Tính
Sổ Tội Ác
Kq Lão Hữu
Theo nhà văn Pháp, Raymond Queneau (1903-1976), thì người ta có thể nói rằng "lịch sử là ngành chuyên nghiên cứu niềm đau nỗi khổ của con người" và thế kỷ XX - một thế kỷ dẫy đầy hung bạo - đã xác minh nhận xét đó một cách hùng hồn. Bước sang năm thứ năm của thế kỷ XXI, ngoái đầu nhìn lại, y như rằng trong thế kỷ XX nhân loại phải gánh chịu quá nhiều tai họa vì trong vòng một trăm năm đó đã xảy ra hai trận thế chiến, thời gian tổng cộng là 10 năm[1], đã có một chế độ quốc xã, 12 năm (1933-1945), một chủ nghĩa cộng sản, 74 năm (1917-1991) và đôi ba chuyện lẻ tẻ khác, nhưng tác hại không nhỏ, ở Arménie, Biafra, Rwanda và một vài nơi khác. Trong khoảng thời gian lịch sử đầy thảm họa đó, chủ nghĩa cộng sản đã xuất hiện như là một thời kỳ hung hăng và giết hại khủng khiếp hơn hết. Dù cho chỉ tồn tại có 74 năm (đứng lên năm 1917 tại Mạc Tư Khoa và nằm xuống năm 1991 cũng tại Mạc Tư Khoa) nhưng chủ nghĩa cộng sản cũng đã chiếm được vị trí trung tâm trong bối cảnh lịch sử thế giới. Một chủ nghĩa tiền bối của chế độ quốc xả và phát xít nhưng sống dai hơn và tàn phá những bốn lục địa lớn.
Nhưng, thế nào là chủ nghĩa cộng
sản ? Tưởng nên phân định rõ ràng chủ nghĩa này trên hai mặt,
lý thuyết và thực hành. Trên bình diện học thuyết chính trị, có
thể coi như chủ nghĩa cộng sản đã xuất hiện từ lâu, từ bao
thế kỷ, thậm chí bao thiên niên kỷ trước kia, chứ không phải
đợi đến Karl Marx (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895). Trước công
nguyên (CN) gần nửa thế kỷ, Platon (428-348 tr.CN), triết gia người
Hy Lạp, với tác phẩm "Chính Thể Cộng Hòa", đả
chủ xướng một quốc gia lý tưởng, với những con người trong
sạch, không bị tiền bạc hay danh lợi mê hoặc và được cai
trị một cách khôn khéo, hợp lý và công bằng. Nhưng cái thứ
cộng sản tàn nhẫn vô nhân đạo không phải là cái triết
thuyết chính trị kia mà là loại cộng sản thực hành, thứ cộng
sản ứng dụng, qua khối óc và bàn tay của con người, hiện hữu
ở một thời kỳ nhất định, trên một đất nước nhất định,
hiện hình qua những lãnh tụ "lừng danh" như Lénine,
Staline, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Fidel Castro,... Chính cái cộng
sản ứng dụng kia đã đàn áp thẳng tay, giết người và thủ tiêu
hàng loạt, chủ yếu cai trị bằng cách làm cho quần chúng nhân dân
phải khiếp sợ. Tính sổ một cách tổng quát, "thành tích"
sơ khởi của cộng sản trên thế giới, tính theo số người bị
giết hại, được liệt kê như sau :
- Trung Cộng : 65 triệu,
- Liên Bang Xô Viết : 20 triệu,
- Bắc Triều Tiên : 2 triệu,
- Cam Bốt : 2 triệu,
- Phi Châu : 1,7 triệu,
- Afghanistan : 1,5 triệu
- Việt Nam : 3 triệu,
- Đông Âu : 1 triệu,
- Mỹ La Tinh : 150.000,
- Những phong trào cộng sản quốc tế và các đảng cộng sản không
nắm chính quyền khác : hàng chục triệu[2]!
Tổng số người bị cộng sản giết hại trên thế giới lên
đến hàng trăm triệu. Câu hỏi đặt ra là tại sao Lénine, Trotski,
Staline, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh, Pol Pot hay
Castro lại có thể tự cho mình nắm cái quyền hủy diệt bất cứ
ai bị họ cho là "kẻ thù" chớ ? Tại sao những con người
gọi là "lãnh tụ anh minh và kiệt xuất" đó có thể tự
ban cho mình quyền vi phạm quy luật bất thành văn mà Nhân Loại
phải tuân hành là :"Không được giết chóc" ?
Sau khi "giải phóng" miền Nam Việt Nam (30.4.1975), Lê Duẫn,
lúc bấy giờ là tổng bí thư, đã tuyên bố một câu lơ lững "Chúng
tôi sẽ biến nhà tù thành trường học", trong một chuyến
đi "tham quan" nhà lao ở hải đảo Côn Sơn. Một câu nói nước
đôi, dưới một bề ngoài đạo đức, vì thực tế đã cho thấy
nhà tù là trường học để cải tạo tư tưởng những thành
phần chống cộng. Cho tới ngày nay, cộng sản Việt Nam, từ Hồ
Chí Minh trước kia chí đến tập đoàn lãnh đạo CHXHCN Việt Nam bây
giờ, đều nằm trong một phường chèo có nhiều "nghệ sĩ nhân
dân ưu tú" nên đã làm cho một số những nhà quan sát Tây phương
chưa có một lập trường dứt khoát về những tội ác của cộng
sản Việt Nam, từ những ngày xuất đầu lộ diện (1930) cho đến
nay. Lợi dụng tình hình đó, tập đoàn lãnh đạo cộng sản
Việt Nam đã khoát lên mình một lớp ngụy trang để kéo chăn về
phía mình mà tạo thành một trò sơn đông mãi võ, tung hỏa mù,
mập mờ đánh lận con đen, núp sau mặt nạ "đáp ứng nguyện
vọng quần chúng nhân dân" và "giương cao ngọn cờ xây
dựng một xã hội huynh đệ và công bằng" ! Với một bề ngoài
giả dối, với một kỷ thuật tuyên truyền đối ngoại trá hình,
tập đoàn lãnh đạo Hà Nội muốn chứng minh rằng đảng cộng
sản Việt Nam (ĐCSVN) không phải là một phe nhóm kiểu Staline ở
Việt Nam mà chỉ là những con người theo chủ nghĩa quốc gia dân
tộc, mượn nhãn hiệu cộng sản để được Nga-Hoa chi viện.
Thế nhưng, dưới lớp sơn hào nhoáng của tinh thần "cả nước
như một" kia lại thò đuôi một chế độ, tổng hợp hai tệ
đoan của Staline và Mao Trạch Đông, cực kỳ trung thành với nguyên
mẫu.
Từ buổi ban sơ chuẩn bị chào đời, Đảng Cộng Sản Đông
Dương (ĐCSĐD) đã trục trặc rồi. Trong đêm 8 rạng 9 tháng Mười
Hai năm 1928, một án mạng đã xảy ra bên trong Kỳ Bộ Nam Kỳ
của Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội (gọi tắt là Thanh Niên).
Tội tử hình vì lý do phản bội trong điều lệ đảng được đem
áp dụng cho Lê Văn Phát chỉ vì đồng chí này dám "tán tỉnh
nữ đồng chí Nhựt". Bản án ghi đương sự :"đã không
chịu đè nén tình cảm bản thân để tận tâm tận lực cho cách
mạng". Ba đồng chí trẻ tuổi hơn của Phát được lệnh thi
hành bản án do "tòa án cách mạng", mà chủ tịch là Tôn
Đức Thắng, đã ban hành. Nhưng lý do thầm kín (chạm tự ái
hoặc ghen tương) của bản án quá nặng, không tương xứng với
lỗi lầm, là điều vẫn còn bí mật. Sau đó, vì bị rò rỉ sao
đó nên vụ án đã tới tai mật thám Tây, cả bọn bị túm. Ngày
15 tháng Bảy năm 1930, tòa án Sài Gòn phạt ba người hành quyết
Phát tội tử hình, Tôn Đức Thắng (nối ngôi Hồ Chí Minh năm
1969) 20 năm tù và Phạm Văn Đồng (về sau làm thủ tướng), 10 năm.
Kỳ Bộ Nam Kỳ của Thanh Niên gần như tan rã vì có thêm 23 đảng
viên khác lãnh tổng cộng 100 năm tù ! Sau đó Tổng Bộ ở Quãng
Đông ra lệnh giải tán Kỳ Bộ Nam Kỳ của Thanh Niên.
Năm 1931, điên cuồng lao vào công cuộc thành lập "xô viết
Nghệ Tỉnh", theo mô hình của Trung Cộng ở Giang Tây, ĐCSĐD
thanh toán hàng trăm địa chủ làm cho dân chúng hoảng sợ bỏ
chạy, do đó mà quân đội thực dân đã có cơ hội kéo đến nơi
đây một cách nhanh chóng. Vào mùa xuân năm 1945, khi ĐCSĐD núp đàng
sau chiếc mặt nạ "Việt Minh" và táo bạo lao vào công
cuộc đấu tranh vũ trang rộng lớn thì họ càng sắt máu hơn để
đánh những kẻ mà họ gọi là "phản bội" và "phản
cách mạng" - phần lớn là những viên chức nhà nước tại
chức - mà không dám động tới chân lông của quân Nhật đang
chiếm đóng Đông Dương lúc bấy giờ. Thậm chí một trong những
tên đầu sỏ còn hăng tiết vịt hơn nữa đòi mở một chiến
dịch ám sát để "thúc đẩy đà tiến của phong trào",
theo tinh thần của Tố Hữu :
Cứ xốc tới, cứ chảy máu,
cứ rơi đầu,
Mỗi xác thây sẽ là một nhịp
cầu,
Cho ta bước tới chân trời khát
vọng.
Địa chủ, hương chức và hội tề thường được ĐCSĐD chiếu
cố để thủ tiêu hay hạ sát hoặc đưa ra "tòa án nhân dân"
để kết tội và tịch thu tài sản, một lối ăn cướp công khai
và "hợp pháp." Cả những đối thủ chính trị của cái
ĐCSĐD non trẻ kia, chỉ được khoảng năm nghìn đảng viên, cũng
bị khủng bố vì nó cần phải tiến nhanh, tiến mạnh, dẹp gọn,
tạo thành một chân không chính trị để một mình một chợ, tha
hồ mà thao túng. Đại Việt, một chính đảng núp bóng quân Nhật,
bị săn lùng rất gay gắt. Người ta thuật chuyện rằng phong trào
Việt Minh tỉnh Sơn Tây xin Hà Nội cấp cho một máy phát điện để
có thể tra tấn những "tên phản bội" một cách đại quy
mô.
[3]
này được thực hiện qua những phiên "học tập" nặng tính
tuyên truyền, trong đó "học viên" phải "tích cực
tham gia", bị bắt buộc phải luân phiên phát biểu tư tưởng.
Tù binh bị phân chia ra làm hai loại, loại "tiến bộ" là
những người ngoan ngoãn, gần như mù quáng, chấp hành quy luật
trại giam, và loại "phản động" là những ai lơ lững,
hững hờ, dù không đến đổi phải bị biệt giam. Những
lời hứa hẹn, dù là không bảo đảm của cai tù, cũng đem lại
hiệu quả đáng kể do chỗ tù binh đã quá mỏi mệt về thể xác
lẫn tinh thần. Hơn nữa tù binh Pháp còn được phân biệt đối
xử hơn tù binh Việt Nam.
Đến tháng Mười Hai năm 1953, khi mà cộng sản thoáng thấy hình
bóng của thắng lợi, họ tung ra chiến dịch cải cách ruộng đất
(CCRĐ) ở những vùng giải phóng. Vào cuối năm 1954, công cuộc CCRĐ
được nới rộng ra trên khắp lãnh thổ phía trên vỹ tuyến 17,
một nửa đất nước mà Hiệp Định Genève đã giao cho cộng sản.
Hà Nội đã sao y nguyên bản công cuộc CCRĐ của Trung Cộng trong
những năm 1946-1952, với ý định làm cho giai cấp tiểu nông nghèo
gắn bó với đảng cũng như loại trừ các thành phần chống đối
lại chủ nghĩa cộng sản và để mở rộng tầm kiểm soát của
nhà nước với hy vọng làm cho kinh tế phát triển. Dù cho ban đầu,
vì tinh thần yêu nước và thái độ căm ghét thực dân, quần chúng
có phần nào ủng hộ phong trào Việt Minh, nhưng phương pháp hung
bạo và cố tình hãm hại - theo kiểu Trung Cộng, cho cán bộ cò
mồi đi hô hào trung nông nghèo khó đứng lên tố cáo rồi đưa ra
tố khổ, kết án tử hình hoặc tối thiểu cũng giam giữ và
tịch biên tài sản, không những nhằm vào cá nhân mà còn cả gia
đình thiếu điều tru di tam tộc như thời phong kiến - cũng làm
cho nhân dân ngao ngán. Chiến dịch CCRĐ nham hiểm kia đã được
thi ca cổ xúy :
(...)
Những quân cướp ruộng cướp nhà
Những quân đè cổ lột da giống nòi
Bọn địa chủ cắm vòi hút máu
Phải vùng lên mà đấu thẳng tay !
Thực dân địa chủ một bầy
Chúng là thú vật ta đây là người.
(...)
(Quang vinh Tổ quốc chúng ta, 8/1955)
Vì quá hung hăng độc đoán, không đếm
xỉa gì đến đạo đức cách mạng nên Việt Minh đã tỏ ra chuyên
chính một cách tàn nhẫn vô nhân đạo và muốn nhanh chóng đưa xã
hội Việt Nam vào cái mô hình vô sản. Một bà chủ điền và thương
gia giàu có, mẹ của hai cán bộ Việt Minh có thành tích và được
cho là "có công với cách mạng" mà cũng bị đưa ra "đấu
tố" hai lần. Nhưng nhân dân, vốn hiểu biết và chịu ơn bà
trong quá khứ nên không thể "hăng say" như cán bộ mong
muốn. Thế là trung ương đưa một đoàn đã được đào tạo từ
bên Trung Cộng về xách động quần chúng nhân dân. Người ta tố
rằng trước 1945, bà Long đã giết chết ba tá điền, đã ăn nằm
với quan công sứ Tây, đã liếm gót giày thực dân và đã làm gián
điệp cho Pháp. Sau cùng, biết rằng không còn cách nào thoát được
tình hình cố tình đay nghiến của đàn chó sói đang hung hăng, bà
Long đành nhận chịu tất cả và thế là bị kết án tử hình.
Con trai của bà, đang ở Trung Quốc, bị gọi về nước, bị cất
chức, bị tước huy chương và bị kết án hai mươi năm tù[4].
Giống như bên Trung Cộng, cộng sản Việt Nam đã áp dụng cái lý
sự cùn "duy vật biện chứng" của họ là :"người ta
có tội vì bị đấu tố và Đảng thì không khi nào sai lầm".
Thế nên, cái tội nhẹ nhất là nên làm tròn vai tuồng mà đảng
và nhà nước muốn mình phải diễn. Cho nên người dân miền Bắc
thời đó thường tự nhũ :"Thà cứ nói mẹ nó ra là mình có
giết cha, giết mẹ rồi tự thú còn hơn là chẳng nói gì và khai
ra là chẳng có làm gì sai quấy !", chung cuộc rồi lại
bị tội nặng hơn, có khi phải mất đầu hay chôn sống.
Một thời hung bạo thật vô cùng dễ sợ ! Người ta đề cao
và thường xuyên nhắc nhở tinh thần "hận thù" để
chống lại kẻ thù giai cấp và kẻ thù bên ngoài. Chính Lê Đức
Thọ, người mà sau Hiệp Định Paris (1973) chia xẻ giải Nobel Hòa
Bình với Henry Kissinger, cũng tuyên bố :"Muốn nông dân đứng
lên vũ trang thì trước nhất phải làm cho họ sôi sục lòng căm
hờn kẻ thù." Hồi tháng Giêng năm 1956, tờ "Nhân Dân"
- cơ quan trung ương của đảng cộng sản Việt Nam và tiếng nói
của đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam - đã viết :"Giai
cấp địa chủ chẳng bao giờ chịu nằm yên nếu không bị thủ
tiêu." Rập khuôn với quan thày Trung Cộng ở phía Bắc, Hà
Nội cũng tôn thờ khẩu hiệu :"Thà giết mười tên vô
tội còn hơn để cho một kẻ thù duy nhất sống sót."
Cộng sản Việt Nam tra tấn tù nhân không nương tay, đến đổi vào
cuối năm 1954 Hồ Chí Minh phải chống chế lên tiếng :"Một
số cán bộ phạm phải sai lầm là còn sử dụng biện pháp tra
tấn. Đó là một phương pháp dã man mà bọn đế quốc, bọn tư
bản và quân phong kiến áp dụng để trấn áp quần chúng và đè
bẹp cách mạng [...] Trong giai đoạn này, cấm nhặt không được
tra tấn nữa."
Song song với công cuộc CCRĐ để thanh lọc xã hội, Việt Minh còn
phải chỉnh đốn lại hàng ngũ lãnh đạo mà họ cho rằng đã
bị những thành phần có đặc quyền đặc lợi xâm nhập, ám
chỉ 5% thành viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Thế là một
chiến dịch thanh trừng được mở ra để truy đuổi những bóng
ma "phản cách mạng và phản Bolchevik". Một đợt sóng
thanh trừng hoang loạn không còn chừng mực gì nữa đến đổi
những người một thời được đề cao là anh hùng kháng chiến
chống Pháp cũng bị thủ tiêu hay đưa đi trại tập trung. Một
thời rùng rợn đến đổi năm 1956, năm bắt đầu đợt "chỉnh
huấn", được những người cộng sản Việt Nam cho là thời
buổi kinh hoàng nhất. Trong nội dung này, người ta thuật lại
rằng có một bí thư đảng cộng sản cấp chi bộ khi lãnh viên đạn
hành quyết miệng còn hô to :" Đảng cộng sản Đông Dương
muôn năm !" mà vẫn không hiểu chuyện gì đã xảy ra cho mình
và chết đi mà cứ ngỡ là bị quân phát xít hạ sát. Người ta
không làm sao mà có được con số tổn thất, nhưng nhất định là
kinh khủng, vào khoảng năm mươi nghìn người bị hành quyết ở nông
thôn (không phải là do chiến trận), vị chi là từ 0,3% đến 0,4%
trên tổng số dân chúng, từ năm mươi nghìn đến một trăm nghìn
người bị giam giữ. Có khoảng 86% người bị thanh lọc trong các
chi bộ đảng ở nông thôn và 95% bị loại trừ, đôi khi trong số
những cán bộ thuộc thành phần kháng chiến chống Pháp. Theo lời
tự thú hồi tháng Bảy năm 1956 của một cán bộ có trách nhiệm
trong công tác thanh trừng thì :"Ban lãnh đạo chiến dịch 'sửa
sai' đã nhận định sai lầm về tổ chức Đảng. Họ cho rằng
những chi bộ nông thôn, nhất là chi bộ các nơi vừa mới giải
phóng đều nằm trong tay địch hoặc bị địch xâm nhập. Thậm chí
các cơ quan đầu não cấp quận và cấp tỉnh cũng bị coi như là
lọt vào tay giai cấp địa chủ và những thành phần phản cách
mạng."
Năm 1951, lực lượng vũ trang là bộ phận đứng ra "chỉnh
huấn" đội ngũ của mình trước tiên, nhưng nặng về tư tưởng
hơn là trừng trị. Trong khoảng thời gian từ 1952 đến 1956, phong
trào sửa sai gần như được tiến hành thường xuyên cho nên tình
hình đâm ra căng thẳng đến đổi trong những phiên hội thảo,
nam giới không được mang theo dao và đồ cạo râu và ban đêm
phải để đèn sáng, đề phòng những trường hợp tự tử. Rồi
cũng chính lực lượng vũ trang là bộ phận chấm dứt phong trào
thanh trừng vì công cuộc truy hại đó đã tác động đến hàng ngũ
cán bộ trầm trọng đến đổi có nhiều trường hợp bỏ ngũ hay
đào thoát sang phía Nam Việt Nam. Trước tình hình đó, Hà Nội đâm
ra lo sợ nên phải xét lại thái độ. Về phía giáo dân miền
Bắc cũng thế. Với số tín đồ Thiên Chúa giáo lên đến 1,5
triệu, nghĩa là 10% trên tổng số dân cư, mà bị truy hại ngay
từ đầu, nên khoảng sáu trăm nghìn đã bỏ của chạy lấy người,
di cư vào Nam. Sau Đại Hội XX (1956) của đảng cộng sản Liên Xô
và sau khi Tổng Bí Thư Khrouchtchev tố cáo những tội ác của
Staline, tháng Tư năm đó ở Việt Nam phong trào "Trăm Hoa Đua
Nở" bắt đầu hó hé một cách rụt rè. Đến tháng Chín,
tạp chí "Nhân Văn Giai Phẩm" ra mắt độc giả, nói lên
khát vọng tự do của một số trí thức miền Bắc và chống đối
lại việc Đảng và nhà nước bắt quần chúng nhân dân phải
tập hợp lại theo đội ngũ "hộ khẩu", phải canh chừng
và tố cáo lẫn nhau. Họ lên tiếng chỉ trích chế độ độc đoán,
những sự lạm dụng và việc bắt ép người dân trong CCRĐ. Một
vài cây bút bạo gan đã chế giễu nịnh thần Tố Hữu, qua bài thơ
sau đây của ông :
[...]
Hoan hô Sít-ta-lin
Đời đời
cây đại thọ
Rợp bóng
mát hòa bình
Đứng đầu
sóng ngọn gió !
Hoan hô
Hồ Chí Minh
Cây hải đăng mặt biển
Bão táp
chẳng rung rinh
Lửa trường
kỳ kháng chiến,
Giết,
giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho
ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho đảng
bền lâu,
cùng
rập bước chung lòng
Thờ Mao
chủ Tịch,
thờ Sít-ta-lin
bất diệt
[...]
(Bài Ca Tháng Mười, 1950)
Chẳng may cho những nhà trí thức hơi nóng vội kia, đến
tháng Mười Hai năm đó Hà Nội cấm chỉ những loại tạp chí đã
kích như thế và một phong trào, tương tự như chiến dịch đánh
Hoa Phong và tự do sáng tác của Trung Cộng, đã được phát động,
dĩ nhiên là với sự đồng ý của Hồ Chí Minh. Đảng không muốn
thấy những con ngựa hoang nổi chứng kia làm hỏng đại sự, mà các
nhà trí thức "không bằng cục cứt" của Hà Nội - dù đảng
viên hay có cảm tình với Đảng - lại muốn mở mắt quần chúng
về chính trị. Trước đó, hồi tháng Mười Một, bất bình với
những điều xằng bậy và độc đoán của công cuộc CCRĐ, nông dân
Nghệ An nổi dậy phản đối tập đoàn hành chính quan liêu của
tỉnh. Theo báo cáo của công an hồi 1956, được phát hiện vào năm
1961 trong hồ sơ lưu trữ ở Hà Nội, thì có mười lăm nghìn người
vô tội bị hành quyết, như thế là trong số 3014 xã thuộc tỉnh
này, mỗi xã có 5 người bị sát hại. Nhưng, trên thực tế người
ta ghi nhận là cũng phải vào khoảng năm mươi nghìn người. Đó là
chưa kể đến số nông dân bị tống giam hoặc bị đày đi biệt
xứ. Đầu năm 1958, bốn trăm bảy mươi sáu tên "phá hoại
mặt trận tư tưởng" bị bắt buộc làm tờ phản tỉnh và
bị đưa đi nông trường hay các trại lao cải kiểu Trung Cộng.
Giống như Trung Cộng, tinh thần Khrouchtchev không được ĐCSVN
chấp nhận vì họ chủ trương chuyên chính vô sản. Sau đó, vì
phải dốc toàn lực cho cuộc chiến tranh miền Nam nên khuynh hướng
độc tài đảng trị càng được đẩy mạnh hơn. Dù phải nổ
lực chi viện cho miền Nam vậy mà trong những năm từ 1963 đến
1967, Hà Nội vẫn thanh trừng hàng trăm cán bộ "thân Nga"
trong nội bộ đảng, trong đó có cả người bí thư trước kia
của "Bác Hồ". Một số cán bộ bị thanh trừng đã phải
nằm nhà giam hàng chục năm mà không bị xét xử gì hết.
Sau ngày 30 tháng Tư 1975, dù không có trận "tắm máu"
như dư luận thế giới dự đoán, nhưng những hậu quả sau đó cũng
không kém phần thảm khốc. Trước đó, qua cuộc tổng công kích vào
cố đô Huế, Việt cộng đã giết hại gần ba nghìn người gồm
có linh mục, tu sĩ người Pháp, bác sĩ người Đức và công nhân
viên chức lớn bé,... trong vòng vài tuần lễ. Một số bị chôn
sống, một số bị mời đi "học tập" nhưng không bao
giờ trở về. Người ta khó hiểu động cơ nào đã thúc đẩy
Việt cộng tàn sát đến như thế, một thái độ ác ôn xa lạ
với bản chất của người Việt Nam. Sau khi tràn ngập miền Nam
rồi, Việt cộng dường như có chút đắn đo trong thế cư xử đối
với người Nam Việt Nam. Cho nên không những không có "tắm máu"
mà cũng không có tàn sát ồ ạt như hồi Mậu Thân ở Huế. Dường
như do chỗ có tranh chấp giữa đường hướng của cộng sản
miền Nam và phương pháp của tập đoàn lãnh đạo Hà Nội. Qua thái
độ do dự đó, quân cán chính miền Nam cho là do "chính sách
khoan hồng của Hồ Chí Minh" nên họ đã ngoan ngoãn đi "đăng
ký". Nhưng, đến đầu tháng Sáu 75, Ủy ban quân quản thành
phố lại tung ra cái thông cáo kêu gọi quân cán chính chế độ Sài
Gòn đi đăng ký học tập, cấp nhỏ thì "ba ngày" và cấp
lớn thì "ba tháng". Thế nhưng, những ngày tháng của
cộng sản lại có độ dài chẳng giống ai nên đã biến thành
nhiều năm, tùy theo có "học tập tốt" hay không. Nhưng cái
tiêu chuẩn đó của cộng sản không có máy vi tính nào đo được
cho nên cứ tù dài dài cho đến những năm 87 và 88 quân cán chính
của chế độ Sài Gòn mới hết cái nghiệp "học tập cải
tạo". Khi còn ngồi ghế thủ tướng, Phạm Văn Đồng nhìn
nhận là vào thời điểm 1980 có hai trăm nghìn người miền Nam đi
"học tập cải tạo", nhưng trên thực tế là phải tính
đến từ nửa triệu đến một triệu người đi tù cải tạo, trên
một dân số khoảng hai mươi triệu. Đời sống của những người
gọi là đi "học tập cải tạo" đó cực khổ và thiếu
thốn đủ mọi bề là chuyện đương nhiên vì ngay người dân
của một "đất nước anh hùng" chống Tây, đánh Mỹ còn
chưa được ăn no mặc ấm thì làm sao tù mà có được tiêu
chuẩn tối thiểu.
Trong chủ trương phá vỡ hệ thống nông dân miền Nam để
đưa họ vào đường lối của cộng sản, Hà Nội cũng chủ trương
CCRĐ ở miền Nam, một chương trình chẳng được lòng dân mấy.
Bất công và độc đoán lại làm cho nông dân đồng bằng Cữu
Long nổi dậy vì chính sách tập thể hóa man dại đã làm cho đàn
trâu bò bị thiệt hại nặng nề, thậm chí có nhiều nơi nông dân
phải kéo cày thay trâu bò. Về phương diện kinh doanh và công
nghiệp thì chiến dịch "đánh tư sản mại bản" của Hà
Nội đã tạo ra một thời hỗn loạn khủng khiếp khiến cho hàng
triệu người liều chết trốn chạy, kể cả những ngư dân của
Cà Mau và một vài nơi khác. Một thời bất mản xã hội khá
trầm trọng nên một vài phê phán bên trong Đảng đã lọt ra ngoài.
Trên báo "Tuổi Trẻ" ngày 27 tháng Mười năm 1988, Trần Văn
Giàu đả phải lên tiếng phê bình :
Tại sao chúng ta là những người làm cách mạng, những người
kháng chiến, lại dựng lên một Nhà Nước quan liêu đến như
thế ? Chỉ riêng tỉnh Thanh Hóa không thôi mà số công nhân viên
chức đã nhiều hơn toàn thể bộ máy thực dân của Đông Dương
trước kia. Làm sao đất nước có thể đài thọ một Nhà Nước
như thế được ? Tôi nay đã trên bảy mươi tuổi rồi. Cả đời,
tôi chưa từng thấy nông dân khổ cực như bây giờ. Vừa hết mùa
lúa là họ chẳng còn gì để ăn. Lý do là họ phải đài thọ cho
một bộ máy hành chính quan liêu vừa nặng nề vừa vô hiệu quả.
Năm 1989, Lê Quang Đạo, ủy viên trung ương đảng, chủ
tịch quốc hội lên tiếng :
Cái chuyên chính của toàn thể giai cấp công nhân đã bị
chuyên chính Đảng trị lật đổ [...]. Từ đó đã xuất hiện
một chế độ cực quyền dựa trên đặc quyền đặc lợi [...],
một chế độ đầy dẫy bất công xã hội đưa đẩy nhân dân đến
chỗ nổi loạn mà thôi.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975, được "giải phóng" một cách
lạ đời như thế nên ở một đất nước mà "cột đèn có
chân cũng muốn chạy đi" thì chuyện thiên hạ phải "bỏ
của chạy lấy người" không phải là một hiện tượng khó
hiểu. Thế nên, hàng trăm nghìn người tìm đường vượt biển và
vượt biên để chạy trốn tai họa của nạn hận thù giai cấp,
của nghèo đói, bất chấp những nguy cơ chết chìm trên biển và
hãm hiếp, giết chóc của bọn hải tặc. Cái tội lớn nhất của
cộng sản Việt Nam là đã hai lần làm cho quần chúng phải rời
quê cha đất tổ ra đi. Một lần di cư (1954), một lần di tản và
vượt biển, vượt biên (1975) ! Nặng lòng với tinh thần Khổng giáo,
vậy mà nhân dân Việt Nam đã phải hai lần rời bỏ mảnh đất,
vườn rau, lìa xa quê cha đất tổ, giả biệt mồ mã ông bà để
lang thang cuối đất, chân trời. Năm 1986, với chính sách gọi là
"đổi mới" của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Hà Nội
mang cái mặt nạ cởi mở trá hình, nhưng rồi cũng không gạt được
ai vì là một sự cởi mở rụt rè và mâu thuẫn, để lộ một
thế quân bình bất ổn giữa hai phe bảo thủ và đổi mới trong
tập đoàn lãnh đạo. Dù cho đã bớt những vụ bắt bớ và giam
cầm ồ ạt nhưng những hành động hung hăng trấn áp vẫn còn nên
làm cho nhiều ước vọng phải tiêu tan. Nhiều trí thức và nhà tu
hành còn bị truy hại hoặc bỏ tù không cần xét xử. Nên chi, bao
giờ đất nước còn bị cai trị theo tinh thần "đảng ta là
tất cả" thì bầu không khí vẫn còn ngột ngạt. May ra, khi
chiều hướng "kinh tế tư bản theo xu hướng xã hội chủ nghĩa"
kia làm cho người ta sáng mắt ra mới mong có chút thay đổi. Nhưng,
có lợi mà cũng có hại vì cái phồn vinh nó đưa đẩy đến tệ
nạn mafia trong kinh doanh và tham ô thối nát thì quần chúng nhân dân
lại gặp khổ nạn khác. Chạy ô mồ mắc ô mã thôi.
Trong khoảng thời gian từ tháng Tám 1975 đến tháng Mười năm
1977, những người tù "yêu nước" của Việt Nam có làm
một di chúc gởi cho những ai có lương tri để xin được chết, vì
họ nghĩ rằng thà chết còn sướng hơn nằm nhà đá ăn cơm tù
của cộng sản. Sau đây là trích dịch tờ di chúc :
Chúng tôi,
- Công nhân, nông dân và những người vô sản,
- Những nhà tu hành, nghệ sĩ, văn sĩ và trí thức yêu nước
hiện bị giam giữ trong các nhà tù ở Việt Nam,
Trước tiên xin có lời cảm tạ nồng nhiệt gởi đến :
- các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới,
- các phong trào đấu tranh của giới lao động và trí thức,
- tất cả những ai, trong mười năm qua, đã ủng hộ những
phong trào đấu tranh đòi Nhân Quyền ở Việt Nam, đòi dân chủ và
tự do cho những người Việt Nam bị áp bức bóc lột. [...]
Chính sách lao tù của chế độ cũ (đã bị dư luận thế giới
lên án và phản đối gắt gao) nay đã được thay thế bằng một
chính sách khác, được hình thành và quy hoạch tinh vi hơn về
mặt độc ác và tàn bạo. Mọi liên lạc giữa tù và gia đình đều
tuyệt đối bị cấm ngặt, ngay cả bằng thư từ. Do đó, vì hoàn
toàn chẳng hay biết gì về số phận của người tù nên gia đình
rất ray rứt lo âu và trước những biện pháp phân biệt đối
xử nhục nhã đó, gia đình chúng tôi đành phải im hơi lặng
tiếng vì sợ rằng, trong khi bị giam giữ như thế, người tù có
thể bị thủ tiêu bất cứ lúc nào, mà gia đình không hay biết gì
hết. [...]
Tưởng nên nói rõ ra đây những điều kiện giam giữ hoàn toàn
không tưởng tượng được. Chỉ riêng ở khám Chí Hòa, nhà lao chính
thức của Sài Gòn, gần tám nghìn người đã bị chế độ cũ
giam giữ tại đó và hiện tượng này đã bị lên án gắt gao. Ngày
nay, cũng nhà tù đó mà lại giam giữ gần bốn mươi nghìn người.
Tù thường bị chết vì đói, vì ngộp thở, vì bị tra tấn hoặc
tự tử. [...}
Ở Việt Nam, có hai loại nhà tù : khám chính thức và những
trại tập trung. Trại tập trung nằm giữa rừng núi âm u, tù nhân
các trại loại này thuộc diện chung thân khổ sai, chẳng bao giờ
được xét xử và không có một luật sư nào có thể biện hộ
cho họ. [...]
Nếu quả như nhân loại hiện nay sợ hãi lùi bước trước sự
phát triển của chủ nghĩa cộng sản và nhất là trước cái gọi
là cộng sản Việt Nam vô địch, đã từng "đánh thắng đế
quốc Mỹ hùng mạnh" thì chúng tôi, những người tù yêu nước
Việt Nam, yêu cầu Hồng Thập Tự quốc tế, các tổ chức nhân đạo
thế giới, những ai giàu thiện chí hãy gửi ngay cho chúng tôi,
mỗi người một viên cyanure để chúng tôi chấm dứt nỗi đau
khổ và niềm nhục nhã của chúng tôi. Xin cho chúng tôi được
chết ngay bây giờ ! Xin giúp cho chúng tôi thực hiện được điều
đó, hãy giúp chúng tôi chết ngay trong lúc này. Chúng tôi xin chân
thành cám ơn.
Làm tại Việt Nam, từ tháng Tám 1975 đến tháng Mười năm 1977[5].
Như thế đó, một Nhà Nước nặng tính Đảng, tự cho là xã
hội chủ nghĩa, một đảng của tập đoàn vơ vét chiếm đoạt
đã trở thành một bộ máy thống trị đưa vô sản và nông dân vào
một cái tai ách đổi tên. Những kẻ bị bóc lột, bị đè đầu
cỡi cổ kia chỉ có thể tự giải thoát bằng cách đánh vào bộ
máy hành chính quan liêu có mặt khắp nơi, bằng cách hủy diệt Nhà
Nước đó mà thôi. Đúng như Pierre Herbart đã nói :"Trong
cuộc chiến bất phân thắng bại đó, họ đã thắng, nghĩa là
họ từ bỏ quan thày nước ngoài, tự chọn lấy một quan thày khác
trong hàng ngũ của họ - và thay đổi lớp người nô lệ[6]".
Qua tiểu thuyết "Nỗi Buồn Chiến Tranh", xuất bản
tại Hà Nội năm 1991, Bảo Ninh cũng đã mô tả cái thảm kịch mà
ông đã trải qua từ 1959 đến 1975, tại lữ đoàn 27 cho đến khi
tiến vào Sài Gòn, là nơi mà một đơn vị có năm trăm người
chỉ còn sống sót có mười.
Những người còn sống sót vẫn tiếp tục sống nhưng
niềm hy vọng nóng bỏng của họ [...], buồn thay, chưa trở thành
hiện thực. [...]. Giờ đây, hãy nhìn thực tế quanh ta, có gì khác
hơn là cuộc sống tầm thường, thô bỉ và thô bạo của thời
hậu chiến ? [...]
Dường như những chiếc mặt nạ của những năm qua đã rơi
mất và con người hôm nay đã hiện nguyên hình với những bộ
mặt đích thực đáng ghê tởm. Bao nhiêu xương máu đã rơi, để
làm gì ?
Ở một đoạn khác, tác giả cho một nhân vật
của ông trình bày lý lẽ khiến đương sự từ bỏ cuộc chiến :
Tớ không sợ chết, nhưng cứ giết chóc mãi, giết chóc hoài
như hiện nay thì cũng bằng hủy diệt cái tính người trong chúng
ta. [...] Chắc mày còn nhớ trận Play Can hồi 72 ? Mày có nhớ
cảnh tượng xác chết nằm la liệt trên chiến trường không ? Chúng
mình phải lội trong vũng máu. [...] Biết bao thằng đểu giả thụ
hưởng trên đầu trên cổ chiến tranh trong khi con em nông dân
phải đau lòng ra đi để lại mẹ già nơi quê nhà với cảnh màn
trời chiếu đất... [...] Chiến thắng hay bại trận [...] không có
nghĩa lý gì với tớ nữa. [...] Giết chóc, tớ đã giết quá
nhiều rồi [...] Nhục nhã chăng ? Tớ chẳng thấy có gì là vinh
quang khi suốt đời phải đánh nhau.
Ngày nay, chi viện Nga đã hết, chi viện Tàu thì được
đánh đổi bằng tinh thần thuần phục, nền hành chính quan liêu
phải cầu cứu với ngoại quốc, qua cái gọi là "kinh tế
thị trường theo đường lối xã hội chủ nghĩa" và bằng cách
vuốt ve mơn trớn người Việt di tản, "khúc ruột từ nghìn
dặm". Thế nên, chúng ta đã thấy rõ rằng cái gọi là
"cộng sản chủ nghĩa" ngày nay - mà một số quốc gia
ngụy trang dưới bề ngoài xã hội chủ nghĩa còn rơi rớt lại,
nhưng mồ côi (vì ông bà cộng sản của họ đã nằm xuống rồi),
lạc loài và mất phương hướng, cứ còn bám víu - chỉ là một
thứ ngẫu tượng, hữu danh vô thực nhiều tội ác và khó nhá,
một thứ tư bản nhà nước, một loại khủng long kinh tế-chính
trị được lèo lái để mang lợi lộc cho một thứ hành chính
quan liêu, háu danh và vô liêm sỉ. Cái chủ nghĩa cộng sản ảo đó
đã lấy những xiềng xích nô lệ mới mà ràng buộc những danh xưng
dối trá, tự cho là chủ nghĩa thế này, chủ thuyết thế kia, theo
kiểu "tư tưởng Hồ Chí Minh".
Nhà văn nổi tiếng người Pháp, Louis Aragon (1897-1982), có viết
trong quyển "Le Front Rouge" (Mặt Trận Đỏ) :"Cặp
mắt xanh của Cách Mạng nhất định phải ngời sáng tia nhìn độc
ác." Vậy mà từ khi chủ nghĩa cộng sản giãy chết trên cái
nôi sinh ra nó ở Liên Xô hồi năm 1991 đến nay, người ta ít bàn
đến tội ác của nó hơn là vạch trần tính dã man của Quốc Xã.
Thế nhưng "ít làm" không có nghĩa là "không làm"
vì đống hồ sơ chưa được khai thác trọn vẹn trong khi một số
tàn dư của chủ nghĩa cộng sản, như Trung Cộng, Cu Ba, Bắc Hàn,
Việt Nam,... còn ngoan cố bám giữ cái xác ma đang thối rữa. Trong
khi chờ đợi cơ hội thuận lợi để phanh phui đống văn khố
mật chưa được giải mã, vấn đề tiên quyết là cái dấu hỏi
khổng lồ dành cho cái chủ nghĩa 74 tuổi đời kia. Tại sao chủ
nghĩa cộng sản vừa mới xuất hiện năm 1917 lại nhanh chóng trở
thành một chế độ chuyên chính sắt máu, một chính thể tàn ác
bạo ngược đến như thế ? Có phải nhờ vậy nó mới đạt được
74 tuổi đời hay không ? Làm sao các nhà cầm quyền cộng sản
lại có thể áp dụng những biện pháp tội ác đó một cách
đương nhiên, dễ dàng và bình thường như chơi đến như thế,
qua mấy thập niên liền ? Hơn nữa, chính nước Nga Xô Viết, một
đất nước thênh thang trên địa cầu, có một truyền thống vương
quốc lâu đời, đã khai sáng ra chính thể cộng sản và cầm đầu
chủ nghĩa cộng sản thế giới mà lại mở màn cho loại tội ác
có tầm vóc kinh khủng có một không hai, mâu thuẫn lại xu thế cách
mạng xã hội, là điều vô cùng quái gở. Có thể là do "phát
minh" của Lénine khi cướp được chính quyền. Phát minh kỳ
diệu đó của tên trùm cộng sản đầu tiên là phải tiêu diệt
kẻ thù. Lấy ý từ Phúc Âm :"Ai không theo ta là chống lại ta",
Lénine đưa ra tiêu chuẩn tân kỳ hơn là không những "Ai không
theo ta là chống lại ta" mà còn thêm "Ai chống lại ta thì
phải chết". Thủy tổ của chủ nghĩa cộng sản ứng dụng mà
có một tinh thần như thế thì cái tính dã man và thô bạo của
bọn cộng sản con cháu cũng là hợp lý đương nhiên.
Kq
Lão Hữu
(Kỳ tới : Tại sao cộng sản hiểm độc ?)
********
[1]
Thế Chiến I : 1914-1918 (4 năm); Thế Chiến II : 1939-1945 (6 năm).
[2]
Le Livre Noir du Communisme (Tội Ác Của Chủ Nghĩa Cộng Sản), nxb.
Robert Laffont, 1997, tr.14.
[3]
Từ năm 1950, Mao Trạch Đông đã gởi rất nhiều cố vấn qua
Việt Nam.
[4]
Georges Boudarel, Cent Fleurs Ecloses dans la Nuit du Viêtnam : Communisme et
Dissidence 1954-1956 (Trăm Hoa Đua Nở Trong Đêm Tối Việt Nam : Chủ
Nghĩa Cộng Sản và Bất Đồng Chính Kiến), Paris, Jacques Bertoin,
1991, tr. 174-175.
[5]
Đoàn Văn Toại, Le Goulag vietnamien (Trại Cải Tạo VN),Paris, nxb.
Robert Laffont, 1979, tr. 331-334. Tờ di chúc này được học thuộc lòng
và được chuyền miệng ở các nhà tù của thành phố Hồ Chí
Minh, và được 48 người dũng cảm ký tên "bằng mồm".
[6]
Pierre Herbart, Ligne de Force (Đường Hướng Của Thế Lực), Paris
1958.