Xét lại "hồ sơ" của giai cấp địa chủ
Talawas - Trần Huy Liệu - 29-09-2005
Ngay từ tháng 3.1954, khi cuộc Cải cách ruộng
đất đang ở thời kì khắc nghiệt nhất, Trần Huy Liệu đã viết thư cho ông Hoàng
Quốc Việt, một trong những người lãnh đạo Cải cách ruộng đất, nêu ý kiến cho
rằng ở Việt Nam, khác với Trung Quốc, địa chủ đa số là bậc trung và bậc tiểu, mà
phần đông lại là yêu nước. Vì vậy, cần có sách lược đối xử đúng mức trong Cải
cách ruộng đất, không nên gộp tất cả là kẻ địch. Bài này của Trần Huy Liệu đăng
trên tập san
Văn Sử Địa số 25, quý I-1957, kí tên Hải Khách, bút danh của
ông thời Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939). Nó phản ánh nhận thức của Trần
Huy Liệu - lúc đó là trưởng ban nghiên cứu Văn Sử Địa - sau cuộc Cải cách ruộng
đất và thời kì sửa sai. Ngay sau khi bài được đăng, trong một cuộc họp ở câu lạc
bộ Đoàn kết, ông Trường Chinh đã nhận xét là bài có sự "mơ hồ giai cấp".
alawas
Đặt vấn đề
Sau những sai lầm
nghiêm trọng về cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, đã đến lúc chúng ta cần
phải xét lại một số nhận định từ trước về tính chất giai cấp, quan hệ giữa các
giai cấp và đối tượng chủ yếu của cách mạng, các lực lượng tham gia cách mạng
trong quá trình cách mạng Việt Nam. Việc này chúng tôi đã bắt đầu làm trong mấy
số tập san gần đây. Một nhận thức chung là xã hội Việt Nam trong thời Pháp thuộc
là một xứ thuộc địa và nửa phong kiến, do đó, nó có những đặc điểm mà chúng ta
phải tìm ra để biết đến để sắp xếp lực lượng, định một chiến lược cho thật
đúng.
Với bài này, tôi nói về giai cấp phong kiến địa chủ và trước
hết, hãy trang trải về danh từ. Còn nhớ năm 1935, trong cuộc bút chiến giữa Phan
Khôi và Hải Triều, một vấn đề đã được nêu lên là nước Việt Nam ta còn có chế độ
phong kiến không. Ông Phan Khôi căn cứ vào mấy chữ định nghĩa "phong hầu kiến
ấp" ngày trước để đi đến chỗ phủ nhận phong kiến còn tồn tại ở Việt Nam. Trái
lại ông Hải Triều căn cứ vào chế độ chiếm hữu ruộng đất của phong kiến, hình
thức bóc lột địa tô của địa chủ để đi đến kết luận là phong kiến vẫn tồn tại ở
Việt Nam. Cuộc bút chiến hồi đó, cũng như nhiều cuộc bút chiến khác, không có
trọng tài để phân giải ai phải ai trái một cách rõ ràng. Nhưng với một nhận thức
căn bản về quan hệ tư liệu sản xuất, cụ thể là ruộng đất, không ai chối cãi được
là nước Việt Nam có chế độ phong kiến, có giai cấp phong kiến mà một trong những
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là phải đánh đổ bọn phong kiến, tay sai của đế
quốc và quét sạch tàn tích phong kiến. Trong cuộc giảm tô và cải cách ruộng đất
vừa qua, đối tượng của nông dân là giai cấp điạ chủ. Nhưng trong đó còn có những
trường hợp phiền phức như: có những người về địa vị và danh vọng thuộc giai cấp
phong kiến, nhưng không có ruộng cho thu tô, không bóc lột theo lối phong kiến.
Liệt họ vào giai cấp nông dân thì cố nhiên họ không phải là nông dân. Cũng có
người nói họ là chủ của một ít ruộng đất, tức là tiểu tư hữu nằm trong cơ sở của
chế độ tư sản. Vấn đề rất phức tạp, cần phải nghiên cứu nhiều. Ngay đến việc quy
định thành phần địa chủ trong cuộc cải cách vừa qua cũng còn nhiều điểm phải bàn
lại.
Vì vấn đề phức tạp, mục đích của bài này chưa đi sâu vào nội dung
sinh hoạt của giai cấp, cũng không tách khỏi địa chủ với phong kiến, mà chỉ kiểm
điểm thái độ chính trị của họ, nghĩa là xét lại "hồ sơ" của họ. Cùng với việc
nghiên cứu các giai cấp khác, tôi muốn biết đặc điểm của giai cấp phong kiến
thuộc địa trong một xứ thuộc địa khác với giai cấp phong kiến địa chủ trong một
nước độc lập và cũng do đó, chúng ta càng nhận rõ bạn thù trong từng giai đoạn
lịch sử nhất định trên lập trường giai cấp và lập trường dân tộc.
Bài
này viết ra tôi mới trình bày những ý kiến sơ bộ và còn tiếp tục nghiên cứu.
Kiểm điểm thái độ chính trị của giai cấp phong kiến địa chủ qua
các thời kì
Cần phải "phân bua" rằng: xét lại "hồ sơ" của giai
cấp địa chủ, một giai cấp đã bị lên án, liệt vào đối tượng của cách mạng dân tộc
dân chủ, tôi không có ý định làm "thầy cãi " cho một tội nhân đã có tội chứng
rành rành, mà chỉ tìm trong đó những tình tiết đáng chú ý, những trường hợp cần
thẩm tra lại, làm nổi bật lên tính chất của địa chủ ở một xứ thuộc địa nửa phong
kiến.
Không như các giai cấp tư sản dân tộc, tiểu tư sản và công
nhân mới xuất hiện trong thời kì Pháp thuộc, giai cấp phong kiến địa chủ nước ta
xuất hiện và nắm quyền thống trị từ lâu. Trước ngày thực dân Pháp đánh chiếm
nước ta thì mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ phong kiến đã
phải nhường chỗ chủ yếu cho mâu thuẫn giữa toàn dân Việt Nam, trong đó có giai
cấp phong kiến địa chủ, với bọn xâm lược cướp nước. Cũng từ lúc này sự phân hóa
trong giai cấp phong kiến địa chủ biểu hiện thái độ chính trị với bọn xâm lược
đã diễn ra không ngừng. Đầu tiên là sự phân chia giữa phái chủ hòa, nói đúng hơn
là phái đầu hàng, đã đứng trên lập trường giai cấp của chúng, muốn thỏa thuận
với giặc ngoại xâm để duy trì quyền lợi một phần nào của chúng khỏi bị đổ vỡ
trước phong trào ngày càng lớn mạnh của nông dân. Phái chủ chiến đứng trên lập
trường giai cấp từ trước cũng như lập trường dân tộc, thấy không thỏa hiệp được
với giặc ngoại xâm, không can tâm làm nô lệ nên chủ trương chiến đấu. Sau khi
phái chủ chiến đã chiến bại và triều đình Huế đã đầu hàng, công nhận sự đô hộ
của thực dân Pháp thì sự phân chia lại một lần nữa diễn ra giữa bọn phong kiến
tại triều và một số văn thân kháng chiến. Nếu chúng ta điểm mặt những lãnh tụ
khởi nghĩa bấy giờ thì hầu hết là những hưu quan, những nhà khao mục ở các địa
phương. Họ không những không có đặc quyền đặc lợi gì, mà phần nhiều thuộc loại
"tiếng cả nhà thanh", nghĩa là danh vọng thì lớn nhưng tài sản thì ít. Một điểm
đáng nghi là: ngoài chỗ dựa vào nông dân, những phần tử trung kiên trong các
cuộc khởi nghĩa đa số là những nhà Nho nghèo. Về danh nghĩa họ thuộc giai cấp
phong kiến, nhưng không phải là điạ chủ sống bằng địa tô. Chính những người này
là động lực của cuộc khởi nghĩa kháng Pháp và nối liền những tập đoàn lãnh đạo
khởi nghĩa với nông dân địa phương.
Nói đến cuộc lãnh đạo cách mạng
trong giai đoạn đầu, có người thấy giai cấp địa chủ là đối tượng của cách mạng
ngày nay rồi chực phủ nhận cả một bộ phận phong kiến đã có lúc lãnh đạo cách
mạng. Có người dựa vào lí luận nói giai cấp phong kiến địa chủ là kẻ thù của
nông dân thì làm thế nào lãnh đạo được giai cấp nông dân. Những người này đã xa
lìa thực tế, không đặt giai cấp phong kiến địa chủ vào khung cảnh thuộc địa, lại
cũng không thấy mâu thuẫn dân tộc ở một xứ thuộc địa bao trùm cả mâu thuẫn giai
cấp, mặc dù mâu thuẫn dân tộc về thực chất vẫn là mâu thuẫn giai cấp. Nhìn vào
giai đoạn lịch sử này, chúng ta phải phân biệt bọn đại phong kiến có những đặc
quyền đặc lợi tại triều đình với những lớp phong kiến nghèo và những trung, tiểu
phong kiến ở thôn quê đã biểu lộ nhưng thái độ khác hẳn nhau. Chúng ta một mặt
ghi điểm phản động của giai cấp phong kiến với chế độ chiếm hữu ruộng đất bóc
lột địa tô, một mặt đừng quên ghi điểm tiến bộ của những văn thân yêu nước chống
giặc. Một ngày nào họ chưa đầu hàng đế quốc, còn đứng trên lập trường dân tộc,
còn lãnh đạo chống Pháp thì nhân dân vẫn ủng hộ họ. Nói cho cùng những cuộc vũ
trang khởi nghĩa từ khi thực dân Pháp bắt đầu đánh chiếm Nam Kì qua phong trào
Cần Vương đến cuối thế kỉ XIX, trừ một vài trường hợp đặc biệt không kể nếu
chúng ta cố ý phủ nhận sự lãnh đạo cho giai cấp nào? Hôm trước, trong cuộc thảo
luận giữa tôi và một đồng chí Liên Xô nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, đồng chí
bạn có đặt ra một câu nghi vấn xem có một nhóm văn thân vào lúc ấy đã có khuynh
hướng tư sản chưa? Tôi căn cứ vào sử liệu mà trả lời rằng: chủ trương của các
văn thân hồi đó rõ ràng là bình Tây, là Cần Vương, là khôi phục chế độ cũ, chớ
chưa biểu lộ ra khía cạnh nào có xu hướng dân chủ cả. Vả chăng, xu hướng dân chủ
tư sản chỉ có thể sản ra với một điều kiện xã hội Việt Nam có đủ một nền kinh tế
tư bản chủ nghĩa và những tầng lớp tư sản mới.
Qua hai lần phân chia kể
trên, đến đầu thế kỉ XX, giai cấp phong kiến lại một lần phân hóa nữa. Lúc này,
sau những cuộc khởi nghĩa thất bại, một bộ phận phong kiến đã bị phá sản.Trong
các cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp, kinh tế tư bản chủ nghĩa đã
dần dần có cơ sở. Tầng lớp tư sản mới đã bắt đầu xuất hiện tại các thành thị.
Trào lưu tư tưởng của thế giới tràn vào thông qua các yếu tố mới đương nẩy nở
trong nước làm cho ý thức hệ của giai cấp phong kiến bị rạn nứt, rung động. Lần
này phân hóa diễn ra giữa hai phái sĩ phu: một phái thủ cựu vẫn ôm riết lấy ý
thức hệ phong kiến, và một phái có khuynh hướng dân chủ tư sản tới một mức độ
nào. Những phong trào đầu thế kỉ XX như: Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy
Tân... do một số sĩ phu tiến bộ trong giai cấp phong kiến lãnh đạo đã nói lên
một biến động lớn về tính chất của cuộc đấu tranh cách mạng cũng như về hệ thống
tư tưởng của đẳng cấp sĩ phu. Sau đó giai cấp phong kiến cho đến hết cuộc đại
chiến thứ nhất, nói chung, đã hết vai trò lãnh đạo chống thực dân Pháp, nhưng
một bộ phận trong phái sĩ phu tiến bộ mà tiêu biểu của nó là Phan Bội Châu, Phan
Chu Trinh đã dần đi vào khuynh hướng tư sản dân chủ của những tầng lớp đang cấu
thành giai cấp và phong trào tư sản sắp chính thức bắt đầu. Một bộ phận khác như
Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên... lãnh tụ đảng Tân Việt sau này, còn tiến xa hơn
nữa, trút bỏ hết những nếp tư tưởng, đường lối đấu tranh của giai cấp phong
kiến, giai cấp gốc rễ của họ để hòa mình vào trào lưu mới chẳng những có tính
chất dân chủ, mà còn có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa.
Ở trên tôi đã
đánh dấu vai trò lãnh đạo chống thực dân Pháp của giai cấp phong kiến, mặc dầu
là một bộ phận, đã chấm dứt từ sau cuộc đại chiến thứ nhất. Nhưng vấn đề đặt ra
là: có phải từ đó trở đi, giai cấp phong kiến địa chủ đã trở nên hoàn toàn phản
động, cấu kết với thực dân Pháp để chống lại dân tộc không? Chúng ta phải xét
lại sự nhận định ấy đúng đến đâu, đến mức độ nào? Tốt hơn hết là chúng ta hãy
trình bày những sự thực diễn ra qua các thời kì để làm cơ sở cho nhận xét khách
quan.
Thực ra, ngay từ khi thực dân Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta, một
bộ phận phong kiến, chủ yếu là phong kiến cầm quyền tại triều đình Huế, đã câu
kết với giặc, làm tay sai cho giặc để giết hại đồng bào, phản lại Tổ quốc. Những
tên đại Việt gian như Trần Đình Lộc, Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải... chẳng những
là kẻ thù dân tộc, mà còn là kẻ thù của phe phong kiến chống Pháp lúc bấy giờ.
Trong hai bức thư trao đổi giữa Hoàng Cao Khải và Phan Đình Phùng, chúng ta thấy
rõ hai người cùng một giai cấp mà đứng trên hai lập trường, phân biệt rõ rệt
người phong kiến yêu nước. Từ sau cuộc đại chiến thứ nhất, giai cấp tư sản Việt
Nam hình thành. Nhưng một đặc điểm của xứ thuộc địa, xứ nông nghiệp mà chúng ta
đừng quên là: những nhà tư sản lớp trên đa số xuất thân từ giai cấp phong kiến
cũng như số công thương gia kiêm địa chủ hay địa chủ kiêm công thương gia khá
nhiều. Đảng Lập hiến ở Nam kì là một tập đoàn đại địa chủ tư sản hóa vừa có hàng
nghìn hàng vạn mẫu ruộng thu tô vừa có những nhà máy gạo, máy dệt, hãng làm xà
phòng, thuốc lá ở thành thị, đến cả nhà Việt Nam ngân hàng. Do đó, khuynh hướng
chính trị của họ biểu lộ ra từ khoảng những năm 1922-1926 là đòi tự do dân chủ,
tán thành cải lương để rồi đi đến "Pháp Việt đề huề", sát cánh với bọn đại biểu
của tư sản Pháp trong các nghị trường và cuối cùng là chống lại phong trào đấu
tranh của nhân dân ngày một lên cao. Từ năm 1930 trở đi, đối tượng cách mạng
chẳng những chĩa vào thực dân Pháp mà còn chĩa vào giai cấp phong kiến địa chủ
thì thái độ bọn địa chủ, trong đó đa số là quan lại và chính khách cũng tỏ ra
quyết liệt, không còn miếng đất nào có thể hòa giải với cách mạng. Đảng Lý Nhân
mà hồi đó người ta nhắc đến ở Nam kì cũng như ở Nghệ Tĩnh là một đảng chống lại
cách mạng. Cho tới nay chúng tôi vẫn chưa tìm được tài liệu cụ thể về đảng này,
chỉ biết rằng hồi đó bọn thống trị Pháp âm mưu lập một tổ chức dựa vào phong
kiến địa chủ để đàn áp cách mạng. Thái độ phản cách mạng của bọn đại địa chủ đã
rõ rệt, nhưng chỗ mà chúng ta cần đi sâu vào là thái độ của tầng lớp trung, tiểu
địa chủ ra sao? Tài liệu về phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930 cho biết rằng:
những ngày đầu nhiều địa chủ phú nông cũng hưởng ứng theo phong trào, sẵn sàng
đem thóc gạo trong nhà đem cống ra xã hội. Nhưng với khẩu hiệu "Trí, phú, địa,
hào, đào tận gốc, trốc tận rễ", những người lãnh đạo phong trào hồi đó đã không
nắm vững đường lối chính trị của đảng, đã làm cho công, nông bị cô lập và mặt
trận thống nhất dân tộc bị tan rã và không tranh thủ được trung tiểu địa chủ còn
có thể đi được với cách mạng đến một chừng mực nào, trong một phạm vi nào.
Tiếp đến phong trào Mặt trận Bình dân 1936-1939. Vì là một phong trào
đấu tranh công khai và hợp pháp mà chương trình tối thiểu của Đảng Cộng sản đề
ra là chống phản động thuộc địa, đòi tự do dân chủ và cải thiện dân sinh, nên sự
phản ứng của giai cấp địa chủ không rõ rệt. Chỉ biết: trong tổ chức cũng như
công tác đều có những thành phần nhỏ địa chủ tham gia. Những "giáp mới" và "hội
hiếu", "hội hỷ" bấy giờ, những hình thức vừa để đoàn kết nông thôn vừa là "hội
biến tướng của cách mạng" đều có mặt cả trung, tiểu địa chủ. Nhưng đến năm 1939,
trong âm mưu trở lại hiệp ước 1884, chúng ta thấy rõ một lần nữa, thực dân Pháp
câu kết với bọn phong kiến mà Phạm Quỳnh và Phạm Lê Bổng là chủ mưu, đã muốn
khôi phục uy quyền của bọn phong kiến Nam triều để đàn áp phong trào nhân dân
đương sôi nổi, kẻ phản động rõ rệt chống lại nhân dân vẫn là bọn vua quan phong
kiến.
Tháng 6 năm 1940, sau khi quân Nhật kéo vào Đông Dương, nhân dân
Đông Dương nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng bị một cổ hai tròng. Những
việc cướp đất làm trường bay hay khu quân sự, nhổ ngô lúa trồng đay, gai và bắt
nộp thóc tạ... chẳng phải chỉ trút lên đầu nông dân, mà chính nhiều địa chủ phải
chịu nhiều thiệt hại nặng nề. Do đó, không kể bọn đại địa chủ và bọn bám theo
Nhật hoặc bám theo Pháp, một số trung, tiểu địa chủ đều ngã theo cách mạng, theo
chủ trương đánh Pháp đuổi Nhật của Đảng Cộng sản Đông Dương. Biểu hiện rõ rệt
nhất là khởi nghĩa Nam kì tháng 11.1940. Trước tình thế mới, vài quyền lợi cấp
thiết của cuộc cách mạng dân tộc giải phóng, Đảng Cộng sản Đông Dương tạm gác
khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày, thay bằng khẩu hiệu
tịch thu ruộng đất của bọn Việt gian phản quốc chia cho dân cày. Tôi còn nhớ lúc
ấy một cuộc hội thảo sôi nổi đã nêu lên giữa các đảng viên: thay chiến lược hay
thay chiến thuật. Chỗ này quan hệ lắm, nếu thay đổi theo chiến thuật thì đó chỉ
là cách ứng phó thích nghi của một hoàn cảnh nhất thời; trái lại thay đổi chiến
lược là thay đổi cả đối tượng cách mạng và cách bố trí lực lượng cách mạng trong
một giai đoạn lịch sử nhất định. Kết quả, theo lời giải thích của trung ương,
thì đây không phải là thay đổi chiến thuật mà là thay đổi chiến lược. Có điều
đây là chiến lược ngắn chuyển trọng tâm sang cuộc giải phóng dân tộc. Nó vẫn nằm
trong chiến lược dài, nghĩa là chiến lược cách mạng dân chủ tư sản với hai nhiệm
vụ là phản đế và phản phong.
Thế rồi, Mặt trận Việt Minh thành lập
(5.1941) và một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi hơn hết từ trước đến bây
giờ so với mặt trận phản đế và Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Trong bản chương
trình điều lệ nêu rõ chủ trương cứu nước của mặt trận Việt Minh là liên hiệp hết
các tầng lớp nhân dân... làm cho xứ Việt Nam và cả xứ Đông Dương được hoàn toàn
độc lập. Về mặt kinh tế, bản điều lệ chỉ nêu lên tịch thu hết tài sản của phát
xít Nhật, Pháp và bọn Việt gian, Hán gian... chia lại công điền, giảm địa tô.
Đối với tầng lớp nhân dân bản điều lệ ghi rõ quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ
vẫn được coi trọng. Về tổ chức, địa chủ được gia nhập Việt Nam cứu quốc hội. Ở
đây chúng ta chưa bàn đến chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương thông qua mặt
trận Việt Minh, mà chỉ cần ghi rằng: theo chiến lược ngắn này, thì, trong cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc, giai cấp địa chủ cho đến bây giờ chưa phải đã là
hoàn toàn câu kết với đế quốc. Về mặt kinh tế, nói rõ hơn là về mặt sản xuất, họ
là phản động, nhưng về mặt chính trị, trừ bọn đại địa chủ hay địa chủ quan lại,
những trung và tiểu địa chủ còn có thể góp sức vào công cuộc cứu quốc tới một
mức độ nào. Chính cũng vì dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Đông
Dương, Mặt trận Việt Minh đã tập hợp được mọi lực lượng của các tầng lớp nhân
dân, đưa đến cuộc cách mạng Tháng Tám thành công. Cuộc cách mạng Tháng Tám, tính
chất dân tộc của nó đã nổi lên.
Có lẽ tôi không phải nói nhiều về thái
độ của giai cấp địa chủ nói chung, tầng lớp tiểu địa chủ nói riêng. Từ sau cách
mạng Tháng Tám và những ngày đầu kháng chiến, sự thật thì có một số đại điạ chủ,
nhất là địa chủ quan lại, đã quây quần xung quanh bọn phản động Quốc Dân Đảng ở
ngoài Bắc, Nguyễn Văn Thinh của "Nam kì quốc", và sau hết là bù nhìn Bảo Đại.
Nhưng sự thật cũng là đại đa số trung tiểu địa chủ, ngay cả một vài đại địa chủ,
đã đứng trong Mặt trận Liên Việt, dự vào cuộc toàn dân kháng chiến, theo lời kêu
gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng ta không đòi hỏi nhiệt tình và công sức của
đại địa chủ ngang với công nông và trí thức, mà chỉ đặt mức độ tối thiểu là
không theo giặc phản nước và tham gia kháng chiến trong một phạm vi nào đó. Đành
rằng trong chính sách đối đãi cũng như quy định thành phần nông dân, chúng ta có
phân biệt giai cấp địa chủ với những nhân sĩ yêu nước. Nhưng nhân sĩ yêu nước
chỉ là một con số rất nhỏ, địa chủ kháng chiến là con số lớn.
Đề
nghị xét lại một vài nhận định từ trước
Trở lên trên, bằng những sự
việc chứng thực, tôi đã trình bày về thái độ chính trị của giai cấp phong kiến
địa chủ qua các thời kì để đi đến mấy nhận xét sơ bộ.
Nhận xét thứ nhất
là vì địa vị, quyền lợi của các tầng lớp trong giai cấp phong kiến địa chủ có
chỗ khác nhau nên thái độ với đế quốc cũng không phải đều giống nhau. Bọn đại
địa chủ, nhất là bọn địa chủ quan lại thì từ trước tới sau, đại đa số làm tay
sai cho đế quốc, hay ngã về đế quốc. Chúng là kẻ thù của dân tộc, không ai có
quyền bênh vực. Nhưng ngoài những văn thân yêu nước đánh giặc, tầng lớp trung
tiểu địa chủ cũng bị áp bức dưới ách đế quốc, nên một số đã đứng trong mặt trận
dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc.
Nhận xét thứ hai, nước ta từ trước là
một nước nông nghiệp, ngoài một số ruộng đất tập trung vào địa chủ, những ruộng
đất bị phân tán linh tinh. Theo bảng quy định thành phần trong dịp cải cách
ruộng đất ở miền Bắc, số trung tiểu địa chủ chiếm đa số trong giai cấp địa chủ
và số ruộng đất chiếm hữu của mỗi người không nhiều. Nếu đem số ruộng đất chiếm
hữu của mỗi trung, tiểu địa chủ xứ ta so với điạ chủ nhiều nước khác thì thấy
cách biệt nhau quá. Do đó sinh hoạt và tính chất của họ cũng không giống như đại
địa chủ.
Nhận xét thứ ba, mà là nhận xét chủ yếu: giai cấp địa chủ Việt
Nam từ sau khi Pháp thuộc, là giai cấp của một xứ thuộc địa, cho nên thái độ
chính trị của họ cũng có khác giai cấp địa chủ các nước không phải thuộc địa.
Tôi đồng ý với ý kiến của Thủ tướng Phạm Văn Đồng về công tác cải cách ruộng đất
trước Quốc hội khóa thứ 6 vừa qua, trong đó có câu: giai cấp điạ chủ, đứng về
giai cấp mà nói, là phản động cần phải đánh đổ. Nhưng đi sâu vào thái độ chính
trị của từng cá nhân địa chủ thì có một số người tuy về kinh tế bóc lột theo lối
phong kiến, nhưng về chính trị thì có tinh thần dân tộc đến một trình độ nhất
định. Tôi thấy cần phải đi sâu như thế thì mới thấy được những chỗ khác nhau
giữa giai cấp địa chủ Việt Nam với giai cấp địa chủ nước khác không phải thuộc
địa và mới thấy được một trong những đặc điểm của cách mạng Việt Nam.
Như vậy, những quan điểm từ trước cho rằng toàn bộ giai cấp phong kiến
địa chủ đã đầu hàng địch, đã câu kết với địch, phủ nhận đặc điểm của xã hội Việt
Nam, phủ nhận sự thật lịch sử, tôi thấy cần phải xét lại. Không cần phải nhắc
lại những sai lầm trong cải cách ruộng đất vừa qua không phân biệt địa chủ kháng
chiến với địa chủ khác, coi tất cả địa chủ là địch là máy móc. Dù sao, trong khi
đi sâu vào việc kiểm điểm thái độ chính trị của tầng lớp phong kiến địa chủ qua
các thời kì, chúng ta không nên đi đến chỗ phủ nhận đối tượng của cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ là đế quốc và phong kiến địa chủ. Dứt khoát là chế độ chiếm hữu
ruộng đất của giai cấp phong kiến, bóc lột phong kiến cũng như giai cấp phong
kiến địa chủ phải hoàn toàn thủ tiêu. Chúng ta chỉ cần nhắc lại là: vì xã hội
nước ta trước đây là xã hội thuộc địa và nửa phong kiến nên nhiệm vụ cơ bản của
cách mạng là chống đế quốc chủ nghĩa và quét sạch tàn tích phong kiến; nhưng
đừng quên giữa hai mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa đế quốc
xâm lược và mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến thì mâu thuẫn dân tộc
ta với đế quốc vẫn là chủ yếu nhất. Có nắm vững được quan điểm này thì đem thi
hành ra chính sách mới không sai lệch.
Hiện nay nhiệm vụ phản phong tại
miền Bắc về căn bản đã hoàn thành, giai cấp phong kiến địa chủ tại miền Bắc nước
ta về căn bản đã ra đời. Đề ra việc xét lại "hồ sơ" của giai cấp phong kiến địa
chủ, tôi chú ý vào việc nghiên cứu để mong dựng lại một sự thật lịch sử, đồng
thời mong cống hiến một phần nào cho công tác sửa sai lúc này.
Hải Khách
8.3.1957
Nguồn: Tập san Văn Sử Địa số 25,
quý I -1957