www.viet.no - Trần Gia Phụng - 19-11-2005
1.- TỪ ĐÂU XUẤT HIỆN „TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH“ ?

Nhóm
từ ngữ „tư tưởng Hồ Chí Minh“ chỉ mới xuất hiện vào cuối thập niên 80
và đầu thập niên 90. Sự xuất hiện nầy bắt nguồn từ nhu cầu chính trị
của đảng CSVN do đà suy sụp kinh tế dưới sự cai trị của chế độ cộng sản
Hà Nội sau năm 1975, và nhất là do những biến động ở Đông Âu làm sụp đổ
khối cộng sản Liên Xô.
Cao
điểm của sự suy sụp kinh tế ở Việt Nam là việc ông Đỗ Mười, uỷ viên Bộ
chính trị đảng CSVN, chỉ huy cuộc cải tạo công thương nghiệp miền Nam,
thực chất là đánh "tư sản" năm 1978, ngăn sông cách chợ, cấm cản tiểu
thương, đày ải dân thành thị đến các vùng hoang địa, cưỡng bách lao
động trong những công tác thủy lợi thiếu nghiên cứu, tung quân xâm lăng
Campuchia. Dân chúng đói khổ ta thán, tinh thần cán bộ đảng viên cũng
sa sút theo.
Để kiếm cách tuyên truyền cổ võ dân chúng hưng phấn
trở lại, nhà nước cộng sản Hà Nội liền nghĩ cách đánh bóng hình tượng
Hồ Chí Minh, đã chết từ năm 1969 trước khi miền Nam bị cưỡng chiếm.
Họ tổ chức cuộc "rước đuốc bác Hồ" xuyên Việt, từ lăng mộ Hồ Chí Minh ở
Hà Nội lên các tỉnh miền núi Bắc Việt, và quan trọng nhất là từ Hà Nội
tiến xuống các tỉnh phía Nam vào khoảng tháng 10-1980, giống như kiểu
rước đuốc của nhà độc tài Hitler năm 1933 ở Nuremberg (Đức). Những
người lớn tuổi ở trong nước, nhất là ở miền Bắc và miền Trung đều chứng
kiến việc nầy.
Ánh đuốc bập bùng lung linh gây không khí huyền
hoặc theo nghi lễ cổ xưa cũng không làm tan đi băng giá lạnh lùng trong
tâm hồn dân chúng Việt Nam đã triền miên khổ đau vì nạn độc tài cộng
sản. Dân chúng miền Bắc và miền Trung phải bỏ công ăn việc làm, cực
khổ lo việc rước đuốc. Càng về Nam, dân chúng càng ít hưởng ứng, nên
sau chặng đường từ Tuy Hòa vào Nha Trang thì cuộc rước đuốc tan rã. Dân
chúng cần cái ăn cái mặc, chứ không phải là những lời nói suông. Vì
không xuống quá Nha Trang, do đó ở Sài Gòn và trong Nam, dân chúng ít
nghe biết chuyện rước đuốc nầy.
Năm 1989, Đông Âu bắt đầu biến
động và thoát khỏi đế quốc Liên Xô. Sau đó đến lượt Liên Xô, chiếc nôi
của Cộng Sản Quốc Tế, sụp đổ năm 1991. Khẩu hiệu chiến lược hàng đầu mà
đảng CSVN thường sử dụng: "Chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng"
không còn hiệu nghiệm. Đảng CSVN lâm vào tình trạng lúng túng, không
biết làm sao tiếp tục tuyên truyền với đảng viên và dân chúng, vì nói
rằng chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng, nay sao lại sụp đổ tan
tành chóng vánh ngay tại quê hương của Lenin? Đảng CSVN vội quay qua
cầu cứu Hồ Chí Minh lần nữa, đưa thêm "tư tưởng Hồ Chí Minh" tiếp theo
sau chủ nghĩa Mác-Lê, nghĩa là từ nay, nền tảng của ý thức hệ cộng sản
Hà Nội là chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh. Do đó mới xuất hiện
chuyện "tư tưởng Hồ Chí Minh". Để điều chỉnh căn bản ý thức hệ đang bị
lung lay, cộng sản Hà Nội cho sửa đổi hiến pháp, và chính thức hợp thực
hóa một cách công khai "tư tưởng Hồ Chí Minh“ bằng điều 4 Hiến pháp năm
1992.(1)
2.- "TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH" THEO ĐẢNG CSVN
Chữ „tư tưởng“ có hai ý nghĩa thông thường:
1)
Nghĩa hẹp, tư tưởng là sự suy nghĩ hay ý kiến của một người về các vấn
đề trong cuộc sống. Sự suy nghĩ nầy sẽ hướng dẫn người đó hành động
hay thực hiện các ý định của họ.
2) Nghĩa rộng, tư tưởng là
hệ thống suy tư hay tư duy của các cá nhân hay tổ chức về một số vấn đề
trọng đại, có tính cách thuần lý, để giúp đỡ, hướng dẫn, giáo dục con
người theo một đường lối nào đó. Trong ý nghĩa thứ nhì nầy, !tư tưởng“
đồng nghĩa với „triết lý“; ví dụ „tư tưởng Phật giáo“, „tư tưởng Lão
Trang“, nhà tư tưởng René Descartes (1596-1650)...
Khi vinh danh
„tư tưởng Hồ Chí Minh“, đảng CSVN sắp hạng tư tưởng ông Hồ theo nghĩa
thứ nhì, tức nghĩa rộng trên đây, nhưng không thấy đảng CSVN trình bày
một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngược lại, ngay từ Đại hội
2 của đảng CS vào tháng 2 năm 1951 tại Tuyên Quang để đưa đảng CS ra
hoạt động công khai trở lại với danh xưng mới là đảng Lao Động (LĐ), Hồ
Chí Minh phát biểu: "Về lý luận, đảng Lao Động Việt Nam theo chủ nghĩa
Mác-Lênin... lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam." Khi đó, đại
biểu miền Nam là Nguyễn Văn Trấn đã trình bày với Hồ Chí Minh rằng: "Có
đồng chí còn nói: hay là ta viết "tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng
Hồ Chí Minh". Ông Hồ trả lời:"Không, tôi không có tư tưởng ngoài chủ
nghĩa Mác- Lê nin."(2) Cũng trong Đại hội nầy, Hồ Chí Minh nhiều lần
tuyên bố: „Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao
Trạch Đông thì không thể sai được.“(3) Một lần khác, có người đã hỏi Hồ
Chí Minh vì sao ông không viết sách về lý thuyết cộng sản, thì ông trả
lời ông không cần viết, vì đã có Mao Trạch Đông viết rồi.(4)
Đảng
CSVN ca ngợi Hồ Chí Minh là nhà „giải phóng dân tộc.“ Thật ra ông Hồ
chống Pháp vì ông làm đơn ngày 15-9-1911 xin vào học Trường Thuộc Địa
Paris là trường chuyên đào tạo các quan chức thuộc địa, để ra làm quan
cho Pháp, nhưng ông bị Pháp từ chối, nên ông thù Pháp và chống
Pháp. Giả thiết như ông Hồ được vào học Trường Thuộc Địa Paris và được
ra làm quan cho Pháp thì ông đâu có chống Pháp. Giả thiết ông Hồ là
„nhà giải phóng dân tộc“, thì tư tưởng giải phóng dân tộc không phải là
một hệ thống tư duy triết học, và tư tưởng giải phóng dân tộc cũng
không do ông Hồ khởi xướng, mà đã tiềm ẩn trong trí óc của người Việt
từ thuở Hai Bà Trưng khởi nghĩa năm 40, cách đây gần hai ngàn năm,
truyền từ đời nầy qua đời khác; nhờ vậy người Việt và nước Việt mới tồn
tại cho đến ngày nay trước bao nhiêu cuộc ngoại xâm.
Đảng CSVN
còn cho Hồ Chí Minh đã có sáng kiến kết hợp công cuộc giải phóng dân
tộc với đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa xã hội, thì thật ra người đưa
ra sự kết hợp nầy là Lenin, nhà lãnh đạo cuộc Cách mạng cộng sản năm
1917 ở Nga. Liên minh công nông chống thực dân phong kiến cũng không
phải do Hồ Chí Minh nghĩ ra, mà ai cũng biết đó là tư tưởng của Mao
Trạch Đông, lấy nông thôn bao vây thành thị, khi ông ta muốn ứng dụng
chủ nghĩa Mác-Lê vào Trung Hoa. Josip Broz Tito (Yugoslavia) là người
chủ trương đảng và chế độ cộng sản Quốc gia độc lập chứ không nằm trong
hệ thống Đệ tam Quốc tế cộng sản từ năm 1948. Hồ Chí Minh chưa hề có tư
tưởng như Tito. Nói cho cùng, Hồ Chí Minh không có một hệ thống tư duy
nào để trở thành nhà tư tưởng như đảng CSVN phong tặng.
Vì Hồ
Chí Minh không có tư tưởng gì, nên những kẻ thừa kế tha hồ vẽ vời sáng
tác mọi chính sách rồi gắn cho nhãn hiệu Hồ Chí Minh. Họ chắp nối một
số diễn văn, lời nói của ông ta để hình thành „tư tưởng Hồ Chí
Minh“. Họ giải thích tùy hứng những những điều mà họ nói là „tư tưởng
Hồ Chí Minh“, không khác gì lối diễn giải tùy thích những sấm truyền bí
hiểm của các nhà tiên tri như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Theo dõi
những bài diễn văn, những khẩu hiệu do ông Hồ đưa ra, mọi người đều
nhận biết rõ ràng tất cả đều do ông Hồ cóp nhặt từ các nhà tư tưởng,
văn hóa và chính trị đông tây.
Ví dụ bài diễn văn khai sinh chế
độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ông Hồ đọc ngày 2-9-1945, thường được
đảng Cộng Sản gọi là bản "Tuyên ngôn độc lập", hoàn toàn vay mượn của
các văn bản Pháp và Mỹ. Mọi người sẽ không lấy làm lạ nếu biết rằng
người giúp ông Hồ viết bản văn nầy là một thiếu tá người Hoa Kỳ,
Archimedes L. A. Patti.(5)
Trong bài nói chuyện tại lớp học tập
chính trị khoảng hơn 3.000 giáo viên cấp 2 và cấp 3 miền Bắc (dạy từ
lớp 6 đến lớp 12 trung học), do bộ Giáo Dục tổ chức tại Hà Nội ngày
13-9-1958, Hồ Chí Minh viết: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,
vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người ". (Báo Nhân Dân ngày
14-9-1958) Câu khẩu hiệu nầy được treo ở tất cả các trường đại học và
trung tiểu học dưới chính quyền cộng sản. Câu khẩu hiệu nầy được sách
vở Cộng Sản xem là tư tưởng vĩ đại của Hồ Chí Minh về kế hoạch đào tạo
nhân tài cho đất nước, thật ra là câu nói của Quản Trọng cách đây hơn
hai ngàn năm.(6)
Một trong những khẩu hiệu hàng đầu được xem là
tư tưởng Hồ Chí Minh để huấn luyện và giáo dục cán bộ cộng sản là "Chí
công vô tư, cần kiệm liêm chính", được rút từ lời dạy của Nho giáo cũng
đã trên 2.000 năm. Với các phạm trù nầy, Nho giáo đã đào tạo không biết
bao nhiêu thế hệ quan lại thanh liêm trước đây phục vụ quần
chúng. Ngược lại, lời sao chép của Hồ Chí Minh chỉ là cái vỏ bọc che
đậy một hệ thống cầm quyền tham ô nhũng lạm từ trên xuống dưới, mà bất
cứ người nào ở trong cũng như ngoài nước, kể cả người ngoại quốc đều
biết.
Còn việc Hồ Chí Minh bảo rằng "Không có gì quý hơn độc lập
tự do", thì nói cho đúng, chính nhờ lợi dụng tinh thần độc lập dân tộc
và lòng yêu quý tự do của dân chúng mà Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã đưa
dân tộc Việt Nam bước vào vòng thống trị của chế độ cộng sản.
Nêu
lên vài ví dụ trên đây để thấy rằng những điều gọi là tư tưởng Hồ Chí
Minh (hiểu theo nghĩa rộng là một hệ thống tư duy) chỉ là sự cóp nhặt
danh ngôn của những vĩ nhân thế giới, rồi đề tên họ Hồ vào. Sở dĩ ông
Hồ và các thuộc hạ của ông mạnh dạn mượn tư tưởng của người khác làm
của riêng ông Hồ, vì từ năm 1954 đến 1975, Bắc Việt sống hoàn toàn bưng
bít, không có bất cứ một sách vở xưa cũ hay một phương tiện truyền
thông nào đến với dân chúng, ngoài sách đảng, báo đảng, và đài phát
thanh đảng. Trong tình hình đó, Hồ Chí Minh muốn cóp nhặt của ai thì
tha hồ mà cóp nhặt, không ai biết gì để có thể so sánh. Rủi ro có người
nào phát hiện, người đó cũng không dám lên tiếng dưới chế độ độc tài
của ông.
Ngay cái tên "Nguyễn Ái Quốc", ông Hồ mượn của Phan
Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền;(7) và cái tên "Hồ Chí
Minh", ông Hồ mượn của Hồ Học Lãm.(8) Chẳng những lấy tên "Hồ Chí Minh"
của Hồ Học Lãm, năm 1940, Nguyễn Ái Quốc còn chiếm dụng luôn danh xưng
Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội gọi tắt là Việt Minh do Hồ Học Lãm và
Nguyễn Hải Thần lập ra ở Nam Kinh (Trung Hoa) vào năm 1936,(9) nhắm
đánh lừa những người yêu nước Việt Nam và cả chính quyền Trung Hoa Quốc
Dân Đảng để được giúp đỡ.
Theo tài liệu của đảng CSVN, Bản án
chế độ thực dân Pháp xuất bản ở Pháp năm 1925 do chính Nguyễn Ái Quốc
khởi viết từ 1921.(10) Có tài liệu cho rằng Nguyễn Ái Quốc không viết
được sách nầy, vì lúc đó ông ta không đủ trình độ Pháp văn để viết
sách,(11) và ông ta đã cóp nội dung bài "Đông Dương chính trị luận" của
Phan Châu Trinh (đã được Jules Roux, bạn của Phan Châu Trinh, dịch ra
tiếng Pháp để gởi cho chính phủ Pháp và Albert Sarraut sắp qua làm toàn
quyền Đông Dương). "Bài nầy Quốc chỉ sửa chút ít, viết lại đề tựa khác
"Bản án chế độ thực dân Pháp", nhờ luật sư Phan Văn Trường sửa chữa,
viết lại nhiều trang, viết lời tựa trước khi in và phổ biến."(12)
Chẳng
những ông Hồ "mượn" tư tưởng vĩ nhân thế giới làm tư tưởng của mình,
cóp sách của người khác rồi sửa chửa làm sách của mình, ông ta còn mượn
luôn thơ của người khác để làm thơ mình. Tác phẩm được coi là nổi tiếng
của họ Hồ là Ngục trung nhật ký [Nhật ký trong tù]. Nhà nghiên cứu Lê
Hữu Mục đã phân tách tỉ mỉ tác phẩm nầy và đi đến kết luận như
sau:"Phần phân tích ở trên chứng thực già Lý là chủ nhân của những bài
thơ xây dựng theo kĩ thuật thơ Đường; những bài thơ nầy chiếm hết ba
phần tư tác phẩm. Phần còn lại có thể coi là của Hồ Chí Minh. Tôi chỉ
nói là có thể vì tôi không khẳng định được rõ ràng bài thơ nào đích
thực là của Hồ Chí Minh, bài thơ nào thuộc về các tác giả khác."(13) Từ
phát hiện của nhà nghiên cứu Lê Hữu Mục, có lẽ cũng cần nên cẩn án lại
cẩn thận những tác phẩm mang tên Hồ Chí Minh có phải thực sự là của ông
ta không?
Ở đây nên thêm một chi tiết cần thiết: trong suốt
những tác phẩm khác của Hồ Chí Minh, không bao giờ ông đả động đến
quyển Ngục trung nhật ký. Khi nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội ấn hành sách
nầy năm 1960, ông Hồ còn sáng suốt, nhưng ông không lên tiếng gì về tác
phẩm nầy, nghĩa là một mặt ông vẫn mặc nhiên công nhận ông là tác giả
sách đó, một mặt khác, ông phòng xa rủi sau nầy có ai phát hiện gian ý
ăn cắp văn chương của người khác, như tác giả Lê Hữu Mục đã làm, thì
ông vẫn nhẹ tội vì ông chưa hề lên tiếng công nhận nó là do ông viết
ra, mà đây là do nhóm thuộc cấp thực hiện mà thôi. Ông Hồ lắt léo
trong từng chi tiết của cuộc đời ông.
Việc đảng LĐ cho nhà xuất
bản Văn Học ấn hành Ngục trung tùy bút vào năm 1960 nhắm dụng ý duy
nhất là đánh bóng Hồ Chí Minh là một tác giả, đã từng vào tù ra khám vì
tranh đấu giành độc lập cho xứ sở, lại có khả năng làm thơ bằng chữ Hoa
(ngoại ngữ), để tranh thủ cảm tình của giới văn nghệ sĩ và trí thức
trên thế giới, nhắm lôi kéo họ vào mặt trận truyền thông trong công
việc tiến hành chiến tranh chống Việt Nam Cộng Hòa.
Không biết
ông Hồ đã tự cóp nhặt hoặc đạo văn, hay những thuộc hạ của ông muốn
tâng bốc ông Hồ, đã cóp nhặt và đạo văn giúp cho ông Hồ? Nếu như thế
thì họ đã hại hình tượng Hồ Chí Minh của họ. Tai hại một cách công khai
nhất là Bộ chính trị đảng CSVN đã thêm phần "tư tưởng Hồ Chí Minh" sau
chủ nghĩa Mác-Lê. Hồ Chí Minh không bao giờ là một nhà tư tưởng, cũng
không phải là một lý thuyết gia chính trị. Trong sách Ho Chi Minh, Jean
Lacouture, sử gia Pháp, đã ít nhất hai lần nói rằng ông Hồ không phải
là một lý thuyết gia, dù lúc viết sách nầy, Lacouture là một ký giả còn
thiên tả.(14) Mọi người đều đã từng nghe nói đến Marxism (Mác-xít),
Leninism (Lênin-nít), Stalinism (Xìtalin-nít), Titoism (Titô-ít),
Maoism (Mao-ít), nhưng không bao giờ nghe nói đến "Hoism" (Hồ-ít).(15)
Ông Hồ thật sự chỉ là một nhà chính trị giỏi thực hành, một chiến thuật
gia (tactician), ứng biến mau lẹ, có tài đóng kịch, đặc biệt rất sắt
máu và tàn ác dị thường.(16) Việc bộ chính trị đảng CSVN đề cao tư
tưởng Hồ Chí Minh, công khai đưa vào hiến pháp, làm cho người ta càng
thêm chú ý, và càng phơi bày trước mặt mọi người rằng ông Hồ chẳng có
tư tưởng nào đặc sắc.
3.- THỰC CHẤT "TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH"
Hồ
Chí Minh là một con người bình thường như mọi người, nên ông Hồ vẫn có
những suy nghĩ hay „tư tưởng“ (hiểu theo nghĩa hẹp) như mọi người khác.
Vậy thực chất „tư tưởng Hồ Chí Minh“ là gì? Không kể lúc còn vị thành
niên, khi đã quá 18 tuổi, thanh niên Nguyễn Tất Thành có lẽ tự thấy nếu
ít học, chẳng có bằng cấp Hán học gì như ông ta, thì khó tiến thân
trong xã hội Việt Nam thời đó, một xã hội rất trọng văn học, nên ông
nghĩ đến việc mưu sinh bằng cách làm công cho Pháp, và xin làm nhân
viên trên tàu Latouche-Tréville tháng 6-1911. (Nếu tính theo ngày sinh
trên giấy tờ của ông Hồ là 19-5-1890, thì lúc đó ông ta đã 21 tuổi.)
Đến đất Pháp khoảng tháng 7, tư tưởng hợp tác với Pháp phát triển mạnh
mẽ nên vào tháng 9, thanh niên Nguyễn Tất Thành làm đơn xin đặc cách
vào học Trường Thuộc Địa Paris, là trường đào tạo các quan chức cai trị
thuộc địa của Pháp, với „ước mong trở nên hữu ích cho nước Pháp“ (dịch
lời ông Hồ trong đơn gởi tổng thống và bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp.)
Làm một lá đơn sợ bị từ chối, thanh niên Nguyễn Tất Thành làm hai lá
đơn cùng một lúc, một gởi cho tổng thống Pháp, một gởi cho bộ trưởng Bộ
thuộc địa Pháp, với hy vọng nếu người nầy từ chối thì có thể ông kia
cứu xét gia ân. Chẳng may hai lá đơn nầy đều bị từ chối. Ông Hồ vỡ
mộng làm quan, tiếp tục các chuyến hải hành trên biển để mưu sinh. Đến
New York (Hoa Kỳ), thanh niên Nguyễn Tất Thành, lúc đó lấy tên Tây là
„Paul“, đã viết một lá thư ngày 15-12-1912 gởi cho khâm sứ Pháp ở Trung
Kỳ tha thiết xin hai việc: thứ nhất là xin một việc làm cho cha ông ta
là Nguyễn Sinh Huy, lúc đó đang lưu lạc ở Nam Kỳ, để ông nầy có điều
kiện sinh sống, thứ nhì là xin viên khâm sứ Pháp làm đầu mối chuyển
ngân để ông Thành gởi tiền về nuôi cha. Nói cách khác, chẳng những
Nguyễn tất Thành có tư tưởng hợp tác với Pháp, mà Nguyễn Tất Thành còn
có tư tưởng cầu cạnh Pháp cho phụ thân ông hợp tác.
Trước đó 6
năm, ngày 15-8-1906, Phan Châu Trinh viết „Đầu Pháp chính phủ thư“ gởi
cho toàn quyền Đông Dương và khâm sứ Pháp tại Huế, trình bày hoàn cảnh
bi đát của dân chúng Việt Nam, chỉ trích nhà cầm quyền bảo hộ Pháp, và
yêu cầu Pháp lắng nghe lời ông để mưu cầu hạnh phúc cho dân chúng Việt
Nam. Đàng nầy Paul Tất Thành đã hai lần viết ba lá thư, cũng là một
hình thức „Đầu Pháp chính phủ thư“, gởi cho các cấp cao hơn viên toàn
quyền Đông Dương, và gởi cho khâm sứ Pháp tại Huế, chỉ để mưu cầu hạnh
phúc cá nhân ông, gia đình ông, và đặc biệt cho thấy thanh niên Nguyễn
Tất Thành rất tin tưởng ở người Pháp nên mới mượn địa chỉ của khâm sứ
Pháp để liên lạc và chuyển tiền cho phụ thân.
Càng tha thiết bao
nhiêu thì càng cay đắng bấy nhiêu nếu thất bại. Quá cay đắng vì bị Pháp
từ chối các nguyện vọng tha thiết hợp tác với Pháp, kiếm đường làm
quan, thanh niên Nguyễn Tất Thành quay qua „tư tưởng thù Pháp“. Trong
một số bài báo viết tại Paris, ông Hồ đã lấy bút danh là Nguyễn Ố Pháp,
tức „người họ Nguyễn ghét Pháp“.(17) Từ đó ông ta tham gia những hoạt
động chống đối chính phủ Pháp, rồi gia nhập đảng Cộng Sản, và đầu quân
cho Đệ tam Quốc tế. Việc chống Pháp phù hợp với nguyện vọng của dân
tộc, nhưng lợi dụng khát vọng tự do độc lập của dân tộc để du nhập lý
thuyết cộng sản, chủ trương đấu tranh giai cấp, gây chia rẽ dân tộc,
xây dựng chế độ độc tài, chỉ biết quyền lợi của Đệ tam Quốc tế và của
tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN, là đi ngược lại quyền lợi dân tộc, nếu
không muốn nói đó là tư tưởng phản dân hại nước.
Sau khi lợi
dụng tinh thần bất khuất của dân tộc, tranh đấu chống Pháp thành công,
nắm được quyền hành, Hồ Chí Minh bắt đầu tư tưởng hưởng nhàn. Ông phó
mặc cho các thủ hạ như Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên
Giáp thao túng chính trị, để ông bám lấy địa vị chủ tịch nước, sống an
nhàn, bề ngoài có vẻ đạm bạc, nhưng thực chất bên trong rất xa hoa,
lãng phí. Chẳng những hưởng nhàn, Hồ Chí Minh còn có tư tưởng hưởng
lạc. Chuyện ông Hồ hưởng lạc cũng bình thường, nhưng hưởng lạc xong rồi
ông lại cho giết người đã sinh cho ông một người con thì chẳng bình
thường mà là ác độc.
Ngày xưa, trước khi qua đời, Đức Trần Hưng
Đạo yêu cầu gia đình hỏa táng, chôn sao cho mau mục và san đất trồng
cây để khỏi có ai biết.(18) Ngài muốn thân xác của Ngài mau hòa đồng
với thiên nhiên, với non nước mà Ngài đã tận tụy phục vụ, và không muốn
bất cứ ai phải tốn công thờ phượng Ngài. Đó là tư tưởng phóng khoáng
của thánh nhân. Trong khi đó, trước khi chết, Hồ Chí Minh để di chúc
lại yêu cầu hỏa táng và "Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp
sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền
Nam. Đồng bào mỗi miền nên chọn 1 quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả,
không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây một ngôi nhà giản đơn, rộng
rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi."
(19) Như thế, đến khi gần chết, ông Hồ vẫn còn „tư tưởng hiếu danh“ và
„tư tưởng sùng bái cá nhân“.
Ngày nay, tại Việt Nam, chủ nghĩa
Mác-Lê và hình tượng Hồ Chí Minh chỉ còn là chiếc phao để đảng Cộng Sản
duy trì quyền lực độc đảng độc tài dựa trên bạo lực mà thôi. Trong khi
đó, dư luận trong nước cũng như trên thế giới đều lên tiếng hô hào loại
bỏ điều 4 hiến pháp 1992 của Hà Nội, nghĩa là chẳng những loại bỏ đặc
quyền tối thượng của đảng CSVN, mà còn loại bỏ luôn chủ thuyết Mác-Lê
và cái gọi là "tư tưởng Hồ Chí Minh".
Điều 4 hiến pháp Việt Nam
năm 1992 bắt chước theo điều 6 của hiến pháp Liên Xô năm 1980. Khi
những đảng viên cấp tiến cộng sản Liên Xô muốn loại bỏ điều 6 hiến pháp
của họ, thì gặp phản ứng mạnh mẽ của giới bảo thủ. "... Điều đó đã xảy
ra khi điều 6 hiến pháp Liên Xô, về "vai trò lãnh đạo và hướng dẫn" của
đảng Cộng Sản trong đời sống quốc gia sắp sửa bị tiêu hủy. Việc tu
chính hiến pháp tức thì bị phản đối. Những nhóm sợ mất quyền lực toàn
năng một thời của họ đã tập họp lại..."(20) Tuy vậy, cuối cùng nhân dân
Liên Xô cũng đã đứng lên năm 1991 chẳng những loại bỏ điều 6 hiến pháp
mà loại bỏ luôn toàn bộ hiến pháp năm 1980 và cả chế độ cộng sản. Trước
sau gì nhân dân Việt Nam cũng sẽ làm như thế, dù đảng CSVN cố duy trì
điều 4 hiến pháp 1992 để bảo vệ quyền lực của họ.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, Canada)
|
CHÚ THÍCH Hồ Chí Minh, Toàn văn di chúc chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh Niên, TpHCM, 2000. Di chúc viết năm 1968. |