Tác giả: Vũ Ngọc Tiến
Kim Hoà gấp cuốn sách “Vân đài loại ngữ” của Lê Quư Đôn, lặng lẽ nh́n Trần
Thăng. Đă một tuần nay chị thấy chồng ḿnh đi về như một cái bóng không hồn. Anh
không nói năng, bỏ cả lệ đọc sách. Thỉnh thoảng anh uống rượu, mắt lờ đờ nh́n
vào góc tối, luôn miệng thở dài. Có lúc anh cao hứng ngâm thơ Nguyễn Trăi: “Kim
cổ vô cùng giang mạc mạc – Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu”. Chị là nhà nghiên
cứu lịch sử nên hiểu xuất xứ hai câu thơ ấy Nguyễn Trăi viết khi cáo quan về ở
ẩn trên núi Côn Sơn. Vào một chiều cuối thu sắp sang tiết lập đông, ông nh́n
thấy từng đàn mây trắng đùn từ phía biên ải xa mờ kéo đến, ḍng sông Đá Bạc ầm
ào vỗ sóng và rừng cây sau lưng xào xạc trút lá khô vàng rơi đầy mặt đất. Ông
tức cảnh, sinh t́nh mà ngâm hai câu thơ bày tỏ nỗi ḷng ḿnh. Nhưng Thăng đâu có
giống t́nh cảnh Nguyễn Trăi. Anh là giáo sư tiến sĩ toán học, sao anh không an
phận với những công tŕnh lư thuyết về toán tin học của ḿnh. Chức viện trưởng
lâu nay chỉ tổ làm anh suốt ngày bận bịu với những vụ linh tinh, biến anh thành
thứ viên chức hành chính tầm thường, báu ǵ. Đă thế, cái viện cỏn con của anh có
một dúm người mệnh danh là “nhà” hay “lều” khoa học cả đấy, mà sao quanh năm
suốt tháng vẫn gầm ghè, đấu đá tranh ăn, giành ghế. Họ ăn không nói có, tung lời
đặt chuyện về nhau chẳng khác ǵ mấy chị hàng tôm, hàng cá ngoài chợ. H́nh như
đam mê quyền lực là thứ bệnh thâm căn, cố đế của cánh đàn ông. Sa đà vào đó, mặt
người bỗng trở nên lem luốc, chẳng ra mặt người. Biết thế mà có ai chịu từ bỏ dễ
dàng đâu ! Nhiều lần anh thanh minh với chị rằng không phải anh ham quyền chức,
nhưng làm viện trưởng sẽ thuận lợi cho công tŕnh nghiên cứu và có dịp giao tiếp
học hỏi với thế giới bên ngoài. Chị biết đó chỉ là nguỵ biện. Làm vợ ai chẳng
muốn hănh diện về chồng. Anh làm xếp có xe đưa, xe đón, thỉnh thoảng lại xuất
hiện trên ti vi, đài báo th́ vợ con cũng nở mày mát mặt. Chồng đi Tây, đi Tàu,
chị cũng có thêm đồ này, thứ nọ để khoe với chị em, bè bạn. Nhưng chị cũng là
nhà trí thức. Chị khao khát anh có những công tŕnh khoa học sáng giá để lại cho
đời, lưu danh sử sách. Ngày ấy chị yêu anh v́ anh đẹp trai, thông minh, lịch lăm
và rất hồn nhiên yêu đời. Anh là nhà toán học trẻ tuổi, có công giúp nhà vật lư
bên quân đội tính toán ra vùng mù sóng nhiễu máy bay B52. Nhờ đó mà mấy vị tướng
lĩnh quân đội đă bố trí các trận địa tên lửa, các trạm ra đa trong vùng mù nhiễu
sóng ấy để phát hiện và bắn rơi máy bay địch, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ
trên không” ở Hà Nội. Nếu anh cứ vẫn yên tâm theo đuổi các công tŕnh toán học,
biết đâu sẽ có nhiều cống hiến lớn khác trong thời b́nh. Chức viện trưởng và
quyền lực như ma ám, làm anh u mê chỉ biết say sưa lao vào các vụ đấu đá, củng
cố quyền lực.
Rất nhiều năm rồi, chị chưa thấy anh có thêm phát minh nào mới, mặc dù học hàm,
học vị của anh đă lên tới tột đỉnh. Anh trở nên người thích xu nịnh, háo danh và
mất cảnh giác. Đợt bầu viện trưởng vừa rồi anh bị hạ bệ êm ru cũng v́ mất cảnh
giác. Chắc anh nghĩ rằng gă viện trưởng mới ngày nào chỉ là một thằng cử nhân
“gia công” dốt đặc cán mai, làm sao dám so b́ uy tín với anh trong giới khoa
học. Nhưng anh đă lầm, là phụ nữ nên nhạy cảm và đă sớm nhắc anh đề pḥng. Mấy
năm nay vợ hắn buôn bán phất lên nhờ mấy vụ sốt giá nhà đất. Hắn có tiền chạy
vạy để được làm phó tiến sĩ trong nước. Anh là người hướng dẫn phụ, nhưng nể lời
ông bạn làm giáo sư ở trường Đại học đă gần như viết hộ luận văn tốt nghiệp cho
hắn. Mỗi lần thấy hắn đến nhà khệ nệ ôm gói to gói nhỏ, mắt la mày lét, miệng
luôn vâng dạ, hai tay xoa vào nhau, lưng hơi cúi kḥng, chị thấy khinh bỉ đến
lợm giọng. Chị nhắc anh nhớ lại lời của Jo-han Gốt-liep Phích-tơ, nhà triết học
cổ điển Đức: “Kẻ nào làm thuộc hạ mà lúc nào trước mặt anh cũng sẵn sàng quỳ mọp
xuống đất một cách đê tiện th́ sớm muộn ǵ nó cũng phản anh”. Thật ḷng mà nói,
khi nghe tin anh mất chức viện trưởng chị cũng hơi choáng váng, hụt hẫng. Nhưng
chị không ngờ anh hốc hác, gày rộc, chán đời và mất hết thăng bằng đến như vậy.
Chị nghiên cứu lịch sử, hiểu thấu mọi lẽ hưng phế của các triều vua. Chị là
người ngoài cuộc nên có lẽ chị b́nh tĩnh, sáng suốt hơn anh chăng. Chị muốn an
ủi, động viên, nhưng anh cứ ậm ừ rồi lảng tránh. Tính anh xưa nay không muốn làm
phiền người khác. Nhưng chị là vợ, gắn bó suốt đời với anh chia ngọt sẻ bùi. Chị
sẽ phải làm ǵ để lấy lại thăng bằng cho anh, để anh lại tiếp tục say sưa với
công tŕnh khoa học như ngày xưa anh say sưa tính toán ra vùng mù sóng nhiễu của
B52.
Kim Hoà đứng dậy, nhẹ nhàng đi về phía chồng. Trần Thăng vẫn nằm dài trên ghế
xích đu đặt gần ban công để anh ngắm trời, ngắm đất. Đêm cuối tháng tối thâm,
không một v́ sao, vẳng tiếng côn trùng eo óc, nỉ non. Chiếc đôn sứ bên cạnh với
bao thuốc gần rỗng và chiếc gạt tàn đầy ặc các mẩu đầu lọc. Xưa nay anh vốn ít
hút, cứ thế này th́ đen x́ hai lá phổi c̣n ǵ! Chị thầm nghĩ, lắc đầu chua xót
nh́n anh, tṛng mắt ươn ướt. Lồng ngực của chị như có ǵ chèn tức đến ngẹt thở.
Chị âu yếm quàng tay lên cổ, ray ray cằm lên mái tóc bồng đốm bạc của anh.
- Em không đọc sách nữa à? – Anh hỏi.
- Không . Đêm nay em muốn ḿnh đi ngủ sớm. Chiều em một tí, đi ḿnh! -Chị lắc
người nũng nịu như hồi trẻ. Tay chị vuốt lên ngực anh để trần.
- Nghĩ mà ngao ngán cho đời, không ngủ được.
- Quên mọi chuyện đi. Nghĩ lắm cho già người.
- Quên sao được hở em. Ḿnh dày công xây dựng viện từ khi c̣n trứng nước, công
lao và học vấn là thế, bỗng nhiên bị thằng mất dạy nó đá đít với lư do trẻ hoá
cán bộ. Nếu phải giao quyền cho mấy cậu vừa tốt nghiệp tiến sĩ ở nước ngoài về
đă đành một nhẽ. Đằng này...
- Quan nhất thời, dân vạn đại mà anh. Xưa nay có triều vua nào ngự trị bền măi
đâu anh.
- Em lại sắp lên cơn bệnh nghề nghiệp, bà phó tiến sĩ sử học của anh ạ! Hôm nay
anh hết hứng thú nghe em kể chuyện xưa, tích cũ rồi. Bụng anh đang rối bời, chán
phè. Ước ǵ anh hoá rồng lúc này, bay tít lên cao nh́n rơ mọi cuộc đấu đá, tranh
giành ở khắp thế gian.
- Vậy chúng ḿnh buông màn đi nghỉ. Nằm trên giường em sẽ kể chuyện rồng cho anh
nghe.
Chị d́u anh đứng dậy, đi về phía giường, nhẹ nhàng đặt đầu anh xuống gối và tháo
dép cho anh. Ḷng chị lâng lâng sung sướng khi thấy vầng trán anh bớt nhăn, khoé
mắt anh sáng lên nụ cười hiếm hoi. Chiếc màn tuyn xanh mát buông xuống, thoảng
bay mùi nước hoa chị vừa kín đáo phun nhẹ bốn góc màn để xua muỗi. Cả chiếc quần
lót và váy ngủ của chị cũng thoảng bay mùi hương quyến rũ, được chị mua về từ
siêu thị chiều nay. Trần Thăng xoay người nh́n sâu vào mắt vợ. Anh vuốt nhẹ mấy
sợi tóc mai, mỉm cuời, nháy mắt hỏi yêu:
- Chuyện rồng của em thế nào? Ở bên Tây người ta xem rồng là ma. Vợ anh đừng kể
chuyện ǵ về rồng làm anh sợ ma mất ngủ là bắt đền đấy.
- Đền ǵ nào, anh yêu?
- Đêm hai ngày một.
- Khiếp… sức đâu mà đền ! nhưng sao đêm nay anh bỗng thành con nít sợ ma thế ?
- Th́ chuyện bầu viện trưởng ở chỗ anh cũng là ma hiện đại c̣n ǵ.
- Nói cho cùng trên đời làm ǵ có rồng- Chị lựa lời kéo dài thời gian bằng câu
chuyện bâng quơ, tay mơn man thoa nhẹ khắp người anh..
- Em nói đúng. Nếu cắt bỏ cái đầu rồng có bờm như sư tử đi th́ nó có khác ǵ con
rắn, con rết hay con giun đất, em nhỉ !
- Bởi v́ rồng không có thật nên mới linh thiêng. Lúc đầu nó tượng trưng cho sức
mạnh huyền bí của thiên nhiên có thể hô gió, gọi mưa. Lâu dần nó được con người
huyền hoặc, gắn nó tượng trưng cho vương quyền và sức mạnh của vua chúa.
- Đời thật thú vị! Cứ cái ǵ hư thực, thực hư bỗng thành thiêng liêng, uy quyền
trùm khắp thiên hạ.
- Chẳng có ǵ là uy quyền tuyệt đối anh ạ! Em nghiên cứu rồng qua các triều vua
thấy thế rồng cũng biến đổi theo thời cuộc, theo quyền uy và điểm yếu của các
ông vua. Triều Lư, vương quyền c̣n đang manh nha, chưa với tới được các bộ tộc,
bản làng ở rừng núi xa xôi. Người ta phải mượn tích Âu Cơ có trăm trứng để nhắc
nhở các tộc trưởng miền núi thần phục vương triều. Vậy nên thế rồng thời Lư có
thân cuộn lại thành khúc tṛn và trong mỗi khúc cuộn ấy chứa biểu tượng một quả
trứng rồng, theo tích Lạc Long và Âu Cơ. Sang đến thời nhà Lê, nhất là triều vua
Lê Thánh Tông, vương quyền được củng cố, vươn ra thâu tóm các bộ tộc xa gần ,
lấn át cả vua nước Chàm và Ai Lao. Thế rồng thời Lê trở nên lượn sóng h́nh sin,
rất tao nhă và thanh thản, hài hoà. Đến thời nhà Mạc các nghệ nhân ngầm có ư ám
chỉ vương quyền đang trong tay cha con một ông vơ tướng tiếm ngôi, biến vị. Thế
rồng thời nhà Mạc biến đổi một cách kỳ lạ. Lưng rồng không c̣n uốn éo h́nh sin
như thời nhà Lê và gồng lên như một cái yên ngựa. Nó khác nào con rồng thời Lê
vừa bị đánh một côn trượng đau oằn lưng. Dưới triều nhà Nguyễn, văn hoá phương
Tây tràn qua, tư tưởng và lối sống của con người trở nên phóng khoáng, không câu
nệ, chấp nhặt theo các giáo lư các bậc hủ nho. Các nghệ nhân điêu khắc ở nước
ḿnh sáng tác đủ các thế rồng không theo một khuôn mẫu nhất định nào. Cái lạ là
rồng vẫn ra rồng, không thể lẫn với con vât nào khác. Một điều lạ nữa là có lẽ
rồng thời Nguyễn biến đổi nay thế này mai thế khác nên đă ứng nghiệm vào cuối
triều Nguyễn vương quyền được thay như thay áo. Có ông lên ngôi được ba tháng,
có ông được ba ngày...
Trần Thăng nằm yên tận hưởng sự vuốt ve và nghe vợ kể chuyện rồng. Trong ḷng
anh bỗng nhiên thanh thản. Anh chạnh nhớ về miền quê Kinh Bắc. Nhớ cái làng nhỏ
bên bờ đê sông Đuống nơi an chôn nhau, cắt rốn và tuổi thơ anh thả diều, bắt
bướm. Ḷng anh nôn nao nhớ từng con đường gạch lát nghiêng, cây đa, bến nước,
sân đ́nh. Ôi ! Cái ngôi đ́nh nhỏ ở quê anh có tự bao giờ sao anh chẳng
biết,chẳng bận tâm hỏi rơ ngọn ngành. Ở hai bên thành của bậc tam cấp bước lên
thềm cao ngôi đ́nh cổ ấy có hai con rồng đá, sao anh chẳng nhớ nó cuộn khúc ủ
trứng rồng, hay lượn sóng h́nh sin, hay oằn lên như yên ngựa.
Thăng nhớ thằng bạn nối khó có tên là Tươi mà suốt đời chỉ gặp chuyện buồn. Tươi
ra trận, trở về với một chân và nhằng nhịt vết sẹo ở lưng, ở bụng. Giờ đây Tươi
đang yên phận làm anh chăn vịt. Có lẽ bù lại Tươi được Thảo yêu, chờ đợi gần
chục năm ṛng. Họ đă có với nhau cả một nửa tá thị mẹt và đang sống nheo nhóc ở
làng quê nghèo bán sơn, bán địa. Vậy mà sao những lúc vinh hiển, vào Nam ra Bắc,
đi Tây đi Tàu, anh chẳng có chút bận tâm mua ít quà nhỏ cho sáu cô lọ lem của
Tươi và Thảo... Thăng nhớ như in cô bé Thảo ngày nào. Nàng kém anh và Tươi chừng
năm sáu tuổi. Khi hai đứa học cấp hai th́ Thảo c̣n bé tí, suốt ngày cùng đám trẻ
mẫu giáo trèo lên, trượt xuống trên lưng hai con rồng đá. Hợp tác xă hồi ấy biến
ngôi đ́nh cỏ thành nhà trẻ, mẫu giáo. Trẻ con nhà quê thường lấm lem nhếch nhác,
có khi cởi truồng đến lớp. Thăng và Tươi hay ra sân đ́nh trêu Thảo: “lêu lêu có
đứa cởi truồng!” Phải đến khi Thảo khóc ré lên hay cô giáo ra quát mắng hai đứa
mới chịu rủ nhau ra ao tắm hay ṃ ốc vặn.
Năm qua đi, tháng qua đi, thoắt cái Thăng đă trở thành chàng sinh viên khoá bảy
Bách khoa. Lần trở về làng, anh không dám tin ở mắt ḿnh trước một cô Thảo mắt
bồ câu lúng liếng, bộ ngực căng tṛn, tấm thân thắt đáy lưng ong. Anh và Tươi
cùng ngấm ngầm mê Thảo, cùng ganh đua để được Thảo yêu. Hoá ra anh chàng Tươi củ
mỉ cù ḿ mà có duyên ngầm nên đă chiếm được trái tim nàng... Thăng nhắm mắt mơ
màng thả hồn theo ḍng hồi ức. Hoà bồi hồi nh́n chồng đang mỉm cười, nụ cười làm
sáng cả đêm tối trăng. Chị khẽ lay anh.
- Ḿnh! Ḿnh buồn ngủ rồi à?
- Không, anh đang nhớ quê, nhớ bạn bè thủa ấu thơ, nhớ đôi rồng đá ở hai bậc tam
cấp ngôi đ́nh.
- Vậy th́ mai chúng ḿnh về quê, anh nhé!
- Có lẽ nên như vậy. Anh sẽ cảm thấy nhẹ ḷng, thư thái hơn.
Họ ôm nhau, xoắn chặt vào nhau như đôi rồng phun nước. Thăng như chàng trai mới
lớn đầy ham hố, chồm lên đi thật sâu vào cơ thể vợ t́m khoảnh khắc thần tiên.
Chị hưởng ứng bằng tất cả sự phấn khích trào dâng trong từng động tác mặn ṃi
của tuổi hồi xuân. Hơi thở hai người làm ấm cả trời đêm mùa thu se lạnh, lác đác
hạt sương rơi. Đêm cuối tháng ch́m sâu, huyền bí, ẩn hiện những bóng rồng giữa
bốn bề lặng im bao la trời đất và cả trong cơi nhân sinh muôn thủa những kiếp
người.
Sáng. Hoà tỉnh dậy sớm. Chị sợ làm động giấc của anh sau nhiều đêm thao thức,
dằn vặt. Chị khẽ khàng trườn qua người anh, trượt gót xuống nền nhà. Hoà đẩy cửa
ra ban công hít thở không khí trong lành buổi sớm mai. Phía rạng đông bắt đầu hé
sáng. Những mái nhà rêu mốc của khu phố cổ đang ửng dần những tia nắng màu hồng
nhạt, lẫn pha sắc tím, chiết quang từ những hạt sương li ti. Nó ḅ dần theo các
ống máng và chuyển sang màu đỏ. Từng vạt nắng lung linh lan trải trên hàng sấu
và trên hè phố loáng thoáng rơi mấy quả sấu chín vàng vỏ đă nhăn nheo, báo mùa
thu sắp hết. Hoà chợt giật ḿnh nhận ra một mùa đông sắp về theo ngọn gió heo
may trên các ngọn mía bên đê sông Đuống quê chồng. Đă nhiều năm bận rộn với công
việc nghiên cứu, việc nhà lút cổ, Hoà không về quê. Những ngồng cải hoa vàng sau
ngôi nhà ngói năm gian thân thương ở vùng quê Kinh Bắc như vẫy gọi chị về. Hoà
thẫn thở vơ vẩn hồi lâu rồi quay vào tủ lạnh, lấy quả bầu dục với hai gói ḿ
xuống bếp. Chị ư tứ giấu một nửa trái bầu dục dưới đáy bát của anh. Nửa c̣n lại
chị chia đều hai bát. Các con đă trưởng thành, đi xa. Ở nhà ăn miếng ǵ ngon chị
cũng nhường anh. Chị khẽ mỉm cười v́ nếu anh biết nhất định sẽ đ̣i vợ đổi bát và
ép chị ăn bằng hết mới chịu đụng đũa. Hạnh phúc đơn sơ thầm kín này chị sẵn sàng
đánh đổi mọi thứ quyền chức, giàu sang để được nó. Thăng đă nghe thấy tiếng lục
đục dưới bếp và tỉnh dậy. Anh khăng khăng giành lấy chậu quần áo từ tay chị mang
lên sân thượng phơi. Hai người thủng thẳng ăn hết bát ḿ. Chị tất tưởi đi chuẩn
bị hành lư về quê, c̣n anh ngồi uống cà phê vợ đă pha sẵn. Thăng không quên nhắc
vợ gói ít kẹo và mấy mảnh vải hoa mang về cho mấy đứa cháu ngoại của Tươi và
Thảo.
Xe bon bon trên con đường nhựa rộng rênh, phẳng ĺ. Hai bên đường những thửa
ruộng vừa gặt c̣n trơ lại gốc dạ nâu đen. Những chú chim gáy đi ăn sớm đang tha
thẩn t́m hạt lúa sót trên các đường cày lật đất nổi gợn lên giữa cánh đồng, nh́n
từ xa nom giống như vồng ngực của người thiếu nữ tuổi dậy th́. Xe đưa Thăng rẽ
lên bờ đê sông Đuống vàng rực nắng, lồng lộng gió. Ḷng anh phơi phới niềm vui.
Con đường càng ngắn lại, t́nh yêu quê càng bùng cháy, thiêu đốt mọi nỗi ưu tư,
phiền muộn. Câu chuyện về những con rồng qua các triều vua Hoà kể đêm qua khiến
Thăng thao thiết mong gặp lại ngôi đ́nh cổ với đôi rồng đá tuổi thơ. Vừa đến đầu
làng, anh cho xe lượn thẳng vào sân đ́nh. Hoà nắm tay chồng cùng hớn hở chạy lại
quỳ bên con rồng đá. Thăng vỗ tay vào lưng vợ reo lên thích thú:
- Ḿnh ơi! Nó uốn lượn mềm mại, bay bướm, uyển chuyển h́nh sin. Đúng là rồng đời
Lê rồi.
- Vâng. Đ́nh làng ḿnh có từ đời Lê. Em cũng không ngờ quê nội các con có ngôi
đ́nh cổ đến như vậy. Mọi lần về quê đều sấp ngửa, vội vàng em chưa ra sân đ́nh
lần nào.
- Anh nghĩ, rất có thể góp thêm tư liệu cho công tŕnh nghiên cứu của em cũng
nên.
Ḥa nhoài người ḅ lên thân con rồng đá. Chị áp sát cặp kính cận dày cộp vào
từng nét chạm sâu, từng đường uốn lượn của các hoạ tiết trên mặt, lưng và bụng
rồng. Hồi lâu chị ngẩng lên nh́n Thăng say sưa giải thích cho anh ư nghĩa từng
hoạ tiết. Thăng nghe vợ như uống từng lời. Anh bồi hôi xúc động, thầm cảm phục
Hoà. Cuộc sống quanh anh có bao cái đẹp, cái quư giá mà anh hờ hững hoặc chưa
chịu khám phá, cảm nhận được nó. Anh nghĩ vậy và cảm thấy yêu đời hơn, gắn bó
với làng quê nghèo khó, với những con người quanh năm lam lũ mà rất hồn nhiên,
không màng danh lợi, không bon chen đấu đá, tranh cướp quyền lực. Chợt anh nh́n
thấy bóng Tươi chống nạng phăm phăm đi tới, sau lưng Tươi là Thảo là mấy đứa trẻ
nhỏ trong làng.
- Thăng về đấy phỏng? – Tươi hỏi như quát.
- Sao biết vợ chồng ḿnh về mà ra đón?
- Đón điếc cóc khô ǵ. Ḿnh nghe trẻ con trong làng kháo nhau có hai ông bà lịch
sự ngoài Hà nội, mỗi người đeo hai đít chai dày cộp, đang ở ngoài sân đ́nh xem
con rồng đá nên đoán ngay ra vợ chồng ông thôi mà. Ngọn gió lành nào đưa ông bà
về quê đẩy, hử?
- Nhớ th́ về chứ gió lành, gió dữ ǵ…
Thăng đẩy nhẹ vợ về phía Thảo. Hai người đàn bà thẽ thọt chào nhau, làm thân rất
nhanh và rủ rỉ tâm sự. Tươi vẫn nói oang oang như sân đ́nh chỉ có anh và Thăng.
- Ông là chúa tệ, làm quan rồi, giàu sang rồi chẳng thèm ngó ngàng hỏi đến bạn
bè.
- Bận tối mũi tối mắt, ông và các bạn bè ở quê tha cho ḿnh.
- Bận... Bận... Bận cái nỗi ǵ? Có mà bận đỡ đ̣n giữ ghế. Cái tạng ông thật thà
như đếm, chống đỡ làm sao cho được bọn tiểu nhân mẹo vặt đầy người. Bị chúng nó
cho lộn tùng phèo rồi phỏng?
- Thế ra ông biết hết mọi chuyện? –Thăng ngỡ ngàng hỏi lại.
- Đừng khinh thằng bạn lính què, chăn vịt ở xó quê nhá. Chuyện to chuỵên nhỏ của
bạn bè ngoài Hà Nội cũng không lọt qua lỗ tai, con mắt của ḿnh. Mà thôi, vứt
quách ba cái chuyện ấy cho nó nhẹ ḷng. Ông và Hoà từ năy ngắm nghía con rồng đá
đố biết có ǵ hay không?... Đám trí thức thị thành các vị không rành rơ chuyện
nay bằng cánh nhà quê ấm ớ như ḿnh đâu. Này nhé! Các con rồng thiêng ở đâu ḿnh
không biết, chỉ thấy nó dù làm bằng gỗ, bằng đồng, bằng đá, hay bằng vàng đi nữa
mà đặt xa cách với con người là vứt ! Nếu nó không mốc meo, mối mọt th́ cũng
nhện chăng, bụi bám rồi khuất ch́m dưới đáy bể thời gian. Cứ như con rồng đá
đ́nh làng ta lại hoá hay. Bao nhiêu thế hệ mẫu giáo xa xưa đến lớp mụ Thảo nhà
ḿnh và bây giờ là lớp con, lớp cháu đă nối tiếp nhau, áo quần nhếch nhác, leo
lên tụt xuống nên cái lưng rồng mời nhẵn bóng, sáng loáng. Chỉ cần nh́n xuống
chân, xuống bụng con rồng đá khắc thấy chỗ nào các thằng cu, con hĩm ít gí
chim,chạm bướm tới là rêu mốc đă bám ngay rồi...
Tươi nói say sưa, giọng choang choang như chuông không cần e dè, kiêng nể. Có
lúc cao hứng, anh gơ chiếc nạng cạch cạch xuống sân đ́nh. Hoà liếc nh́n sang
chồng. Chị mừng v́ chưa thấy bao giờ anh hồn nhiên, vui vẻ như vậy. Cái chất nhà
quê thật thà, nói nhanh, nói to của Tươi như lây sang người Thăng. Họ vung tay,
múa chân, nói cười ngả ngớn, tự do. Cái tự do không dễ t́m được ở các hội nghi
trang nghiêm giả tạo, nói lời vay mượn mà Thăng và chị vẫn từng miễn cưỡng tham
dự đă nhiều năm. Nó giá trị chẳng bằng nửa lời của Tươi vừa nói về rồng
chăng?...Chị xúc động ngả đầu vào vai Thảo ngắm nh́n hai người đàn ông thao
thao, bất tận những câu chuyện mà họ dành cất trong kho kỷ niệm từ thời tám
hoánh.
Nắng trưa đă lên tṛn bóng. Mặt nước ao đ́nh lăn tăn gợn sóng theo nhịp khoả
chân của các cô thôn nữ đi làm đồng về. Ḷng Ḥa thầm reo: Ôi quê hương, con cám
ơn ngườI ! Nếu biết thế này, con đă đưa Thăng về với người từ hôm đầu xảy ra câu
chuỵên bầu bán ở viện của anh…