Viet Bao - 01-12-2005
38% Cán Bộ CSVN Thú Nhận: Không Tham Nhũng Là Bị Đuổi
HÀ
NỘI- Theo báo Tiền Phong, lần đầu tiên, một danh sách 10 cơ quan CSVN
tham nhũng phổ biến nhất đã được Trung ương đảng CSVN công bố, trong đó
ba cơ quan dẫn đầu là: Địa chính nhà đất; Hải quan/quản lý xuất nhập
khẩu; và công an giao thông. Trong danh sách này, còn có cơ quan tài
chính, thuế; Cơ quan quản lý/các đơn vị trong ngành xây dựng; Cơ quan
cấp phép xây dựng; y tế; cơ quan kế hoạch và đầu tư; cơ quan quản
lý/các đơn vị trong ngành giao thông; công an kinh tế. Sau đây là phần
tóm lược nội dung bản báo cáo của Trung ương đảng CSVN dựa theo bản tin
của báo Tiền Phong.
Danh sách do Ban Nội chính Trung ương đảng
CSVN công bố ngày 30/11/2005, dựa theo kết quả của Dự án "Nghiên cứu
đấu tranh chống tham nhũng", do ban Nội chính Trung ương đảng CSVN tiến
hành với sự tài trợ của cơ quan Sida (Thụy Điển). Nhóm nghiên cứu
(chuyên viên trong nước và tham vấn Thụy Điển) đã thực hiện điều tra về
tình hình tham nhũng và phòng chống tham nhũng ở 7 tỉnh/thành phố: Sơn
La, Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, TPSG, Đồng Tháp và 3
Bộ: Công nghiệp; Xây Dựng, Giao thông- Vận tải. Đây là cuộc điều tra về
"nhận thức, hiểu biết, thái độ, đánh giá của người dân và cán bộ về vấn
đề tham nhũng."
Nhóm nghiên cứu đã "bầu chọn" danh sách này từ
đánh giá của các nhóm xã hội về mức độ tham nhũng ở 21 cơ quan công
quyền và dịch vụ công, đồng thời đã cụ thể hoá thành 17 hành vi tham
nhũng. Ở 7 tỉnh mà nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra đã có một tỷ lệ
đáng kể cán bộ công chức thừa nhận đã gặp cả 17 hành vi trong một năm
qua. Còn ở 3 Bộ, các cán bộ công chức tuy chưa chứng kiến xảy ra tất cả
17 hành vi tham nhũng nhưng cũng đã gặp trên 10 loại hành vi tham nhũng
trong năm.
-Hành vi phổ biến nhất là: "Sử dụng phương tiện của cơ quan phục vụ nhu cầu riêng của cá nhân hoặc gia đình".
-Ở
cả 3 Bộ bị điều tra đều có trên 40% số công chức được hỏi cho biết họ
đã chứng kiến hành vi "người có chức vụ, quyền hạn cố tình gây khó khăn
khi giải quyết công việc để buộc người cần giải quyết phải chi tiền
hoặc quà biếu".
-Trong các hành vi tham nhũng, thì hành vi:
"Gọi điện, viết thư tay can thiệp nhằm mưu lợi cho người thân quen khá
phổ biến. Tỷ lệ công chức chứng kiến hành vi này, tính chung trong 7
tỉnh là 24.6% (tức khoảng 1/4 số người được hỏi và gần 30% số người trả
lời).
-Gọi điện, viết thư tay, nếu dẫn đến hành vi tham nhũng bị
phát giác thì tác giả của những cú điện thoại, những bức thư này là "vô
can" vì về mặt hình thức, gọi điện, viết thư tay không phải là văn bản
pháp lý (về mặt nội dung, họ đủ trình độ để viết sao cho đạt được mục
đích nhưng tránh né được pháp luật).
-Các hành vi tham nhũng
được che giấu bởi các hóa đơn, chứng từ, hợp đồng "thật 100%", nhưng
đằng sau là các thỏa thuận ngầm mà cơ quan bảo vệ pháp luật rất khó
kiểm tra, phát hiện. Chẳng hạn, hình thức "thỏa thuận tăng giá trị hợp
đồng để nhận tiền trích % từ bên B" được 35.7% công chức Bộ Giao thông
&Vận tải, 30.07% công chức tỉnh Sơn La chứng kiến. Nếu tính chung ở
7 tỉnh, 3 Bộ thì tỷ lệ này là 20.9%. Vừa tinh vi, tham nhũng lại vừa
trắng trợn thể hiện ở chỗ: Người nhận hối lộ không cần che giấu. Họ
nhận cả của người quen, để giải quyết công việc nào đó, tức là không sợ
tố cáo, không cần che giấu danh tính, địa chỉ của mình.
Theo
thống kê, đa số (khoảng 60-70%) người nhận tham nhũng nhận tiền, quà
của người quen ở các mức độ khác nhau, trong đó quen lâu năm cũng lên
tới10%. Nhóm nghiên cứu nhận định khoảng 1/3 cán bộ công chức có thể
nhận hối lộ nếu có người đưa.
* Phân tích về thực trạng tham nhũng
Mặc
dù cho rằng tham nhũng về căn bản là hành vi riêng lẻ của từng cá nhân,
nhưng nhóm nghiên cứu cũng đi đến nhận định một số trường hợp tham
nhũng mang tính tập thể, liên kết thành mạng lưới. Rất khó xác định
hành vi tham nhũng là của tập thể hay chỉ là một cá nhân. Tuy nhiên, ở
những nơi nhũng nhiễu, lấy tiền của dân phổ biến hơn thì tỷ lệ cho hành
vi cá nhân thường cao nhất, còn ở những vụ lớn, dễ lộ như đất đai (Vụ
Đồ Sơn, vụ đảo Phú Quốc...) thì tham nhũng lại thường mang tính tập
thể.
Ngay công chức cũng có tới 38% hoàn toàn đồng ý rằng "Do
bè cánh, nếu ai không tham nhũng sẽ bị loại ra". Minh chứng cho tính
liên kết, theo kết quả điều tra có tới 21.8% công chức cho rằng trong
năm qua đã chứng kiến hiện tượng cấp trên bao che, bảo lãnh cho người
vi phạm; Tương tự, 24.6% chứng kiến các quan chức gọi điện, viết thư
tay can thiệp vào các vụ việc nhằm giảm nhẹ hoặc gỡ tội cho kẻ vi phạm.
Đối với chủ thể của hành vi tham nhũng, nhóm nghiên cứu cho
rằng những người nhận hối lộ đa số là nam giới; đa số là trung niên;
những người tham nhũng không nhất thiết phải có chức vụ; tham nhũng xảy
ra ở nhiều cấp; và tuyệt đại bộ phận những người tham nhũng là do lòng
tham chứ không phải do thu nhập thấp hoặc nghèo đói.
Về hậu
quả của tham nhũng, nhóm nghiên cứu đã có nhận định: "Mục đích cuối
cùng của những người tham nhũng là làm giàu và giàu hơn nữa, nên tham
nhũng không có giới hạn cuối cùng. Nó tăng lên cùng cơ hội.
Chính
vì vậy, tài sản công, tài sản của dân bị chiếm đoạt tăng dần theo "cấp
số nhân", từ tiền tỷ ở cấp xã đến hàng trăm tỷ trong phạm vi cả nước.
Ngoài
thất thoát ở các địa phương, tham nhũng ở các ngành mới là điều đáng
kể. Nếu như khoản tiền mà doanh nghiệp bị mất do tệ tham nhũng được coi
là chi phí "đen" trong tổng số chi phí của doanh nghiệp, thì theo nhóm
nghiên cứu hầu hết cán bộ doanh nghiệp đều biết doanh nghiệp của mình
hàng năm vẫn có khoản chi phí không chính thức, bất hợp pháp, chỉ có
điều là họ không thể biết được chính xác là bao nhiêu.
Đáng
chú ý là 8% cán bộ doanh nghiệp đánh giá những khoản chi không chính
thức chiếm từ 1% đến trên 10% tổng chi phí, riêng TP.SG lên đến 13%.
Tham
nhũng làm cho doanh nghiệp mất chữ tín, chữ tài (tài chính), chữ thời
(thời cơ và giới hạn), nghĩa là làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.