Những năm trước, vào dịp này báo xuân văn nghệ cùng báo xuân của các loại báo khác, đã phát hành, bày bán ở các sạp báo lớn nhỏ khắp Sài Gòn. Năm nay, hai tờ báo văn nghệ: Tạp chí Văn của Hội Nhà văn thành phố, và tuần báo Văn Nghệ Thành Phố (của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố) đều tạm ngưng hoạt động, có lẽ do có quá ít độc giả. Và vì vậy không có số báo xuân. Tôi không phải là hội viên Hội Nhà văn, cũng như nhiều người bạn viết văn làm thơ ở Sài Gòn từ trước 30-4-1975, vẫn gửi bài và được chọn đăng trên hai tờ báo văn nghệ nói trên. Ðăng bài vào số báo xuân, vừa có nhuận bút cao gấp đôi, gấp ba nhuận bút bài đăng số báo thường kỳ, vừa được đọc bài của mình ngày Tết. Nghĩa là Sài Gòn, thành phố lớn nhất nước, hiện nay không có một tờ báo văn nghệ nào.
Tôi vào nhà sách Văn Nghệ (trên đường Lý Chính Thắng - đường Yên Ðổ cũ), tìm tạp chí Văn Hóa Phật Giáo của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, số Xuân Bính Tuất 2006. Tôi có bài thơ đăng trong số này. Hòa thượng Thích Trí Tịnh là Ðệ nhất Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Trong số Xuân của tạp chí Văn Hóa Phật Giáo, có bài viết về Niềm vui Chánh Pháp (Nếp sống thực hành 10 thiện nghiệp - Nếp sống hành thiền) của Hòa thượng Thích Minh Châu (Viện trưởng Viện Ðại học Vạn Hạnh, trước 30-4-1975). Thiền sư Thích Nhất Hạnh viết về Ba điều cầu nguyện thông thường. Chúng ta có những mong ước, có những điều tâm nguyện, và chúng ta muốn những điều đó được thực hiện, vì vậy mà chúng ta cầu nguyện... Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo phát hành vào thượng tuần mỗi tháng, số Xuân này là số báo thứ 12.
Vừa lúc tôi ngợp mắt trước loạt tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, dàn hàng dài trên kệ sách truyện thiếu nhi, tuổi mới lớn, tác giả đắt khách nhất từ nhiều năm nay xuất hiện. Anh cười thật hiền, thật tươi, hỏi thăm các bạn văn, trong đó hỏi thăm cả nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, hiện định cư tại Hoa Kỳ, hỏi tôi có tin tức gì của những bạn văn bạn thơ ở hải ngoại mà chúng tôi cùng quen biết. Tôi được đọc thơ của Nguyễn Nhật Ánh từ trước 30-4-1975, lúc ấy anh mới làm những bài thơ đầu, đăng tải chưa nhiều nên ít người biết đến. Sau 30-4-1975, sức viết của anh nở rộ, đăng nhiều thơ trên tuần báo Văn Nghệ thành phố. Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, lúc ấy đang giữ công tác gì đấy trong chính quyền “Cách Mạng,” trách cứ tổng biên tập tuần báo Văn Nghệ sao lại đăng thơ của Nguyễn Nhật Ánh, con của ngụy quyền ác ôn (người cha của Nguyễn Nhật Ánh, trước 30-4-1975 giữ chức vụ quan trọng trong chính quyền tỉnh Quảng Nam). Tổng biên tập tuần báo Văn Nghệ vẫn đăng khi các tác giả gửi bài (dĩ nhiên cũng có loại trừ những bài thơ mà ông cho là dở, nhưng Nguyễn Nhật Ánh chưa bao giờ rơi vào trường hợp ấy). Tôi hỏi thăm Nguyễn Nhật Ánh về quán ăn Ðo Ðo, anh cười, bảo thỉnh thoảng cũng ghé uống một chai bia, nhâm nhi vài con nhộng. Nghĩa là, vợ anh trông nom quán Ðo Ðo ấy. Tất nhiên là như vậy, vì Nguyễn Nhật Ánh còn có mấy thì giờ rời bàn viết. Không chỉ thiếu nhi, tuổi mới lớn đọc Nguyễn Nhật Ánh, rất nhiều cô cậu sinh viên đại học, vào quán sách là tìm tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh. Có lẽ, kể cả trước 30-4-1975 tới nay, viết cho đối tượng thiếu nhi, tuổi mới lớn, Nguyễn Nhật Ánh là tác giả lương thiện nhất, viết sạch sẽ và hấp dẫn đối tượng đọc mình. Nên đời sống của anh “ung dung thoải mái” không có gì khó hiểu. Anh có đời sống như vậy, vì nhuận bút cho sách của anh không nhỏ, với số lượng sách tiêu thụ khá lớn.
Về uống cà phê ở quán Hoa Vàng của gia đình Phạm Thiên Thư, ở số 9Y, đường Hồng Lĩnh, cư xá Bắc Hải, tôi lại gặp thêm một chân dung “ung dung thoải mái.” Tôi hiểu bạn mình vốn không mưu cầu gì khác, ngoài sự rảnh rỗi để viết. Nhu cầu đời sống đơn giản, lại thêm có được sự ổn định “kinh tế gia đình” (quán luôn có khách, không quá đông để bận rộn), lúc này là lúc anh viết được nhiều nhất. Anh cũng tiếc “tuần báo Văn Nghệ sao không thấy ra nữa nhỉ” những năm trước, có nhiều số báo Văn Nghệ dành nguyên cả trang khổ lớn, đăng thơ Phạm Thiên Thư. Tôi vịn bờ vai tròn của nhà thơ 66 tuổi, nói: “Bù lại, bây giờ tha hồ mở máy để nghe Ngày xưa Hoàng Thị, Ðưa em tìm động hoa vàng,... Lại thỉnh thoảng gặp ông bạn vong niên, cây đại thụ của tân nhạc Việt Nam, để ôn lại đủ thứ chuyện ngày xưa Hoàng Thị.” Nhưng mà lâu nay Phạm Thiên Thư mắc cái bệnh ảo “Mất ngôn ngữ”. Thật ra anh chẳng mất ngôn ngữ gì cả, chỉ là anh nói có phần chậm chạp, âm giọng nhỏ hơn hồi trước, như vặn bớt volume ở cái máy phát thanh mà thôi. Chắc là phải có khá tiền, Phạm Thiên Thư đã in một quyển sách dày cộm, gọi là thơ Tiếu Liệu Pháp. Và nói sẽ in tiếp tục vài quyển thơ “cười chữa bá bệnh” như vậy nữa. Tôi đọc vài trang, chả thấy cười được mấy. Nhưng tác giả thì cứ thỉnh thoảng lại cười, giống đứa trẻ hồn nhiên. Thế là chàng thơ ung dung tự tại, là tốt đẹp rồi, mong gì hơn nữa.
Và thỉnh thoảng nhà thơ hồi nhớ một thời Fathata của mình, một thời hoang tưởng cao độ. Fathata là từ giản lược... ghép của tên gọi Phạm Thiên Thư, như hàng trăm ngàn đơn vị công ty tại đất nước Việt Nam lấy tên theo dạng thức này: Công ty Phát hành sách = công ty Fahasa... Nghĩa là một thời gian dài, Phạm Thiên Thư tin tưởng (và tìm cách chứng tỏ) mình là một nhà thơ có khả năng dùng nhân điện, và thông huyệt (trên cơ thể người bệnh) để chữa bá bệnh cho bất cứ ai có bất kỳ chứng bệnh nào.
Phạm Thiên Thư lim dim đôi mắt, nở nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ, nói nhỏ: “Tôi mới chữa khỏi cho Nguyễn Thụy Long chứng mất ngủ kinh niên...” Từng biết Fathata “đại công ty hoang tưởng,” tôi không hỏi gì về thành tích mới nhất này, mà vui mừng hỏi thăm tin tức về tác giả Loan Mắt Nhung: “Thế anh Nguyễn Thụy Long đã sang Hoa Kỳ nhận giải thưởng của báo Khởi Hành chưa?” Phạm Thiên Thư vẫn lim dim đôi mắt, nụ cười vẫn đọng trên môi, không trả lời câu tôi hỏi. Tôi nghĩ, có lẽ lúc này cái “bệnh ảo” Mất Ngôn Ngữ của nhà thơ Phạm Thiên Thư là có thật. Tôi có nghe tin tác giả Loan Mắt Nhung được bầu chọn để nhận lãnh giải thưởng do báo Khởi Hành (tục bản ở Hoa Kỳ) tổ chức, nhưng không biết thêm gì nữa. Lâu nay, do hoàn cảnh riêng, tôi không đến thăm nhà văn, một “ông anh” thân thiết một thời. Ðấy là cái thời khốn khó và khốn khổ của rất nhiều người, nhất là với những người cầm bút trước 30-4-1975. Nhiều năm sau ngày lịch sử đó, tác giả Loan Mắt Nhung tối mắt, tối mũi trước cuộc sống. Bụi đường cứ hàng ngày phủ quanh, che lấp nhà văn, để phô ra một ông thợ sửa vá xe đạp lọng cọng, mãi mãi không chuyên nghiệp. Sau đó, rồi sau đó, cái gì cũng ổn. Cái gì của Ceasar trả lại cho Ceasar, như người ta nói, anh hồi phục nhà văn từ Hồi Ký Trên Gác Bút, đăng trên nhật báo Người Việt. Vậy ai đã trả lại ngôi vị hoàng đế Caesar nhỉ? Chỉ có người cầm bút mới mang cây bút trao cho người bị mất cây bút, bạn hữu của Nguyễn Thụy Long ở hải ngoại đã làm việc ấy. Nghĩa là bây giờ, cuộc sống hàng ngày của nhà văn Nguyễn Thụy Long đã ổn rồi, như mọi sự ổn định trên đời.
Và lúc này, có lẽ nhà thơ đang đi sâu vào thơ cười chữa bá bệnh, chợt trở về với cõi thơ chung, anh xem cuốn báo Xuân Văn Hóa Phật Giáo tôi mang theo, mở đọc trang thơ. Tôi không giấu, đã cảm động khi Phạm Thiên Thư đọc lớn hơn âm giọng nhỏ nhít hàng ngày, hai dòng thơ trong bài thơ tôi viết, mùa vào Xuân Bính Tuất 2006 này: Nụ cười mãi một-thoáng-qua. Niềm an lạc ấy mãi là ngàn sau...
Nguyễn Ðạt