phủ thực dân
hồi ấy không những ở Pháp mà còn ở Anh và ở Ý nữa. Vào lúc ấy Phi Châu bị
chia thành những thuộc địa của những quyền lực Âu Châu, một số nước ở Ðông
Nam Á cũng bị rơi vào hoàn cảnh tương tự. Miến Ðiện, Mã Lai, Singapore, Bắc
Borneo ( ngày nay là tỉnh Sabah của Mã Lai ) và Hồng Kông trở thành thuộc địa
của Anh. Indonesia là thuộc địa của Hòa Lan, Việt Nam, Lào và Cam bốt bị thực
dân Pháp chiếm. Vào lúc đó, trong Ðảng
Cộng Sản Nga, không có sự liên minh chính trị nào với thành phần quốc gia hay
những đảng không Cộng sản ở bất cứ nơi đâu trên thế giới. Trong hoàn cảnh đó,
Hồ chí Minh được chú ý đến và mở đầu cho những hoạt động cách mạng sau này.
Ðảng Cộng Sản Nga hồi ấy đề ra nử lực để lật đổ những chính quyền thuộc địa,
đồng thời không muốn dính líu vào những hoạt động " quốc gia thuần túy
". Cho nên chủ nghĩa quốc gia của Hồ đã bị rơi vào quên lãng. Trong những năm đầu
thập niên 1930, Hồ không được các cấp lãnh đạo Nga sô ở Moscow sủng ái, bởi
vì chủ nghĩa quốc gia trong đầu óc Hồ mạnh mẽ hơn nên đã đè bẹp chủ nghĩa
Stalin ( Stalinism). Stalin thì lại đang củng cố quyền lực trong Liên Bang Sô
Viết thời đó. Hồ có vẻ không thích những cuộc đấu đá chính trị xảy ra ở
Moscow trong thập niên 1930 mà chỉ chú ý đến tình hình ở quê nhà. Vì thế Hồ
bị Nga sô lơ là không để ý đến. Lúc ấy hoàn cảnh chính
trị ở Pháp không giống như những gì xảy ra ở Việt Nam, mà giống như những gì
đang xảy ra ở phía bên kia biên giới Pháp, tức là ở nước Ðức. Chế độ Phát-xít
Ðức ngày càng hiếu chiến, và viễn cảnh Pháp lại sẽ phải đối đầu với Ðức một
lần nữa đã bắt đầu ló dạng cuối chân trời. Vào cuối thập niên 1930
thì tại Moscow giới lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Nga có sự thay đổi đường lối về
chuyện hợp tác với " những người quốc gia ". Họ không còn ruồng rẫy
những đảng phái quốc gia như trước nữa. Khoảng thời gian này là khoảng vào
năm 1936 và Hồ lại được Ðảng Cộng Sản Nga ở Moscow tin dùng trở lại. Quan trọng hơn nữa là
chuyện cấp lãnh đạo Sô Viết ký hiệp ước " bất tương xâm " với Phát
- xít Ðức vào tháng 8 năm 1939. Ðảng Cộng sản Nga đổi từ thái độ từ khước
sang thân thiện với những đảng phái chính trị ở những thuộc địa Âu châu. Vấn
đề trở nên phức tạp hơn khi Liên Bang Sô Viết ký thêm một hiệp ước " bất
tương xâm " với Thiên Hoàng Nhật vào tháng 4 năm 1942, khoảng chừng 1
năm sau khi Phát - xít Ðức tấn công Pháp. Người ta cho rằng Liên Bang Sô Viết
lúc ấy cần tất cả tài lực, vật lực để trấn giữ biên giới phía Tây của mình.
Hồ chí Minh lúc ấy đang làm công tác cho Borodin ở Thượng Hải, nghĩa là đang
làm việc cho người Nga, dù Hồ đã dính líu với Ðảng Cộng sản Pháp từ lâu, Hồ
là một trong những sáng lập của Ðảng này vào tháng 12 năm 1920. Từ đó ông ta
hay tới những đại hội tổ chức ở Liên Bang Sô Viết trong thập niên 1920 với
những câu hỏi về " vấn đề quốc gia ". Do đó, ông ta bị mất cảm tình
với Ðảng Cộng sản Nga trong những năm đầu thập niên 1930 , nhưng lại được tin
dùng trở lại khi Ðảng Cộng sản Nga thay đổi đường lối về chuyện hợp tác với
những đảng phái không cộng sản, nếu những đảng này thật lòng muốn chống lại
Phát xít Ðức. Chuyện diễn ra đâu đó trong khoảng thời gian từ 1936 đến 1939.
Nói đến Stalin thì
trong cuốn sách, Duiker có kể chuyện khi Hồ gặp Stalin, Hồ có yêu cầu Stalin
ký trên một cuốn tạp chí " Nước Nga đang xây dựng " do Nga xuất bản
để lưu niệm. Nhưng sau đó Stalin cho mật vụ đến phòng ngủ của Hồ để lấy lại
cuốn tạp chí có chữ ký Stalin này. Nói như thế để thấy Stalin khinh thường và
coi rẻ Hồ như thế nào. Thủ tướng Nga Krushchevs cũng có mặt lúc Stalin gặp Hồ
và sau này viết hồi ký cũng nói lên chuyện Stalin đối xử tàn tệ và khinh bỉ
Hồ như thế nào. Có lẽ nhà thơ Tố Hữu không biết chuyện này nên khi Stalin
chết đã khóc Stalin mấy vần thơ tâng bốc lên tới trời xanh !( Mấy câu thơ ấy
là: "Ông Xít-ta-lin ơi, ông Xít-ta-lin ơi, Nghe tin ông mất đất trời còn
không. Thương cha thương mẹ thương chồng. Thương mình thương một, thương ông
thương mười ( Tố Hữu )" ). Trong hồi ký " Krushchev
nhớ lại " ( Krushchev Remembers " xuất bản năm 1990 , Krushchev đã
viết về Hồ chí Minh như sau, : " Chúng tôi đã thành
thật và không ngần ngại trong mọi nử lực để giúp Việt Nam, và sự căng thẳng
đối với chúng tôi do những thành phần thân Trung Cộng ở Việt Nam gây ra quả
là một viên thuốc đắng khó nuốt. Tại sao tôi lại mang chuyện này ra bây giờ?
Tôi mang nó ra vì nó liên hệ tới một vấn đề chứa đựng những gì chúng ta có
thể mong đợi hiện nay khi Hồ chí Minh đã chết. Theo những gì tôi
đọc trên báo, những quan hệ giữa Việt Nam và Liên xô đều thuận tiện, trôi
chảy. Những phái đoàn Việt Nam đang thăm viếng Liên xô, và có những phái đoàn
báo chí của chúng ta tới Việt Nam để tường thuật về cuộc đấu tranh của nhân
dân Việt Nam. Những bài tường thuật của họ được loan tải trên báo chí cũng
như trên truyền hình và phim thời sự. Nhưng có một vài
thông tin cho tôi biết thật ra mọi chuyện không được trôi chảy và êm thắm như
báo chí đã loan và truyền hình đã chiếu. Theo những tin tức tôi được biết,
phía Việt Nam đang tỏ bày một sự tự chế không được bảo đảm lắm đối với chính
phủ và Ðảng Cộng sản Liên xô. Ðiều đó có nghĩa là lực lượng thân Trung Cộng
vẫn còn tồn tại trong chính phủ Việt Nam và ở trong tầng lớp lãnh đạo của
Ðảng Lao Ðộng Việt Nam. Ở bên ngoài ai cũng nghĩ là những sự liên hệ thân
thiện và sự hiểu biết hử tương đang phát triển giũa Việt Nam và Liên xô.
Nhưng điều có thể xảy ra là sự biểu hiện bên ngoài này chỉ là cái vỏ bày ra
do đám lãnh đạo Việt Nam tạo nên – ngay cả có thể có sự chúc lành của phía
Trung Cộng – để không bị mất sự giúp đỡ của Liên xô và những Ðảng Cộng sản
anh em khác. Tôi tin chắc đó không phải là chuyện đang xảy ra , dù tôi vẫn nghĩ
là nó vẫn có thể xảy ra. Tôi muốn tin rằng Việt Nam thật sự muốn có những mối
quan hệ tốt đẹp với Liên xô, nhưng tôi không nghĩ rằng Trung Cộng sẽ buông
tha Việt Nam ra khỏi móng vuốt của họ, và như thế là những lực lượng thân
Trung Cộng sẽ còn duy trì sức mạnh ở Việt Nam. Họ làm tất cả những gì có thể
làm mà Trung Cộng muốn. Giờ đây, với cái
chết của đồng chí Hồ chí Minh, ảnh hưởng thân Trung Cộng lớn mạnh theo kiểu
truyền nhiễm sẽ lan rộng ra một cách độc địa hơn bao giờ hết. Nếu nó xảy ra,
thì đó là một điều đáng tiếc lớn, và nó sẽ là một thông điệp kém cỏi gửi đến
đồng chí Hồ chí Minh, là người đã đầu tư nhiều suy nghĩ và nử lực trong
chuyện tăng cường sự thân thiện của quốc gia ông với Liên xô. Từ khi Hồ chí Minh
chết, đã có nhiều diễn văn và bài tường thuậ tđược viết bởi những người có
những chính kiến chính trị khác nhau, tất cả đều muốn trả lời những câu hỏi
hiện nay đang làm nhiều người bận tâm: Việt Nam sẽ phát triển những mối quan
hệ với Liên xô như thế nào? Với những quốc gia tư bản ra sao? Liên hệ kiểu gì
với những Ðảng Cộng sản có quan điểm khác với Mao trạch Ðông? Những mối quan
hệ của Việt Nam sẽ phát triển như thế nào dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản
Trung Cộng?Những thay đổi gì sẽ xảy ra ở đây trong những chính sách của Việt
Nam? Giờ đây tôi muốn chia sẻ những cảm tưởng về những gì mà tôi đã được đọc
và nghe cùng cố gắng diễn tả suy nghĩ của riêng tôi về những viễn cảnh của sự
phát triển quan hệ giữa Liên xô và Việt Nam. Dĩ nhiên không ai tiên
đoán được những gì sẽ xảy ra. Có những dấu hiệu cho thấy những gì mong đợi kế
tiếp, nhưng chúng ta phải cẩn thận về chuyện tiên đoán vì không có gì là miên
viễn, thường hằng cả. Mọi chuyện đều luân lưu, thay đổi liên tục. Mọi chuyện
có thể chuyển biến bất cứ lúc nào. Chẳng hạn như trước đây Liên xô và Trung
Cộng có một mối giao hảo tốt đẹp không lầm lửi. Ngay cả mối liên hệ giữa các
cấp lãnh đạo Liên xô và Mao trạch Ðông cũng rất tốt đẹp. Nhưng bây giờ tất cả
đều thay đổi. Chuyện tương tự có thể xảy ra với Việt Nam. Mối liên hệ của
chúng ta lúc đầu rất tốt; và nếu rồi đây nó trở nên tồi tệ đi, thì đó không
phải là lửi của Ðảng Cộng sản Liên xô. Ðúng hơn, tôi tin đó là hoàn toàn kết
quả của bản thân Mao trạch Ðông và ảnh hưởng của ông trên Việt Nam. Những văn kiện tạo
cho tôi một sự căn bản trong chuyện tiên đoán tương lai của Việt Nam căn cứ
vào cái gọi là " di chúc Hồ chí Minh " và bài diễn văn nổi tiếng
của Lê Duẩn. Tôi đọc hai văn kiện kia đến hai lần, và tôi rán đọc kỹ để có
thể diễn dịch đúng đắn chúng. Trong Di Chúc của Hồ
chí Minh không nói gì đến sự giúp đỡ to lớn, không tính toán mà Liên xô đã
dành cho Việt Nam. Sự giúp đỡ của chúng ta là một nhân tố quyết định, vì nếu
không có sự giúp đỡ của Liên xô, Việt Nam không thể sống còn dưới những điều
kiện của chiến tranh hiện đại để chống lại một kẻ xâm lăng giàu mạnh như Mỹ.
Ðể có thể nhận được vũ khí và dụng cụ, Việt Nam không có lựa chọn nào hơn là
phải dựa vào Liên xô. Ðể có thể đạt được chiến thắng, họ phải có những vũ khí
thích hợp, và những vũ khí này họ chỉ có thể có từ Liên xô. Trung Cộng không
thể cho Việt Nam những gì Việt Nam cần hôm nay. Báo chí thế giới, ngay cả
những kẻ thù của Chủ nghĩa Cộng sản, cũng phải công nhận rằng Việt Nam không
thể tiến hành chính sách kháng cự võ trang chống lại xâm lược Mỹ nếu không có
sự giúp đỡ kinh tế và vật chất từ Liên xô. Lấy ví dụ như quân đội Bắc Việt
Nam bắn một hỏa tiễn vào một căn cứ không quân Mỹ. Thường thì những hỏa tiễn
ấy không thể chế tạo từ trong những rừng Việt Nam. Chúng đến từ những cơ
xưởng ở Liên xô. Liên xô thường giúp bất vụ lợi cho tất cả những lực lượng và
cho tất cả những người chiến đấu cho độc lập , tự do kinh tế và chính trị của
mình và chống lại sự xâm lược của đế quốc. Mới gần đây, ngay cả
những thành phần thân Trung Cộng ở Việt Nam đã bắt đầu hiểu được sự cần thiết
của tình bạn với Liên xô và truyền thống Hồ chí Minh được phần nào tái lập.
Người Việt Nam đã hành động khôn ngoan khi họ tái định hướng những chính sách
của họ. Tôi nói " tái định hướng" vì họ không thay đổi chính sách
một cách căn bản, họ chỉ" tái định hướng" nó- ước tính sự cần thiết
của chuyện tiếp tục chiến tranh đến tương lai và ý thức được rằng chỉ có Liên
xô, chứ không phải Trung Cộng, có thể giúp họ sự hử trợ mà họ cần đến. Ngày nay, cuộc chiến
đấu ác liệt vẫn kéo dài và chiến thắng vẫn còn xa. Nhưng ánh sáng của sự
chiến thắng của Việt Nam đối với đế quốc Mỹ có thể dã được nhìn thấy ló dạng
cuối chân trời. Cho nên nử lực của chúng ta không nên giảm. Mọi thứ đều phải
được tận dụng để mang cuộc đấu tranh của người Việt Nam đến thắng lợi cuối
cùng. Có nhiều nguy hiểm trong cuộc chiến này hơn là tương lai của người Việt
Nam. Người Việt Nam đang đổ máu và mất mạng vì lợi ích của phong trào Quốc Tế
Cộng Sản. Liệu những người kế thừa Hồ chí Minh có đủ sự thông minh đưa cuộc
đấu tranh này đến thành công hay không? Chỉ có thời gian mới trả lời được
điều này ( Hồi ký Khrushchev (
Khrushchev remembers ) trang 485, 486, 487) Bản tiếng Anh..xuất bản năm 1990 ( Sau khi Hồ chết, trong
khi Khrushchev viết những hàng này để tả lại không khí thời bấy giờ thì lúc
đó, Thủ tướng Liên xô Aleksei Kosygin và Thủ tướng Trung Cộng Chu ân Lai gặp
nhau ở phi trường Bắc Kinh. Kosygin vừa trở về từ đám tang Hồ. Không có kết
quả tích cực nào từ cuộc gặp gỡ này, và những cuộc chạm trán giao tranh nhỏ
giữa quân đội Liên Xô và Trung Cộng và từ từ biến thành những trận đánh lớn
vào cuối năm 1969 và1970. Sự lo ngại của Khrushchev rằng Việt Nam sẽ ngả về
phía Trung Cộng đã không thật sự xảy ra. Thay vào đó Việt Nam ký một hiệp ước
thân hữu và cộng tác với Liên xô vào ngày 3 tháng 11 năm 1978. Ðể đổi lại viện
trợ kinh tế và quân sự, Việt Nam cho phép Liên xô dùng căn cứ cũ của Mỹ ở
vịnh Cam Ranh. Vào tháng 2 năm 1979, chừng 85000 quân Trung Cộng vượt qua biên
giới Hoa- Việt để đánh vào Việt Nam. Bắc Kinh gọi cuộc xâm lăng là " đánh
trả để tự vệ " chống lại " quân xâm lược Việt Nam ". Có người
cho là lý do Trung Cộng đánh Việt Nam là để trả thù cho đàn em Khmer đỏ ở
Kampuchia vì năm 1978 Việt Nam đem quân sang Miên đánh đổ chế độ đàn em của
Trung Cộng là bọn Khmer đỏ Pol Pot. Trận chiến trừng phạt kéo dài 27 ngày
trước khi quân Trung Cộng rút về để lại sự hoang tàn, phá hủy trong một khu
vực rộng 30 dặm vuông cách biên giới Việt- Hoa. Mối quan hệ Việt _ Trung từ
lâu được đánh giá là mối quan hệ khắng khít như môi và răng. Giờ đây thì răng
cắn dập môi và nhìn thấy hai nước Cộng sản đánh nhau sứt đầu lử trán người ta
mới thấy thế giới đại đồng còn lâu mới thực hiện được!) Hồ chí Minh cố gắng
" đi dây " giữa Liên xô và Trung Cộng, không làm mất lòng bên nào
để có thể nhận viện trợ của cả hai bên. Lê Duẩn thì chống Trung Cộng ra mặt
nên mới có cuộc chiến Hoa,Việt (1979). Lại có thêm 1 điểm liên
quan đến Việt Nam và Mỹ nũa mà ai cũng biết là Trân Châu Cảng ( Pearl Harbor
) của Mỹ bị Nhật tấn công vào ngày 7 tháng 12 năm 1941. Mục tiêu của Mỹ trong
Thế chiến thứ hai là phải đánh bại quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản ở Thái Bình Dương.
Có sự trùng hợp giữa mục tiêu chính trị và quân sự của Mỹ và Hồ chí Minh vào
thời kỳ này. Không biết đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không mà Mặt Trận
Việt Minh của Hồ chí Minh cũng được thành lập vào năm 1941. Rõ ràng là cơ quan tình
báo Mỹ thời bấy giờ là OSS ( tiền thân của CIA ) không những biết đến Hồ chí
Minh trong thế chiến hai mà còn có mối quan hệ thân mật với ông nữa. Tổ chức
Việt Minh của Hồ thường được ghi nhận công trạng là đã bỏ công tìm kiếm những
phi công Mỹ cóphi cơ bị bắn rơi trong lúc dội bom quân đội Thiên Hoàng Nhật
Bản, đó là một góc cạnh hợp tác giữa Mỹ và Hồ chí Minh được nhắc đến nhiều
trong suốt thế chiến thứ hai. Rồi đến sự kiện gây nhiều nghi vấn là Hồ có
trích dẫn Bản Tuyên Ngôn của Nước Mỹ vào trong Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập chống
người Pháp mà ông đọc tại quãng trường Ba Ðình vào ngày 2 tháng 9 năm 1945
.Nhưng liệu cái liên minh quân sự của Hồ và Mỹ trong thế chiến thứ hai có tạo
nên được sự khác biệt nào không đến chuyện Hồ vẫn đang hợp tác với các cấp
lãnh đạo Nga tại Moscow ? Liệu Hồ chí Minh trong giai đoạn này có đưa ra
tuyên cáo nào chối bỏ tư cách hội viên lâu đời của ông trong Ðảng Cộng sản
Pháp không? Liệu những hành động của ông trong thế chiến thứ hai không chỉ là
vấn đề thuần túy của chuyện mở rộng liên minh giữa Mỹ và Liên xô hồi ấy trong
chiến tranh ? Liệu có thể sự liên minh chính trị của Hồ chí Minh với Ðảng
Cộng Sản Pháp thay đổi vì những biến cố của năm 1941 không? Ngược lại có thể nào
thế đứng của Hồ chí Minh đối với Ðảng Cộng sản Nga được củng cố thêm vì những
hành động Hồ làm trong thế chiến hai hay không? Duiker vẫn chưa đào sâu vào
những vấn đề trên để đưa ra sự nhận định chính xác, dứt khoát. Nhưng những câu chuyện
cũ về sự hợp tác của người Mỹ với Hồ chí Minh không đưa ra được sự giải thích
rõ ràng cho những biến chuyển bằng sự tập trung chú ý phân tích những tình
huống xảy ra trên thế giới vào lúc thời điểm đặc biệt lúc bấy giờ, nghĩa là
lúc đang có những sự xâm lăng của Phát - xít Ðức và Thiên Hoàng Nhật. Vào lúc
ấy, phải nhận thấy rằng những mục tiêu chính trị và quân sự của Mỹ, Nga, Ðảng
Cộng sản Pháp và bản thân Hồ chí Minh có sự trùng hợp nhau. Ðó là có một trận
tuyến chống lại Nhật và Ðức. Hồ tình nguyện chiến đấu chống lại hai thế lực
này và nhiều viên chức Mỹ còn khám phá ra đa số người Việt Nam có sự thân
tình, tư cách và sự quyến rũ mà họ không tìm thấy ở những giống dân khác trên
thế giới. Thật ra, đường lối chính trị của Ðảng Cộng sản Pháp và Nga có thay
đổi vào cuối thế chiến hai, Hồ chí Minh may mắn có mặt đúng thời điểm này và
phù hợp với sự thay đổi ấy nên đã được giao phó trọng trách chống Quân phiệt
Nhật và Phát - xít Ðức. Nhưng bất thình lình
những ngày u ám cũ của thập niên 1920 lại tái xuất hiện vào năm 1946. Nó
không xảy ra đầu tiên ở Việt Nam mà ở Âu châu . Ðó là chuyện quân đội Ðồng
Minh phong tỏa Nga ở Berlin và mở đầu cho cuộc chiến tranh lạnh. Tổng thống
bốn nhiệm kỳ Roosevelt qua đời năm 1944, trước khi thế chiến hai chấm dứt. Do
đó cuộc chiến tranh lạnh và đường lối chính trị mới của Ðảng Cộng sản Nga và
Pháp xảy ra đầu tiên không phải ở Việt Nam mà ở Ðức. Ðường lối " Mặt
trận quốc gia " mà Ðảng Cộng sản Nga và Pháp đề ra giữa năm 1936 và 1939
một lần nữa lại trở về chính sách cũ là không cộng tác với những đảng phái
không cộng sản. Có những cuộc thanh lọc
lớn xảy ra tại Ðông Ðức trong hai năm 1944 và 1945, khi quân đội Liên xô tiến
vào Ðức. Những người không Cộng sản không được dung tha. Lúc đó là lúc Tổng
thống Mỹ Truman nhập cuộc với hòa đàm Berlin vào cuối năm 1945. Tại đó, Tổng
thống Truman gặp lãnh đạo Nga Stalin. Vấn đề giải giới quân đội Nhật đang
đóng tại Việt Nam được mang ra thảo luận cùng chung với những vấn đề khác khi
thế chiến hai sắp đi đến giai đoạn cuối. Ở Việt Nam vào cuối năm
1945 và 1946 quân đội Pháp đổ bộ trở lại . Chính phủ Truman cũng đang theo
dõi những biến cố xảy ra ở Việt Nam cũng như ở Âu châu. Cục diện ở Việt Nam
lúc đó có lẽ sẽ đổi khác nếu chính phủ Truman nghe lời Hồ chí Minh kêu gọi sự
ủng hộ của Mỹ dành cho nền độc lập Việt Nam từ tay người Pháp. Nhưng nếu đường lối
chính trị của Ðảng Cộng sản Nga và Pháp thay đổi một lần nữa năm 1946, đi
theo đường lối cũ của thập niên 1920 thì điều đó có tạo nên được sự khác biệt
nào không khi quân đội Pháp muốn trở lại vị trí cũ của họ ở Việt Nam? Có phải
những sự quan tâm của chính phủ Truman đến những biến cố ở Âu châu đã không
là chìa khóa của sự hiểu biết vì chính chính phủ này đồng ý và ngay cả hử trợ
cho chuyện quân đội Pháp trở lại Việt Nam vào cuối thế chiến hai? Duiker cũng
không đưa ra được một sự giải thích rõ ràng nào về những vấn đề nêu trên.
Theo một chuyên gia khác
nghiên cứu về Việt Nam là Frances Fitzgerald cho rằng cuốn tiểu sử Hồ chí
Minh của Duiker đã có ưu điểm là phân tích rất rõ về con đường Hồ chí Minh đã
đi đến chủ nghĩa Mác - Lê Nin như thế nào. Hồ đến với chủ nghĩa
Mác-xít vào mùa hè năm 1920, qua " Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc
địa " của Lê Nin. Hồ đã đọc về lý thuyết Mác - xít trước đó nhưng theo
sự giải thích của Duiker, những sự lý luận của Lê Nin về mối dây liên hệ giữa
chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc và về sự quan trọng của những phong
trào quốc gia ở Á châu và Phi châu ảnh hưởng đến cách mạng thế giới thật sự
đã gây ra những sự chấn động dữ dội trong tâm thức Hồ, đã dẫn ông đến trạng
thái chuyển biến. Từ một người yêu nước đơn giản với những hiểu biết sơ sài,
đại khái về chủ nghĩa xã hội thành một nhà cách mạng Mác - xít. Vào năm 1921,
khi Ðảng Xã Hội Pháp có sự chia rẽ về vấn đề có nên tham gia vào Quốc Tế Thứ
Ba của Lê Nin hay không, Hồ trở nên là hội viên sáng lập của đảng này. Khi
viết bài với bút danh Nguyễn ái Quốc, ông tranh luận không chỉ vấn đề chủ
nghĩa Cộng sản có áp dụng được vào Á châu hay không mà liệu nó có giữ được
những truyền thống Á châu vốn đặt căn bản văn hóa trên bình diện cộng đồng và
bình đẳng xã hội. Trong vòng 3 năm Hồ đòi
hỏi đảng mới cần phải hành động về vấn đề thuộc địa, nhưng những người Cộng
sản Pháp đã tỏ lộ ra là những người bênh vực Âu châu của họ, như ông Duiker
đã nói trong sách, cho nên năm 1924 Hồ bỏ đi Moscow theo lời mời của Quốc Tế
Cộng Sản. Tuy nhiên những cấp lãnh đạo Sô viết lúc này đang bận rộn với những
vấn đề đấu đá nội bộ nên Hồ phải mất gần một năm mới thuyết phục nổi những
viên chức trong Quốc Tế Cộng Sản gửi ông đến miền Nam Trung Hoa, nơi có một
mối liên minh khó chịu giữa những người Quốc Dân Ðảng Trung Hoa và Cộng sản
theo Mao, tại đây Hồ bắt đầu thuyết phục lôi kéo người Việt vào tổ chức của
ông. Hồ chí Minh trải qua 15
năm làm việc cho cách mạng Việt Nam với tư cách là một nhân viên của Quốc Tế
Cộng Sản. Theo sự ghi nhận chính xác và tỉ mỉ của Duiker, trong giai đoạn
này, Hồ nhấn mạnh nhiều đến chủ nghĩa quốc gia, cách tiếp cận kiên nhẫn và
thực tiễn về chuyện tổ chức đã làm cho ông bị Moscow mất cảm tình. Ông vẫn cứ
nhất định theo đuổi đường lối riêng của ông, chờ đợi cho qua những giai đoạn
khó khăn, bị chống đối và nắm lấy ngay những cơ hội khi chúng trồi lên. Ở
Quảng Ðông, Hồ xuất bản một tạp chí, dựng nên tổ chức Thanh Niên Cách Mạng
Ðồng Chí Hội và thiết lập một cơ sở huấn luyện tạo nên nhiều sự hấp dẫn và
chú ý trong giới học sinh, sinh viên khắp nướcViệt Nam. Ngoài chủ nghĩa Mác -
xít Lê-nin-nít, ông còn dạy đạo đức cách mạng do ông đề ra là : tiết kiệm,
thành thật, quí trọng sự học hỏi, sự khiêm tốn và sự quảng đại. Những đức
tính này, theo Duiker ghi nhận, đã mang màu sắc đạo đức Khổng giáo nhiều hơn
là ý thức hệ của chủ nghĩa Mác Lê Nin. Ðối với những người học
trò theo ông, Hồ dường như là người biểu hiện cho những đức tính đó, và sự dạy
dử của ông về những châm ngôn trên sau này đã trở thành một đặc điểm độc đáo của
cách mạng Việt Nam. Năm 1927, khi Tưởng giới
Thạch bắt đầu ruồng bố phe Cộng sản Trung Hoa, tổ chức của Hồ bị dẹp bỏ và Hồ
bị cảnh sát Trung Hoa đuổi chạy đến Hồng Kông rồi sau đó đến Moscow. Quốc Tế
Cộng Sản gửi Hồ đến Pháp và rồi theo lời yêu cầu của ông, ông được gởi đến
Thái Lan, tại đây ông sống trong vòng 2 năm để tổ chức và huấn luyện những
người Việt Nam biệt xứ . Năm 1930, ông trở lại Trung Hoa làm việc trong khi vẫn
cố gắng tránh né sự truy nã của cảnh sát Trung Hoa và mật vụ Pháp. Ông bị
người Anh bắt tại Hồng Kông và bị tù 1 năm, rồi sau đó ông đến Moscow. Nhưng
ông khó tìm kiếm sự giúp đỡ dù ít ỏi tại đây. Trong khi Stalin thanh lọc
những kẻ nào đi ngược lại đường lối của Lê Nin và ra lệnh cho những đảng Cộng
sản Á châu phải theo đuổi một mục tiêu không tưởng là tiến hành một cuộc cách
mạng vô sản quốc tế toàn diện và triệt để, đồng thời chỉ thị cho những người
Cộng sản Việt Nam thành lập Ðảng Cộng Sản Ðông Dương - danh xưng như thế
nhưng mục đích duy nhất là tìm cách phá vỡ chế độ thực dân Pháp trong vùng.
Cá nhân Hồ bị phê bình, điều tra và bị hạ tầng công tác trong thời gian này. Năm 1938 số phận Hồ
được coi là có sự thay đổi một cách may mắn. Vì Phát - xít Ðức đang lớn mạnh
nên Liên xô thay đổi lập trường về chủ nghĩa quốc gia, có nghĩa là họ chuyển
hướng ủng hộ thay vì chống đối như trước, Liên Xô kêu gọi thành lập liên minh
của những sức mạnh tiên tiến để chống lại chủ nghĩa Phát -xít. Ðồng thời lúc
đó Tưởng giới Thạch thành lập một mặt trận đoàn kết với Ðảng Cộng sản Trung
Hoa để chống lại quân xâm lăng Nhật. Chiến lược của Hồ được sáng tỏ trở lại,
Hồ lại cầm đầu những hoạt động đấu tranh của người Việt,và với tình trạng
Nhật xâm lăng Ðông Dương, Hồ thành lập một Mặt trận quốc gia gọi là Việt Minh
bao gồm thợ thuyền và nông dân để tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam. Năm 1941, Hồ trở về
nước sau 30 năm xa cách để chỉ huy và điều động một cuộc chiến tranh du kích
trên vùng núi non Việt Nam. Vào tháng 8 năm 1945,
ba tháng sau khi phe Nhật hạ bệ chính quyền Vichy của Pháp và chỉ hai ngày
sau khi Nhật đầu hàng Ðồng Minh, Việt Minh tiến vào Hà Nội. Giữa tiếng hoan
hô ngất trời của dân chúng, Hồ chí Minh đọc Tuyên Ngôn Ðộc Lập. Nhưng đó chỉ
là giai đoạn mới bắt đầu. Hồ chí Minh không muốn
có chiến tranh với người Pháp. Ông đã làm bất cứ điều gì để tránh né chiến
tranh. Qua cơ quan tình báo Mỹ OSS mà ông đã xây đắp mối quan hệ thân tình
trong chiến tranh, ông kêu gọi chính phủ Mỹ ủng hộ - ông hứa là sẽ để cho Mỹ
dùng vịnh Cam Ranh để Hải Quân Mỹ đóng quân. Ông lập ra một chính phủ liên
hiệp, ông rán kiềm chế sự nóng nảy và đồng ý chấp nhận sự hiện diện quân sự
của Pháp và Việt Nam chấp nhận làm hội viên trong khối Liên Hiệp Pháp, miễn
sao cuối cùng rồi người Pháp đồng ý trao lại nền độc lập cho Việt Nam. Nhưng sau những thất
bại nhục nhã mà Pháp phải chịu đựng trong thế chiến hai, ngay cả những người
Pháp trong Ðảng Xã Hội cũng không chấp nhận nổi ý tưởng từ bỏ những thuộc địa
cũ. Cho nên đầu năm 1947, Hồ rút vào rừng rậm để tiến hành cuộc chiến tranh
du kích. Ông được ghi nhận có nói với người bạn Pháp Jean Sainteny như sau,
" Pháp có thể giết 10 người Việt Nam trong khi Việt Nam giết một người
Pháp, nhưng Pháp cuối cùng là phe sẽ mỏi mệt và thua cuộc ." Diễn tiến
tình hình xảy ra sau này đúng y như thế. Trong cuộc chiến tranh
chống Pháp cũng như trong thế chiến hai, Hồ và những đồng chí của ông ta sống
trong những hang động hay những túp lều tranh trên núi, phải di chuyển thường
xuyên để tránh sự truy lùng của Pháp và thường xuyên chịu cảnh đói, bị bệnh
sốt rét và kiết lỵ. Năm 1954, Việt Minh thắng trận chiến quyết định Ðiện Biên
Phủ nhưng chiến tranh vẫn cứ tiếp tục. Mao trạch Ðông bắt đầu cung cấp chiến
cụ và sự huấn luyện cho quân Việt Minh đang ở trong tình trạng trang bị kém
cỏi. Trong lúc đó Mỹ bắt đầu chi viện cho những nử lực chiến tranh của Pháp.
Những siêu cường giờ đây đã dính líu sâu đậm vào Việt Nam, và năm 1954 họ gặp
nhau ở Genève để thảo luận, dàn xếp về vấn đề Việt Nam. Dưới áp lực của Bắc
Kinh và Moscow, Việt Minh đồng ý và chia đôi ở vĩ tuyến 17. Chuyện chọn vĩ
tuyến 17 cũng không do chính phủ ông Hồ quyết định mà do Tàu và Nga định
đoạt. Nói như thế để thấy chính phủ ông Hồ chưa có sự độc lập thật sự trong
quyền hành mà hoàn toàn bị lệ thuộc vào hai nước Cộng sản đàn anh Nga, Tàu.
Theo hiệp định, một cuộc bầu cử sẽ được tổ chức trong vòng 2 năm để thống
nhất đất nước. Tuy nhiên Bắc Kinh và Mạc tư Khoa không bảo đảm chuyện bầu cử
sẽ được tiến hành như dự tính, Mỹ không ký vào hiệp định và một thời gian sau
hiệp định Genève không lâu, Ngoại trưởng Mỹ John Foster tuyên bố Mỹ sẽ bắt
đầu bảo trợ một quốc gia không Cộng sản ở miền Nam. Dưới nhãn quan của những
nhà cách mạng Việt Nam, hiệp định Genève là bước đầu đưa đến chiến tranh Ðông
Dương lần thứ hai. Vào năm 1954, sau khi
Việt Minh cuối cùng đánh đuổi quân Pháp được Mỹ hử trợ ra khỏi Việt Nam.
Nhưng chuyện đó cũng là lời cam kết của những đồng minh Cộng sản của Hồ, vốn
thích hòa dịu với Washington sau chiến tranh Triều Tiên hơn là cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc. Tại hiệp định Genève năm 1954, những nhà thương thảo
Trung Cộng và Liên xô rút bỏ sự ủng hộ cho vấn đề một nước Việt Nam thống
nhất và có ý muốn đi theo kế hoạch chia quốc gia này ở vĩ tuyến 17 cho đến
năm 1956 hơn, khi mà những cuộc bầu cử được tổ chức ( thực tế là những cuộc
bầu cử đã không xảy ra ) để quyết định phần còn lại của đế quốc gọi là miền
Nam Việt Nam có muốn gia nhập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không, nơi mà Hồ
đã tuyên bố độc lập từ năm 1945. Theo nữ ký giả Carol
Brightman, trong một bài điểm cuốn sách Hồ chí Minh của Duiker, đã nhận định
là Sử gia Duiker đã cung cấp nhiều tin tức mới về những mối quan hệ đầy sóng
gió mà Hồ có với cả Liên xô và Trung Cộng. Sự chú ý của Liên xô dành cho cách
mạng Việt Nam đã ở mức độ sút kém, không chỉ sau thế chiến 2 và năm 1954 mà
từ năm 1923, khi Hồ đến Moscow tập tành làm cách mạng và gia nhập vào cách
mạng thế giới, và Stalin nghi ngờ Quốc Tế Cộng Sản ( Comintern ) đã mang một
khuôn mặt quốc gia hơn là quốc tế. Năm 1924, khi Hồ rời Moscow để rán thành
lập một đảng Cộng sản trong giới những người Việt Nam lưu vong ở Trung Hoa,
Hồ làm điều này không có sự tán thành đồng ý của Stalin. Vào cuối thế chiến
2, khi Hồ thiết lập một mối quan hệ mong manh với Hoa Kỳ - một bước đi cực kỳ
khôn ngoan, đã giúp Hồ chế ngự được phe quốc gia đối thủ, và sau khi Nhật đầu
hàng, cho phép Hồ thâu tóm quyền lực nhanh chóng - Stalin nghi ngờ nhiều về
sự trung thành của Hồ. Vào năm 1947, hai năm
sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập - khi Hồ giới thiệu nhà nước mới với những
lời " Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Họ được Thượng đế cho những quyền
không thể chuyển nhượng được.." - Phe Trung Cộng công nhận tính chất hợp
pháp của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong khi Liên xô không làm như vậy. ( Khi
nhân viên tổ chức tình báo OSS của Mỹ tên Archimedes Patti đọc bản thảo bài
Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hồ năm 1945, ông hỏi có vẻ ngạc nhiên là Hồ có thật
tình muốn mượn câu viết trong Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Mỹ để đem vào trong
Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Việt Nam không? Patti hỏi Hồ vì bản thân Patti cảm
thấy cái gì đó lấn cấn không ổn trong người. Hồ ngả người trên ghế, lấy ngón
tay đặt lên môi và hỏi nhỏ, " Tôi không nên dùng nó à ?" Vào năm 1950, một năm
sau khi Cộng sản lên nắm quyền ở Trung Hoa, Hồ được mời đi xe lửa cùng chung
với Mao và Chu ân Lai tới Moscow, nơi mà Trung Cộng và Nga sẽ ký một hiệp ước
kéo dài 30 năm. Hồ hy vọng sẽ " đối chất " với Stalin về cuộc chiến
tranh chống Pháp và lấy cảm tình của Liên xô trong sự hử trợ. Nhưng theo lời
thuật lại của Nikita Khrushchev, Stalin đã đối xử tàn tệ và khinh miệt Hồ.
Tại buổi lễ ký kết, Khi Hồ đề nghị Stalin nên ký một hiệp ước tương tự với
Việt Nam, Stalin trả lời rằng vì Hồ tới Moscow với tư cách viếng thăm không
chính thức nên không Nga không ký với Việt Nam được. Hồ đề nghị một cách vui
vẻ pha chút đùa cợt rằng ông sẽ bay quanh thành phố bằng trực thăng và sau đó
sẽ đáp xuống phi trường với những nghi lễ long trọng thích hợp. Stalin cắt
ngang lời , " Ồ mấy ông Á châu nhà ông bày đặt ra nhiều chuyện tưởng
tượng quá. " Nhưng Hồ đã thuyết phục
được Liên xô công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong năm ấy và cung
cấp sự giúp đỡ vật chất cho Việt Minh với một điều kiện của Stalin là Trung
Cộng phải đóng một vai trò chủ chốt trong việc hướng dẫn cuộc đấu tranh. Bây
giờ nhìn lại người ta mới thấy Stalin đánh giá Hồ sai rất nhiều; Hồ là một
người của quốc tế và trở thành một người Cộng sản vì ông cũng là người quốc
gia. Giống như người đồng chí đàn em Phạm văn Ðồng từng nói, " Người
Cộng sản là người yêu nước chân thành nhất." Vấn đề thật sự của nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xảy ra sau này với phía Trung Quốc, là phía tin
chắc là năm 1950 cuộc chiến với Mỹ có thể nổ ra bất cứ lúc nào ở bất cứ chử
nào dọc theo những biên giới của họ. ( Ðúng vậy, sau cùng, đó là năm quân đội
Trung Cộng vượt qua vĩ tuyến 38 ở Triều Tiên.) Cho nên điều quan trọng là
phải xây dựng hàng rào phòng thủ Trung Hoa ở Ðông Dương. Quyết định này tự
nhiên đã khiêu khích chính phủ Truman dính líu sâu đậm hơn vào Ðông Dương và
vào tháng 4, cả Washington và Bắc kinh đều cung cấp vũ khí và gửi những công
tác giúp đỡ đến đồng minh của họ ở Việt Nam. Nhìn lại những biến chuyển nóng
bỏng vào năm 1950, người ta thấy rằng Trung Cộng và Mỹ đã có những chiến
thuật ngăn chận tương ứng nhiều như thế nào ở Ðông Nam Á châu cho tới thử
thách cuối cùng đưa tới đụng độ ở Triều Tiên và làm thế nào mà cuộc chiến của
Mỹ đã bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh lạnh một thời gian dài trước khi quân
Pháp bại trận ở Ðiện Biên Phủ năm 1954. Những rắc rối mà Hồ gặp
phải với chuyện Trung Cộng xía vào những vấn đề nội bộ dần dần lớn dần lên.
Bộ trưởng quốc phòng Võ nguyên Giáp đã dùng khuôn mẫu chiến tranh nhân dân
của Trung Cộng để chống lại Pháp, và sự có mặt của những cố vấn Trung Cộng
không phải không được tiếp đón niềm nở. Nhưng rồi chuyện dần dần sáng tỏ về
vấn đề chỉ thị của Stalin gửi Mao trong đó bao gồm việc cần phải tái tổ chức
Ðảng Cộng Sản Ðông Dương ( mà Hồ đã sáng lập ở Hồng Kông năm 1930) theo chiều
hướng chính thống nhiều hơn.Dưới sự hướng dẫn của Hồ, mô hình Lê-nin-nít của
cuộc cách mạng trải qua hai giai đoạn - trong đó một mặt trận liên kết rộng
rãi sẽ hoàn thành công tác giải phóng quốc gia trước khi Ðảng bắt đầu sự
chuyển hóa lên chủ nghĩa xã hội - đã xảy ra một cách chần chừ, dằng dai, đối
với những người chủ trương cứng rắn như Trường Chinh ( cũng như Mao và
Stalin), giai đoàn đầu đã kéo quá dài thời gian. Với sự chiến thắng của phe
Cộng sản Trung Hoa trên đại lục và viễn cảnh chiến thắng quân Pháp của Việt
Nam ngày càng tăng lên, những cấp lãnh đạo Ðảng bỏ phiếu năm 1951 để tiến vào
giai đoạn hai. (Nhắc đến Võ nguyên
Giáp người ta chưa quên phe Lê Duẩn - Lê đức Thọ đã làm nhục Giáp sau này
bằng cách phong cho ông cựu Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bộ trưởng quốc phòng
Võ nguyên Giáp làm chức " Trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch " ( nói
nôm na là " cai đẻ " ) vào tháng 4 năm 1984 . Giáp phải cắn răng mà
nhận vì không dám chống lại liên minh Duẩn- Thọ. Sau này có dịp nói chuyện
với nhà văn Sơn Tùng, Giáp phân bua, chống chế cho hành động hèn kém cúi đầu
nhận chức " cai đẻ" của mình như sau: " Tôi làm tất cả
việc này vì tôi nhận được ở Bác Hồ một điều khi cùng ở với Bác ở hang Pắc Bó,
khi lót cây Bác có nói như thế này, " Việc gì dù nhỏ đến mấy mà có lợi
có ích cho nhân dân, cho tổ quốc thì làm. Việc gì dù nhỏ, nhỏ đến mấy mà có hại
cho dân cho nước thì nên tránh. " ) Khi chiều hướng ngả
sang bên tả rồi thì những cuộc vận động " tố khổ " kiểu Trung Cộng
đã được tiến hành ở mức độ những làng xã, nơi mà những quy luật cải cách
ruộng đất tập trung chú ý vào chuyện giảm thiểu ảnh hưởng kinh tế và chính
trị của tập lớp địa chủ. Duiker căn cứ nhiều vào tình báo Pháp và những người
Việt Minh hồi chánh để thấy những cuộc thảo luận phần lớn được coi như những
sự đấu tranh quyền lực giữa những cấp lãnh đạo Ðảng, nó đi ra ngoài phạm vi
đường lối mà trở thành một cuộc " cách mạng chống địa chủ " vào
giai đoạn hai. Ðó là một cách để lôi kéo nông dân, một cách để thưởng nông
dân vì sự trung thành và để cho những sự hy sinh thêm có ý nghĩa, đó là cách
làm lớn cái " biển " lên để Ðảng và quân đội bơi trong đó. Lê đức
Thọ có phát biểu về những nhu cầu thực tế như sau vào năm 1952, " Nếu ai
muốn nông dân tham gia đấu tranh quân sự, điều cần thiết đầu tiên là phải gợi
lòng căm phẫn kẻ thù trong lòng họ." Duiker đoán rằng Hồ vốn
là một người thích làm từ từ, đã nổi cáu trước chiều hướng mới này vì nó giới
hạn khả năng của ông để vận động tình hình quốc tế và bởi vì nó tạo nên một
thái độ quỳ lụy trước sự dạy dử của Trung Cộng mà Hồ đã từng chống đối trong
quá khứ qua câu nói để đời, " Thà phải hửi phân thằng Tây thêm một chút
còn hơn phải ăn phân thằng Tàu suốt đời." (Hồ nói câu này vào khoảng năm
1946, đúng vào lúc ông cố gắng thương thảo với Pháp trong lúc đám quân Quốc
dân đảng của Tàu đang đóng tại miền Bắc Việt Nam).Duiker ghi nhận khi Hồ lên
tiếng ca ngợi chính quyền Cộng sản mới thành lập ở Bắc Kinh, ông chỉ đóng
kịch tài tình để làm vừa lòng nước viện trợ mà thôi. Trong bất cứ tình huống
nào, khi một chương trình được đưa vào hành động, nó chỉ có hình thức trình
diễn bên ngoài nhiều hơn là thực chất lợi lộc bên trong; và chính sách của Hồ
luôn đi theo con đường ôn hòa đã tiếp tục được tiến hành cho đến năm 1954,
khi những tiếng nói đối lập được thúc giục bởi những cố vấn của Mao, đã dập
tắt ý muốn của Hồ. Sau khi ý muốn Washington
muốn ngăn chặn cuộc bầu cử ở miền Nam đã lộ ra quá rõ ràng, ở miền Bắc một
cuộc cải cách mới với nhiều sự trả thù hơn được tiến hành, trong đó những địa
chủ cứng đầu, đa số là người Thiên chúa giáo, đôi khi bị tra tấn và ngay cả
bị giết. Hồ lên án những vụ tra tấn mà ông ta cho là trò mọi rợ của đế quốc.
Ông đặt câu hỏi rằng, " Tại sao chúng ta đang tiến hành một chương trình
công bằng chính đáng mà lại đi dùng những phương pháp tàn bạo ?" . Chỉ
khi có những bộ đội Việt Minh phản đối những trận đấu tố gia đình họ thì cuộc
cải cách mới thối lui và các viên chức thú nhận là " đã đánh giá quá cao
quân thù ."Tuy nhiên đã quá trễ để giữ lại những người muốn Thiên chúa
giáo di cư vào Nam. Có chừng 600000 người theo " Ðức mẹ đồng trinh
" vào Nam trong khi chừng 900000 người Thiên chúa giáo ở lại. Duiker phê phán nặng nề
Hồ trong giai đoạn này chứ không đổ lửi cho cơ chế Cộng sản. Dù Hồ không trực
tiếp thi hành cuộc cải cách ruộng đất hay vụ đàn áp những trí thức phản kháng
trong " Nhân Văn Giai Phẩm " sau đó, ông sẵn lòng tha thứ cho những
hành động tàn bạo của cấp dưới vì lợi ích của sự nghiệp cách mạng. Duiker
nhận xét rằng, " Hồ chí Minh trở thành tù nhân của sự sáng tạo của ông
ta.. vì trong khi uy tín đang xuống nên ông không tránh được đường đi cứng
ngắt của một hệ thống tàn sát số phận của nhiều người để đạt cho được chỉ
tiêu đạo đức cách mạng của kế hoạch của cấp trên" Sự thận trọng của Việt
Nam đối với ảnh hưởng Trung Cộng gia tăng thêm trong thời gian chiến tranh
với Mỹ. Những viện trợ cho Hà Nội đôi khi bị tắc nghẽn vì sự tố cáo lẫn nhau
giữa Moscow và Bắc kinh. Nga theo đường lối sống chung hòa bình với phương
Tây năm 1956, trong khi Bắc Kinh vào cuối thập niên 1960 đã cổ súy cuộc cách
mạng văn hóa. Duiker ngạc nhiên khi thấy lớp đàn em kế tục Hồ không phải là
Phạm văn Ðồng và Võ nguyên Giáp mà là Lê Duẩn và Lê đức Thọ, Duẩn và Thọ là
những kẻ giáo điều, những kẻ mà Tổng Thống Mỹ Johnson gọi là " những kẻ
hiếu chiến từ miền Bắc." Những kẻ chủ chiến Lê Duẩn và Lê đức Thọ sau
khi tước quyền Hồ chí Minh đã tiến hành cuộc chiến tranh nhuộm đỏ miền Nam
cho đến ngày toàn thắng năm 1975. Ở Hà Nội, Hồ sống đơn
giản như khi còn sống trong vùng du kích kháng chiến. Ông từ chối dọn vào
dinh toàn quyền mà sống trong một ngôi nhà sàn sau lưng dinh toàn quyền nằm
cạnh một dòng suối. Ông là Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhưng ông
muốn người dân gọi ông là Bác Hồ. Người ta thường thấy ông bận bộ đồ Kaki, đi
dép râu nói chuyện với nông dân hay với những trẻ em hớn hở. Ðối với những
nhà quan sát bên ngoài thì cách sống của ông có vẻ như là một màn tự trình
diễn màu mè giả tạo. Sau hết, ông là người chinh phục người nghe bằng cách
nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, thích sự khen ngợi và tình yêu phụ nữ dành cho
ông. Duiker kể rằng lúc ở Trung Hoa ông đã lấy vợ hai lần và khi ở Hà Nội ông
đã làm cha một đứa nhỏ. Duiker không giải thích nhiều về tài đóng kịch của
Hồ, nhưng có nhiều điều đạo đức Khổng giáo mà Hồ chưa làm được. Theo truyền
thống Khổng giáo, vua phải mẫu mực trong chuyện hành động đúng. Hồ chưa phải
là người mẫu mực trong đời sống tình cảm cá nhân, có thể là do bản thân ông
mà có thể là do tổ chức chính trị ( Ðảng) không cho phép ông công khai sống
đời tình cảm bình thường của một người đàn ông vì Ðảng muốn biến ông thành
một biểu tượng siêu phàm có lợi cho cuộc đấu tranh. Bằng cách từ chối nếp
sống xa hoa vương giả, Hồ muốn chứng tỏ chính chân thực của cuộc cách mạng
của ông đến toàn dân là đoạn tuyệt với quá khứ phong kiến. Vào cuối thập niên 1950
và đầu 1960, Hồ đi nước ngoài nhiều để khéo léo vận động làm sao cho Liên xô
và Trung Cộng viện trợ cho chính quyền của ông ta dù mối quan hệ Nga-Trung
ngày càng đổ vỡ trầm trọng. Nhưng vai trò của ông ngày càng có tính cách nghi
lễ nhiều hơn. Lê Duẫn, một người trải qua nhiều năm tù trong nhà giam thực
dân Pháp, đã lên nắm quyền và hất cẳng ông Hồ ra rìa. Chịu chung số phận với
ông là Ðại tướng Võ nguyên Giáp. Duiker cho rằng Hồ mất dần quyền lực từ cuộc
cải cách ruộng đất tàn bạo vào những năm 1955-1956, vào lúc ảnh hưởng Trung
Cộng đang đè nặng lên cuộc cách mạng Việt Nam. Theo Duiker, Hồ không trực
tiếp dính líu đến cuộc cách mạng cải cách ruộng đất nhưng với danh tiếng của
ông là một người lãnh đạo biết hết mọi chuyện và lo hết mọi điều, uy tín ông
bị sứt mẻ nặng nề vì sự tàn bạo trong chiến dịch. Ðầu thập niên 1960, Hồ
cảnh cáo những đồng chí của ông về quyết định ra lệnh tổng nổi dậy quá sớm ở
miền Nam và chống lại chuyện quá đề cao vấn đề đấu tranh quân sự. Hồ muốn
tránh đem Mỹ vào cuộc chiến tranh, và cho đến khi chính phủ Johnson bắt đầu
ném bom miền Bắc, Hồ vẫn tin tưởng Washington sẽ từ bỏ sự ủng hộ chính quyền
Sài Gòn. Nhưng chuyện không diễn ra như thế. Khi quân Mỹ bắt đầu đổ vào Việt
Nam năm 1965, Hồ đã 75 tuổi và không còn chút quyền lực gì trong chính quyền
do ông tạo dựng nên. Năm 1962, có một nhà báo
Pháp tên Bernard Fall đến Hà Nội phỏng vấn Hồ chí Minh và mong sẽ tìm ra
những câu trả lời cho những chuyện bí ẩn trong đời Hồ. Hồ cũng đã nói thẳng
là ông không muốn nói hết những bí ẩn về mình, Hồ nói với Bernard Fall như
sau, " À, như ông thấy, tôi là một người đã già, rất già.. Tôi muốn giữ
lại một số bí mật nhỏ của tôi." Bản thân Hồ không muốn khai ra những bí
mật về mình thì cũng khó mà bạch hóa tất cả những bí ẩn của ông được. Duiker đánh giá Hồ chí
Minh là " Một nửa Lê Nin và một nửa Gandhi " , có nghĩa là con
người Hồ chí Minh vừa độc ác, tàn bạo như Lê Nin, vừa đạo đức, thánh thiện
như thánh Gandhi. Phần tàn bạo Lê Nin trong người Hồ đã quá rõ ràng, nhưng
phần thánh thiện Gandhi trong Hồ vẫn còn mờ nhạt tuy Hồ luôn tìm kiếm cách
giải quyết vấn đề mà không cần đến sức mạnh quân sự và khác với những đồng
chí của ông, ông có một tầm nhìn xa nhạy bén về những thực tế về quốc tế và
quốc nội, từ đó đưa ra một giải pháp thực tiễn, khéo léo và kiên nhẫn để khôn
ngoan tìm kiếm những giải pháp bằng đường lối ngoại giao. Không may thay,
Duiker trách cả Pháp lẫn Mỹ đều không cảm thấy điều đó để đáp ứng đúng lúc,
để cho vấn đề tranh chấp được giải quyết theo đường lối hòa bình và có thể đã
tiết kiệm xương máu cả hàng triệu nhân mạng. Học giả Trần trọng Kim
trong hồi ký " Một cơn gió bụi ", có kể lại chuyện năm 1946 có qua
Hương Cảng ( Hong kong) gặp vua Bảo Ðại. Khi gặp nhau, lời đầu tiên mà vua
Bảo Ðại nói với cụ Trần là: " Chúng mình già trẻ
mắc lừa bọn du côn." ( Trích từ cuốn hồi ký
" Một cơn gió bụi " trang 146 của Trần trọng Kim ) Chữ" du côn" mà
vua Bảo Ðại dùng để chỉ Hồ chí Minh và tổ chức Việt Minh ngay từ năm 1946
thật là quá đúng. Hồ chí Minh, qua tổ chức Việt Minh, ngay từ 1945 đã có
những hành động bạo ngược, bắt người lấy của, giết hại những người không theo
đảng họ, hay vì tư thù chém giết một cách tàn nhẫn. Họ đánh Pháp nhưng mục
đích cốt yếu đạt được không phải vì quốc gia, nhưng họ phải lợi dụng hai chữ
quốc gia để chống với quân địch mà đứng vào cái địa vị tranh đấu cho nền độc
lập nước nhà. Chỉ trong mấy năm thành lập, Việt Minh do Hồ chí Minh lãnh đạo
đã lòi ra nanh vuốt của loài quỉ dữ, của bọn người bất nhân tàn độc nên đã bị
vua Bảo Ðại gọi là bọn du côn. Ngay trong di chúc thật
Hồ chí Minh cũng thú nhận ông không ngại làm việc ác vì muốn noi gương Trần
thủ Ðộ ngày xưa, sẵn sàng làm ác mà vẫn làm cho nước giàu dân mạnh. Thật ra
Hồ chí Minh có sự nhầm lẫn lớn lao khi so sánh chuyện làm ác của mình với
Trần thủ Ðộ. Trần thủ Ðộ vì muốn bảo vệ ngôi báu cho nhà Trần nên đã tàn nhẫn
ra tay tàn sát hậu duệ của nhà Lý. Nhưng đối với nhân dân Trần thủ Ðộ không
có hành động nào có thể gọi là thất nhân tâm, giết người vô tội như Hồ chí
Minh đã làm trong cải cách ruộng đất. Vì không làm điều gì sai quấy với nhân
dân nên Trần thủ Ðộ đã đoàn kết được nhân dân chống giặc Nguyên và sau đó xây
dựng một đất nước giàu mạnh. Hồ chí Minh thì ngoài nhiệm vụ giành độc lập dân
tộc, ông còn có bổn phận đối với Quốc Tế Cộng Sản mà ông là hội viên, nên sau
khi kháng Pháp thành công ông đã nghe theo lời Trung Cộng để làm cuộc cải
cách ruộng đất tàn bạo, giết hại cả trăm ngàn dân vô tội. Nhưng rồi cuối đời, ông
sống những ngày thê thảm như ông đã trối trăn trong chúc thư thật và bị chính
chế độ do ông dựng ra đày ải, giam cầm ông. Ông như một phù thủy ác độc tạo ra
âm binh để dùng trong những việc mờ ám. Nhưng vì là loại phù thủy không cao
tay ấn nên âm binh quay ngược lại hãm hại người phù thủy đã tạo ra chúng. Cuộc đời của Hồ chí
Minh là một bi thảm kịch. Thảm kịch không chỉ xảy ra cho bản thân ông mà còn
cho cả dân tộc Việt Nam. Bài học mà chúng ta có
thể rút được từ cuộc đời Hồ chí Minh là đừng bao giờ áp dụng một cách máy móc
một học thuyết ngoại lai nào ( Tây, Tàu, Nga, Mỹ ) vào đất nước Việt Nam mà
không cân nhắc, cẩn thận vì học thuyết nào cũng có cái đúng, cái sai. Ðem áp
dụng một cách mù quáng thì lợi bất cập hại như Hồ chí Minh đã đem với học
thuyết Mác - Lê vào Việt Nam. Sai lầm của một thầy thuốc thì giết mất một con
bệnh, sai lầm của một nhà chính trị là giết luôn không phải một thế hệ mà
nhiều thế hệ người dân. Ðất nước Việt Nam ngày hôm nay vẫn còn tiếp tục chảy
máu vì những di sản độc hại do Hồ chí Minh để lại. Máu sẽ phải chảy một lần
nữa để rửa cho sạch những tàn tích độc hại của một chủ nghĩa ngoại lai và hy
vọng đây là lần chót người Việt Nam sẽ tỉnh táo nắm giữ vận mạng đất nước
mình, xây đắp một nền độc lập thật sự cho quê hương Việt Nam mến yêu chứ
không còn làm bù nhìn và tay sai cho ngoại bang như Hồ chí Minh và những đám
lãnh đạo hai miền Nam Bắc đã làm trong suốt thế kỷ qua. Lawndale, Một ngày tạnh ráo có nắng vàng hoe đầu tháng 3
năm 2004 |