HÀ
NỘI 11-01 - Trong một cuộc họp của ngành giáo dục hôm 5 Tháng Giêng năm
2006 tại Hà Nội, Nguyễn Minh Hiển, bộ trưởng Bộ Giáo Dục Ðào Tạo Việt
Nam, thừa nhận rằng: “Trong số 8,400 tiến sĩ hiện nay tại Việt Nam (đào
tạo sau năm 1976 đến nay) thì có đến 2,500 tiến sĩ có trình độ yếu,
chiếm gần 30%. Bằng cấp với nhiều người chỉ để làm đẹp hồ sơ, tạo cơ
hội cho sự thăng tiến”.
Theo thống kê của Bộ Giáo Dục Ðào Tạo, tính từ năm 1976 đến nay, đã đào tạo được 8,400 tiến sĩ và 39,000 thạc sĩ.
Báo
Thể Thao và Văn Hóa hôm 11 Tháng Giêng cho hay có 1,001 lý do để ra đời
những thế hệ “tiến sĩ giấy”, và báo này đã làm một cuộc tìm hiểu qua
các cơ sở đào tạo sau đại học.
Báo
này dẫn lời một nghiên cứu sinh cho biết: “Việc cơ quan nhàn rỗi, quan
hệ vợ chồng trục trặc, không có gì hay ho nên đi học tiến sĩ cho vui!”
Không phải là chuyện tiếu lâm Việt Nam, mà là chuyện thật 100%.
Một
vị giáo sư của trường Ðại Học Sư Phạm Hà Nội kể về một “nghiên cứu
sinh”: Trang phục như đi dạ hội, lúc nào cô ấy cũng đến muộn buổi giảng
bài của tôi. Một hôm do không sắp xếp buổi học sớm hơn được nên tôi yêu
cầu học viên học môn của tôi muộn hơn dự kiến 1 giờ đồng hồ. Cô ấy bảo:
“Giờ ấy thì em không đến được”.
Bữa
khác cô ấy chuyển cho tôi thư tay của một vị có chức sắc, nội dung thư
đề nghị tôi viết giúp cô ấy mấy bài “nghiên cứu khoa học” in trên tạp
chí chuyên ngành để “lấy điểm”. Dĩ nhiên tôi từ chối, nhưng có phải có
mỗi mình tôi để cô ấy nhờ đâu và cô ấy cũng không phải trường hợp cá
biệt”.
Một
vị có chân trong hội đồng tuyển nghiên cứu sinh đang làm việc tại một
viện nghiên cứu của ngành giáo dục cho biết: Có cô thi ngoại ngữ để
tuyển vào làm nghiên cứu sinh, chưa đủ trình độ nhưng muốn “đốt cháy
giai đoạn” nên cứ liều đi thi cùng với “phao” (tài liệu để copy). Quay
cóp, bị lập biên bản, cứ tưởng thế là “trượt vỏ chuối”, thế mà bẵng đi
một thời gian, cô ấy đã là tiến sĩ.
Học
sinh phổ thông quay cóp đã đành, tiến sĩ cũng quay cóp. Ði thi vào còn
quay cóp, thế nên chuyện xào luận văn người khác, ăn cắp chất xám của
người khác cũng không phải là chuyện hiếm. Vì không phải hiếm nên nhiều
người làm mà không xấu hổ.
Có
những cơ quan, trường học, trong bản tổng kết cuối năm nào cũng không
quên thống kê số lượng tiến sĩ, thạc sĩ, như một “tiêu chí” quan trọng
để “tính điểm thi đua”. Và để có “điểm”, buổi họp nào thủ trưởng cơ
quan cũng kêu như vạc đề nghị nhân viên đi học. Người làm công việc
giảng dạy, nghiên cứu đi làm nghiên cứu sinh đã đành, người làm công
việc hành chính, công việc mang tính ứng dụng thực tiễn cũng thành tiến
sĩ.
Thứ
trưởng Bộ Giáo Dục Ðào Tạo, Bành Tiến Long, đã thừa nhận:”Nhiều cơ sở
đào tạo đã chạy theo số lượng, tổ chức tuyển sinh chưa nghiêm, chưa
ngăn chặn được các hiện tượng tiêu cực trong thi cử, các điều kiện dự
tuyển được xử lý mang tính đối phó với quy chế. Bởi vậy không ít cơ sở
đã cho 100% nghiên cứu sinh dự tuyển đỗ cả, không hề có sự sàng lọc”.
Giáo
Sư Lê Quang Minh, hiệu trưởng trường Ðại Học Cần Thơ, cho biết: Nếu như
ở các nước, đánh giá để “chấm” một tiến sĩ, người ta căn cứ vào nhiều
thứ... thì theo quy định của Việt Nam, các cơ sở chỉ đánh giá thông qua
đề cương nghiên cứu của nghiên cứu sinh.”
“Nghiên
cứu sinh không cần thiết phải trình bày quá trình nghiên cứu của mình
như thế nào. Không trình bày rõ là đã có những luận án nào nghiên cứu
cùng vấn đề với mình, nghiên cứu đến đâu. Nghiên cứu sinh đã nghiên
cứu, tham khảo, và tiếp tục nghiên cứu những phần mới như thế nào...
Như vậy mới rõ ra được “phần nào là của chính nghiên cứu sinh tạo nên”.
Tại
các quốc gia khác, các đề tài nghiên cứu khoa học cũng được đưa công
khai lên mạng Internet. Qua đó giúp người nghiên cứu biết để tránh
những gì người khác đã làm mà người chấm cũng có căn cứ để xác định đâu
là phần sáng tạo của nghiên cứu sinh. Việt Nam không làm được điều này,
bởi vậy chuyện trùng đề tài, trùng vấn đề là phổ biến.
Giáo
Sư Lê Quang kể với báo Thể Thao và Văn Hóa: “Tôi mới trực tiếp chấm 5-6
luận án, thì có đến 2 luận án đề cập đến cùng một vấn đề. Như vậy nếu
xét ở số lượng luận án lớn hơn, số trùng nhau sẽ nhiều đến thế nào?!”
Những
nghiên cứu không có gì mới, chưa nói đến việc sao chép, là sự vô bổ,
lãng phí sức người, tiền bạc, thời gian, để cuối cùng cho ra một chất
lượng “tiến sĩ giấy”.
Ông
Minh kể tiếp: “Năm trước, tôi có một “sáng kiến” là nhân dịp năm học
mới, định lập một danh sách những tiến sĩ xuất sắc để biểu dương, tặng
quà. Ở nước ngoài, người ta cũng thường xuyên xét danh hiệu tiến sĩ
danh dự cho những người xuất sắc để khích lệ người tài.”
“Thế
nhưng khi yêu cầu đồng sự đưa danh sách lên, tôi giật mình vì thấy có
đến 40 người, 40 tiến sĩ xuất sắc. Trời ơi, “tiến sĩ danh dự” sao lại
nhiều đến vậy. Trên thực tế, người mà tôi thấy thực sự xuất sắc chỉ có
1. Thế là “sáng kiến” của tôi đổ bể”.
Chuyện
mà Giáo Sư Minh vừa kể quả là chỉ có ở Việt Nam. Học sinh tiểu học khi
tổng kết năm học có đến 80-90% khá giỏi, học sinh trung học tốt nghiệp
100%, với trên 50% khá giỏi là chuyện nghe đã thành quen, nhưng tiến sĩ
xuất sắc của một trường nhiều đến thế thì có thể ghi vào “kỷ lục Việt
Nam”.
Với các nước khác, điểm chấm luận án tiến sĩ từ 6-10, trong đó số người được 7 điểm khá hiếm hoi. Nếu được 8, lập tức phải có một hội đồng thứ hai chấm lại và so sánh hai lần chấm để thống nhất mức điểm phù hợp. Tiến sĩ danh dự theo tiêu chuẩn nước ngoài là phải đạt điểm 9, 10. Ở Việt Nam, luận văn tiến sĩ đạt điểm 9 là bình thường. Thảo nào mới nhiều tiến sĩ danh dự đến thế.