truyện ngắn của Vũ Ngọc Tiến
Rồng Đá
Vị phồn thực
Vũ Ngọc Tiến
1- Tôi tỉnh dậy sau một đêm dài mộng mị. Hắn và cả cái pḥng tranh quái đản,
trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật cứ ám ảnh tôi suốt đêm, không sao chợp mắt được,
đầu óc rối tinh, bộn bề những kỷ niệm về t́nh bạn giữa tôi với hắn một thời
lửa máu. Ngần ấy năm bầu bạn thân thiết, tôi chỉ biết hắn đă từng làm thơ,
viết văn, rồi v́ thứ của nợ ấy hắn dính đ̣n, bị đẩy ra mặt trận, thành lính
trinh sát pháo binh, cùng tiểu đội với tôi ở chiến trường khu Năm ác liệt.
Đành rằng hắn có chút hoa tay, vẽ sơ đồ các cứ điểm của địch chuẩn xác và sinh
động đến kỳ lạ, nhưng để làm họa sĩ lại là chuyện khác. Thơ hắn tứ lạ, lời đẹp
mà hắn lại gác bút mấy chục năm, rồi chuyển sang nghề vẽ, làm tôi ngỡ ngàng…
2- Chẳng biết hắn học quy luật về ánh sáng, h́nh sắc, đường nét ở đâu, từ bao
giờ mà pḥng tranh vừa mở đă gây ồn ào dư luận, khen chê các kiểu. Mới tập
tọng vào nghề, hắn đă nhảy ngay vào lĩnh vực tranh tiêu đề khổ lớn, mỗi bức to
bằng lá chiếu đại. Đă là tranh tiêu đề th́ đằng sau bố cục và những gam màu
c̣n ẩn chứa nội hàm tư tưởng triết mỹ của tác giả, chứ đâu có bỡn. Vậy mà
trong hết thảy các bức vẽ, hắn đều đặt tâm điểm triết mỹ vào h́nh tượng người
đàn bà khỏa thân, ngồn ngộn những V và L!
Choán hết mặt tường chính diện ở gian đại sảnh, hắn trưng bày bức tranh “Thăm
lại chiến trường xưa”, khiến ai bước vào, thoạt nh́n đă văi linh hồn. Cái
chiến trường khu Năm tôi với hắn ở lâu nhất là Quảng Nam, Quảng Ngăi. Nó ác
liệt tới mức lính ta chết v́ bom đạn đă nhiều nhưng chết đói cũng không ít.
Trên hồ sơ báo tử từ mặt trận gửi về Bộ Quốc pḥng chỉ ghi lạnh lùng hai chữ
“sốt rét”, nhưng xin các ông bố bà mẹ, những người vợ hiền ở hậu phương thời
ấy biết cho, lũ lính chúng tôi sốt rét ít thôi, đa phần là chết đói. Đói v́
mấy ông chỉ huy hám thành tích, vững lập trường “tự lực cánh sinh”, chỉ nhận
người và vũ khí, c̣n lương thực xin cấp trên cho được tự túc. Xứ Quảng đói
nghèo, miền Tây Quảng Ngăi càng đói nghèo, nhưng lại rất thơ mộng với núi Ấn,
sông Trà. Làm lính khu Năm, ai mà quên được những đêm trăng bên ḍng Trà Khúc
ngồi ngắm núi Ấn với ḥn Nghiên, ḥn Bút. Hắn trở lại chiến trường xưa vẽ
những bóng ma đồng đội xiêu vẹo, lả đi v́ đói, d́u nhau đi giữa cánh rừng đại
ngàn ở đôi bờ sông Trà Khúc. Tất cả chỉ lờ mờ, không rơ nhân dạng. Người xem
tranh chỉ thấy hắn vẽ và đặc tả người đàn bà khỏa thân nằm xiên chéo toàn bộ
bức tranh. Ở phần dưới là ḍng Trà Khúc bị băi nổi giữa sông tách đôi thành
hai vế đùi đàn bà lấp loáng dưới trăng khuya. Càng nh́n ngắm kỹ, ta càng thấy
một mảng lồi tam giác kẹp giữa hai nhánh sông - khóm cỏ lau ngập nước đang trổ
bông - chính là cái ấy của đàn bà, rơ từng múi thịt, lún phún lông tơ mịn
màng. Thiếu phụ mang tên ḍng sông Trà Khúc ấy có bộ ngực đồ sộ, nhô lên chất
ngất hai đỉnh ḥn Nghiên, ḥn Bút của núi Ấn, và hút sâu trong khoảng không
giữa hai bầu vú ta thấy ẩn hiện gương mặt thiếu phụ ngủ vùi trong gối mây. Một
gương mặt bơ thờ, khắc khoải đợi chờ tạo h́nh bởi viền sáng của mảnh trăng hạ
tuần về sáng, bị che lấp bởi những vạt mây vần vũ xung quanh. Những hồn ma
lính đói vật vờ hành quân tạo thành dải băng đen vắt ngang qua bụng thiếu phụ…
Tôi sững sờ trước ư tưởng kỳ lạ, nét vẽ tài hoa của hắn, con tim như có chùm
gai nhọn của cây rừng Quảng Ngăi đâm lút vào, chắn ngang từng mao quản.
Xem tranh của hắn chỉ thấy ngồn ngộn V và L rất phồn thực. Nhưng có điều lạ,
người đàn bà nào của hắn cũng khỏa thân ở nơi hoang dă, bên bờ sông hay trên
con đ̣, dưới chân núi hay lẫn vào trời mây mờ ảo. Có lẽ gây nhiều tranh căi,
ồn ào dư luận khen chê nhất là gian cuối cùng, trưng bày bộ “Tứ b́nh Cao Bá
Quát” của hắn. Bốn bức tranh trong bộ tứ b́nh phỏng theo nội dung một bài cảm
tác ngẫu hứng của thi sĩ họ Cao, khi ông ngồi hát ca trù với cô đào Ánh Nguyệt
nổi tiếng đất kinh kỳ. Lời ca ông viết là ba khổ thơ vô đề, không theo niêm
luật, lẫn lộn vừa Nôm vừa Hán. Nó rất ngông đời, nổi loạn và cũng rất đa t́nh
như tính cách của ông vậy:
Sơn cao nhất phiến nguyệt
Đă chơi trăng phải biết t́nh trăng
Sơn chi thọ đối Nguyệt chi hằng
Sơn có Nguyệt càng thêm cảnh sắc.
Nguyệt quải hàm Sơn thi bán bức
Sơn hàm minh Nguyệt tửu thiên tôn
Núi chưa già, trăng hăy c̣n non
Trăng dù khuyết, t́nh vẫn tṛn với núi.
Rượu một bầu, thơ ngâm một túi
Góp gió giăng làm bạn với non sông
Núi kia tạc để chữ đồng
Trăng kia nhớ mặt anh hùng này chăng?
Bài thơ được hắn xé ra thành bốn bức tranh, đặc tả thi sĩ họ Cao và cô đào Ánh
Nguyệt. Có lúc ông cởi trần ngồi ngắm trăng, cô độc như một trái núi, có lúc
ông đang hành lạc với nàng trăng. Cô đào Ánh Nguyệt chính là nàng trăng ấy,
khỏa thân ở bốn tư thế khác nhau, khi xa th́ như đùa rỡn giữa trăng với người,
khi gần th́ hoặc chàng phủ lên nàng, hoặc nàng phủ lên chàng, cô tịch và hoang
dă, chẳng bợn lên chút cảm giác nhục dục nào, buộc người xem tranh phải suy
nghĩ mông lung, khắc khoải…
3- Tôi đang lẩm nhẩm đọc thơ được chép theo lối thư pháp hiện đại ở góc dưới
bên phải bức tranh, hắn lại gần cấu nhẹ vào vai tôi hỏi:
- Được không? Bộ tứ b́nh này thế nào?
- Chịu thôi, tranh của mày toàn V với L, nom khiếp quá!
- Mày nói xạo. Nh́n vào mắt người xem, tao biết ai là người đọc được tranh của
ḿnh.
- Cứ cho là thế đi, nhưng tại sao mày bỏ hẳn thơ văn suốt mấy chục năm để lúc
về già lại đổ đốn làm thằng thợ vẽ toàn V và L?
- Văn chương ư? Quên đi!... Dù có dùng nghệ thuật ẩn dụ đến đâu chăng nữa th́
phương tiện biểu đạt của văn chương vẫn là chữ và lời, ở xứ ḿnh dễ mang vạ
vào thân. Tao đă ngấm đ̣n từ lâu quá rồi, hăi lắm!
- Thế c̣n hội họa?
- Hội họa có phương tiện biểu đạt riêng là ánh sáng, h́nh sắc, đường nét. Tao
vẽ V và L để nói cái điều tao muốn nói. Ai muốn hiểu thế nào tùy họ. Tao nghĩ
và tao vẽ là quyền của tao. V và L có ǵ phải kiêng kỵ đâu. Nó là cái đẹp vĩnh
cửu, cái đẹp tự nó, chẳng cần phải che đậy. Khắm như đậu phụ chấm mắm tôm mà
khi ăn rồi ai cũng nghiện, bởi hiện sinh của mắm tôm không chỉ có mùi, c̣n có
vị nữa. Vị mới là cái tinh cốt của đời.
- Nhưng tao vẫn ngờ rằng, mày vẽ V và L c̣n v́ câu chuyện xưa cũ ngày ấy, phải
vậy không?
- Đúng. Tao không thể nào quên đôi bầu vú căng mọng sữa của nàng đă cho tao sự
sống. Giờ đă qua gần trọn một kiếp người, tao mới ngộ ra bầu vú của nàng đă
dạy tao phải sống đúng như tao muốn sống. Tao phải là chính ḿnh. Bầu vú của
nàng là tuyệt đỉnh siêu việt để tao siêu thăng giữa thiện - ác, chính - tà,
chiến tranh - ḥa b́nh, hiện tại - quá khứ…
Hắn nói một thôi một hồi về sự siêu thăng suốt hai năm qua trốn biệt mọi người
lên tận rừng quốc gia Ba V́ để lập xưởng vẽ. Hắn nói rồi đi, mái tóc bồng
bềnh, cḥm râu phơ phất, áo quần xộc xệch, chân nọ đá chân kia như thằng say
rượu… Giữa bức “Thăm lại chiến trường xưa” và bộ “Tứ b́nh Cao Bá Quát” ngỡ là
hai chủ đề khác biệt mà sao tôi đều thấy ḿnh và hắn hiện diện trong đó cùng
sự hiện sinh muôn thủa những kiếp người. Đêm, tôi bị ám ảnh khôn nguôi về h́nh
tượng người đàn bà khỏa thân nơi hoang dă rất phồn thực trong tranh, thao thức
nhớ lại chuyện xưa ở chiến trường khu Năm.
4- Ngày ấy, những thằng lính đi B có bằng cử nhân hay tú tài như chúng tôi c̣n
là của hiếm, dùng để tuyên truyền cho dân miền Nam về thiên đường xă hội chủ
nghĩa ở miền Bắc. V́ vậy, nếu có bị thương, nhưng chưa đến mức nằm liệt, các
cậu cử, cậu tú chúng tôi cũng không được chuyển ra Bắc. Xuất viện là họ điều
chúng tôi về An toàn khu làm lính cơ quan hay phân về làm bảo vệ ở các bệnh
viện, trại giam tù binh… Tôi bị thương vào cánh tay, c̣n hắn bị thương ở vùng
ngực, găy hai chiếc xương sườn. An toàn khu có khoảng gần trăm người như chúng
tôi, già nửa là lính Hà Nội, đă tốt nghiệp cấp III phổ thông, c̣n từ cấp chỉ
huy đến lính đa phần là người địa phương khu Năm. Họ nh́n chúng tôi hát ḥ,
đọc sách, làm thơ… với con mắt kỳ thị, xem đám lính Hà Nội là lăng mạn tiểu tư
sản, lập trường bấp bênh, thiếu tinh thần cách mạng triệt để. Khổ nỗi, các cô
gái địa phương hay các nữ giao liên từ vùng địch ra lại cứ xoắn lấy các chàng
trai Hà Nội, xem chúng tôi giải toán lớp 12 cứ mắt tṛn mắt dẹt. Điều này càng
gây chướng mắt các ông chỉ huy. Càng bị cô lập, phân biệt đối xử, chúng tôi
càng thương quư nhau hơn, nhất là tôi với hắn vốn cùng một tiểu đội trinh sát,
cùng bị thương trong trận đánh cứ điểm Sơn Tịnh. Ngày ấy, lính ta đói dài, ngô
sắn c̣n không đủ ăn, gạo càng hiếm, nói chi đến thịt cá. Chúng tôi thường tụ
tập nhau lén đi cải thiện. Nói “cải thiện” cho vui thôi, thực ra là đi ăn trộm
của tập thể cơ quan hay của dân bất cứ thứ ǵ nhét được vào bụng để tồn tại
qua ngày. V́ vậy, lính Hà Nội thường hay bị điều đi công tác để tách xa nhau
ra. Công tác nguy hiểm nhất là xuống cơ sở ở đồng bằng lấy gạo, muối, thực
phẩm. Địch biết quân ta đói nên tung một lữ đoàn thiện chiến bao vây, chốt
chặt các ngả đường từ căn cứ xuống đồng bằng. Chỉ huy lữ đoàn là viên trung tá
c̣n rất trẻ, chống cộng đến cùng, nhưng cũng không ưa sự có mặt của người Mỹ.
Thời sinh viên, anh ta đă từng biểu t́nh chống Mỹ xúc phạm các nữ sinh Việt
Nam. Là con một trong gia đ́nh trí thức lớn, danh giá bậc nhất ở Sài G̣n, lại
làm rể ông nghị sĩ quốc hội, nhưng v́ coi thường các tướng lĩnh kém mưu, nhát
gan nên anh ta bị điều ra miền Trung. Nuôi mộng vinh thăng cấp tướng để thâu
tóm quyền lực, thay đổi thế cờ chiến cuộc nên anh ta xông xáo xuống từng đơn
vị, kiểm tra thường xuyên các chốt mai phục không để sơ hở. Là người túc trí
đa mưu, anh ta muốn tiêu diệt căn cứ không cần đạn pháo cỡ lớn mà bằng cái
đói. Chỉ huy cấp dưới thường được trung tá nhắc nhở: “Đă là chiến tranh tất có
một bên phải chết. Muốn sống ta phải tàn bạo với kẻ địch, lương tâm, đạo lư
gửi lại cho thân nhân, bạn bè cất giữ ở hậu phương. Gặp thằng lính Việt cộng
nào đi lấy gạo các anh cứ việc bắn bỏ rồi chặt đầu bêu ở ven đường cho chúng
khiếp vía, chịu đói mà chết dần.”…
5- Tôi nhớ, vào tháng hai âm lịch năm nhâm Tư (1972), giữa kỳ giáp hạt, toàn
khu căn cứ đói dài. Một tốp 5 người đi lấy gạo bị địch chặt đầu bêu ở cọc tre
ven đường, có đến 3 người là lính Hà Nội. Hắn như phát rồ v́ thằng bạn rất
thân cũng nằm trong số đó. Đành rằng chiến tranh là cối nghiền thịt khổng lồ,
con người ở cả hai phía đều buộc phải tàn ác như nhau cả thôi. Thế nhưng nếu
hôm qua thằng bạn c̣n nằm chung một ổ, ăn cùng một mâm bỗng hôm nay bị đối
phương chặt đầu th́ ta lại chỉ thấy địch là tàn ác, c̣n ta có nghĩa vụ đ̣i lại
nợ máu. Cả khu căn cứ sôi sục muốn trả thù cho đồng đội và cũng rất căng thẳng
v́ đói. Tư lệnh An toàn khu quyết định mở trận đánh phá vây, tiêu diệt lữ đoàn
của địch. Mũi đánh vu hồi vào sở chỉ huy lữ đoàn ở tuyến sau của chúng là quan
trọng và nguy hiểm nhất, được tất cả lính Hà Nội chúng tôi t́nh nguyện tham
gia. Hắn và tôi được cử đi trinh sát t́nh h́nh sở chỉ huy lữ đoàn. Sau 10 ngày
luồn sâu, mật phục và quan sát, hai đứa đă nắm được quy luật hoạt động và hệ
thống bố pḥng của địch. Phải thừa nhận viên trung tá chỉ huy là đối thủ tài
ba, không hổ danh là lính trí thức con nhà ṇi của phía bên kia, hệ thống bố
pḥng không t́m thấy một chút sơ hở. Nhưng ở chiến trường, đôi khi mọi sự cẩn
trọng, chu đáo có thể bị phá vỡ bởi một yếu tố ngẫu nhiên. Ngày thứ 10, đang
chuẩn bị rút về cứ, qua ống nḥm, tôi và hắn phát hiện thấy một chiếc trực
thăng hạ cánh ở sân sở chỉ huy lữ đoàn. Bước ra khỏi máy bay là một thiếu phụ
đẹp đến mê hồn. Gương mặt nàng đôn hậu như Phật bà Quan Âm giáng thế. Vóc dáng
và y phục nàng toát lên vẻ kiều diễm, cao sang mà vẫn dễ gần bởi nụ cười hiền
dịu. Đi theo nàng c̣n có vài cô gái, thảy đều sang trọng, trẻ đẹp. Họ mang
theo rất nhiều quà và cả vài chục két bia. Đêm nay chắc hẳn sở chỉ huy lữ đoàn
có đại tiệc, lính cũng như quan sẽ tắm bằng bia và rượu. Tôi và hắn sướng run
lên, cắm đầu chạy băng rừng về nơi tập kết của đồng đội đang nóng chờ tin tức.
Trận đánh diễn ra trong đêm tối trăng thật êm gọn đến bất ngờ, nhưng cái giá
xương máu thật là khủng khiếp. Kẻ địch say mèm và hoảng loạn, c̣n chúng tôi
th́ như một lũ điên luôn miệng hô giết, giết và giết. Biết làm sao khác được,
khi cơn cuồng nộ trả thù đă khiến tất cả như không c̣n tính người. Kẻ địch
chạy - bắn, giơ tay hàng - bắn, bị thương ḷi ruột cũng bắn. Máu người vung
văi khắp nơi, dây đầy áo lính, ṇng súng bỏng rát, tiếng kêu rên thê thảm… Mặc
kệ! Ngón tay trỏ của tôi và hắn chỉ c̣n một phản xạ nhấn c̣ súng. Thê thảm
nhất là xác viên trung tá găm đầy đạn tiểu liên, đạn AK, máu me đầm đ́a, thân
h́nh nát bấy. Chúng tôi nh́n vào xác chết, hả hê v́ trả được thù. Tất cả lặng
đi vài phút, nhớ đến những cọc tre bêu đầu đồng đội những ngày qua, rồi cùng
oà lên, nức nở gọi tên từng người… Bỗng cánh cửa sắt của tủ hồ sơ tài liệu bật
mở và thiếu phụ lao ra ôm lấy xác chồng gào khóc. Tay nàng run run sờ mặt,
vuốt tóc chồng. Mặt nàng úp lên lồng ngực đầy máu…
- Giết nốt con đĩ này thôi, anh em ơi!
- Cho nó đi chầu Diêm vương với thằng chồng ác ôn!
- Lột quần áo nó ra ngắm cho sướng mắt rồi hăy làm thịt!
- Phải đấy, xem thử cái L người Sài G̣n nó đen-trắng, dày-mỏng thế nào rồi hăy
giết!
Hơn chục thằng lính Hà Nội đang cơn say máu, nhao nhao quát thét, ánh mắt man
dại. Riêng hắn lặng đi, trán vă mồ hôi, mặt tái mét, trân trối nh́n thiếu phụ.
Hắn lại gần, vực nàng đứng dậy và nghẹn ngào nói:
- Chúng mày nh́n đi! Ngực cô ấy căng đầy sữa, rỉ ra từng giọt, chắc vừa sinh
con nhỏ. Đ mẹ, bắn giết thế đủ rồi! Trẻ thơ có tội t́nh ǵ đâu. Cuộc chiến này
đă quá nhiều trẻ mồ côi, c̣n chưa đủ sao? Hăy tha cho cô ấy về với con. Đứa
nào nói nữa tao bắn.
Thiếu phụ quỳ xuống, chắp tay vái lạy từng người, không nói được ra lời. Chúng
tôi như bừng tỉnh quay đi, bàng hoàng đau xót, giấu những giọt nước mắt đang
ứa ra. Từng người lặng lẽ lao vào bầu trời đen thẫm. Đêm ấy không ngờ tôi và
hắn bị lạc nhau. Trên đường rút về cứ, hắn không may dẫm phải bẫy thú rừng của
người dân tộc. Những mũi chông nhọn hoắt đâm vào đùi, vào bụng làm hắn ra rất
nhiều máu. Vùng vẫy thoát ra khỏi hố bẫy th́ hắn kiệt sức, nằm thiếp đi bên
một bụi cây. Mờ sáng tỉnh dậy, hắn giật ḿnh v́ thấy ḿnh đang gối đầu lên đùi
người thiếu phụ hồi đêm. Vết thương ở đùi và bụng của hắn được nàng xé áo băng
lại. Nàng là người thành phố, không quen đi rừng nên cũng bị lạc. Đây đă thuộc
vùng giải phóng, nàng có thể sẽ bị bắt lại. Hắn định ngồi dậy chỉ vẽ đường đi
cho nàng, nhưng vết thương nhói buốt, miệng khô rang v́ ra nhiều máu, hắn nằm
vật xuống, trong cơn mê sảng luôn miệng đ̣i uống nước. Nàng nh́n hắn bối rối,
thương xót. Trời c̣n chưa sáng rơ, chạy đi t́m nước nàng có thể bị lạc một lần
nữa, không khéo gặp thú rừng th́ nguy. Hơn nữa, nàng có thể gặp Việt cộng hoặc
du kích, sẽ bị bắt, không c̣n đường về với con. Nh́n ra bốn bề chỉ thấy núi và
cây rừng, chẳng nghe thấy tiếng nước chảy, đang mùa khô, đào đâu ra nước bây
giờ? Tiếng hắn thều thào “nước… nước…” khiến ḷng nàng quặn thắt. Ngực nàng
th́ đang cương sữa, vắt đầy ra cỏ đă mấy lần... Lưỡng lự hồi lâu rồi nàng mạnh
bạo vạch vú nhét vào miệng hắn. Phản xạ tự nhiên làm hắn chợt tỉnh, đẩy bầu vú
của nàng ra, lắc đầu quầy quậy. Nàng càng cố ấn đầu vú vào, hắn càng dùng hết
sức đẩy ra. Tức quá, nàng tát thật lực vào mặt hắn, quát to:
- Nước không có, muốn chết khát hay muốn sống?
Cái tát của nàng làm hắn trở nên ngoan ngoăn, thôi vùng vẫy, nhắm nghiền đôi
mắt, từ từ há miệng ngậm vào đầu vú mút và mút. Nàng gần như nằm đè lên người
hắn, dứt tung nịt vú, vắt kiệt cả hai bầu sữa. Hắn bú no nê ḍng sữa của nàng
cho đă cơn khát. Sữa cho hắn sức lực để hồi tỉnh. Khi đó hắn mới nhận ra cái
cảm giác đê mê trước mùi da thịt của nàng. Sữa đă hết, nhưng miệng hắn c̣n
ngậm chặt đầu vú. Bàn tay hắn mơn man lên da thịt trắng ngần và mịn màng, ấm
nóng của bộ ngực đồ sộ như hai trái núi. Hắn không ngờ người thiếu phụ mảnh
mai như nàng lại có bộ ngực phồn thực đến vậy. Hắn ngây ra nh́n gương mặt
thánh thiện của nàng. Cái ấy của hắn đụng vào người nàng bỗng cương cứng lên,
muốn xé rách lần vải quần quân giải phóng. Nàng nh́n hắn mỉm cười. Cái nh́n
đầy cảm thông và bao dung của t́nh mẫu tử, chứ không phải của bạn t́nh, làm
hắn chợt hổ thẹn v́ sự nổi loạn trong cái của nợ, dù thằng đàn ông nào chẳng
vậy…
Đúng lúc đó, ba người lính địa phương khu Năm xuất hiện. Họ túm tóc hắn lôi
dậy, xỉ vả một hồi v́ tội hủ hóa, rồi trói cả hai, giải về khu căn cứ. Chuyện
của hắn có viết cả trăm lần vào bản kiểm điểm cũng không ai tin, ngoài tôi và
mấy thằng bạn thân người Hà Nội. Hắn bị khép tội cố ư tha tù nhân có nợ máu,
lại thông đồng với nàng bỏ trốn ra vùng địch. Từ thằng lính lập nhiều chiến
công, bị thương về làm lính coi tù, nay hắn thành tù nhân đặc biệt của trại
giam. Nàng bị giam ở trại phụ nữ, hắn bị giam ở trại nam giới, hai trại cách
nhau một con suối, đằng đẵng gần nửa năm cách trở. Hàng ngày đi lao động trồng
sắn, hắn và nàng cách bờ nh́n nhau đau đáu, nhớ thương, ấm ức. Tôi và mấy
thằng bạn thân thường t́m cách gặp hắn an ủi, động viên hoặc làm liên lạc giữa
hắn và nàng. Lâu dần tôi mới biết hôm đó nàng dùng trực thăng riêng của gia
đ́nh đi đón chồng về Sài G̣n chuẩn bị tu nghiệp lớp sĩ quan cao cấp ở Mỹ. V́
quá say sưa thù tạc, chia tay với chiến hữu nên sở chỉ huy lữ đoàn của chồng
nàng mới bị quân ta tập kích, trở tay không kịp. Nàng bảo, anh ấy ngoài mặt
trận phải buộc ḷng làm con thú hung dữ, chứ về nhà lại hết mực yêu vợ, thương
con, hiếu đễ với hai bên cha mẹ. Âu đây cũng là số phận!... Khi biết tin thằng
cha chột mắt người khu Năm phụ trách trại giam nhiều lần ve văn, có lần toan
hăm hiếp nàng, hắn lồng lên, thề sẽ giết thằng chó đểu. Văng tục, chửi bới một
hồi, hắn bưng mặt khóc hu hu như con nít, nài xin tôi và mấy thằng bạn t́m
cách bố trí cho nàng trốn khỏi trại giam. Chúng tôi bàn bạc, lập kế hoạch rất
chu đáo cho hắn và nàng cùng trốn về đồng bằng. Mất bao nhiêu công sức băng
rừng, lội suối, chúng tôi mới đưa được hai người ra đến bờ sông Trà Khúc. Chỉ
một bước là lên thuyền xuôi về vùng địch, hắn chợt đổi ư, quyết tâm ở lại, sẵn
sàng chịu trách nhiệm một ḿnh về việc nàng bỏ trốn để không liên lụy đến bạn
bè. Việc đă gấp, tôi và mấy thằng bạn đành cắn răng, nuốt lệ chiều theo ư hắn.
Chúng tôi tản ra canh chừng cho hắn và nàng ngồi chia tay bên mép nước, dưới
ánh trăng lai láng. Tôi ngồi sau một bụi cây, xoay lưng về phía bờ sông. Đêm
khuya thanh vắng, khoảng cách không xa, lại xuôi theo chiều gió nên tôi vô
t́nh nghe rơ câu chuyện giữa hắn và nàng.
- Em thương anh quá! – Nàng bảo.
- Đừng lo, anh chịu đựng được, em cứ yên tâm t́m về với con và gia đ́nh – Hắn
động viên.
- May ra số phận c̣n cho ḿnh gặp lại nhau.
- Hết chiến tranh, nếu c̣n sống anh sẽ t́m em.
- Em hỏi thật, anh đừng giấu.
- Hỏi đi, anh nghe đây.
- Cái hôm anh đẩy bầu vú em ra khỏi miệng, em đoán anh chưa từng một lần với
đàn bà?
- Đúng vậy. Bạn bè anh nhiều đứa chết rồi vẫn chưa được làm đàn ông.
- Em muốn có thêm đứa con với anh. Chồng em đằng nào cũng chết rồi, oan hồn
anh ấy sẽ không phiền trách.
- Nhưng bạn bè anh…
- Không sao, họ đều là con người, sẽ thông cảm cho chúng ḿnh.
- Anh rất muốn, nhưng…
- Thôi, không nhưng ǵ hết.
Giời ơi!... C̣n ai trên đời hạnh phúc như hắn. Tôi nhắm nghiền mắt mà như nh́n
thấy rơ hắn và nàng cùng trút bỏ áo quần, lội ra ḍng sông loáng bạc. Họ ôm
nhau, kỳ cọ thân thể cho nhau rồi… hắn bế thốc nàng lên bờ làm cái chuyện ấy
giữa trời mây sông nước bao la…
6- Mấy chục năm qua đi, giờ tôi mới gặp lại nàng. Nàng vẫn nguyên vẹn dáng vẻ
kiều diễm, cao sang như buổi nào bước ra khỏi máy bay trực thăng. H́nh như chỉ
tôi với hắn là già và xấu đi, c̣n nàng cứ trẻ và đẹp măi. Nàng như Phật bà
quan âm tái thế, tài trợ cho pḥng trưng bày tranh của hắn. Nàng đang từ cơi
niết bàn bước ra đọc lời khai mạc pḥng tranh trong ánh mắt ngạc nhiên của bạn
bè và công chúng yêu hội họa. Chỉ ḿnh tôi biết được chàng trai lịch sự, tuấn
tú đứng bên cạnh nàng là con của hắn. Chỉ ḿnh tôi biết được v́ sao hắn vẽ
tranh toàn V và L, ngoài cái triết mỹ hắn gửi gắm vào tranh c̣n v́ một lẽ
khác. Cuối buổi khai mạc pḥng tranh, hắn và nàng dắt con trai lại chào tôi,
hẹn sẽ đến ăn bữa cơm thuần túy Việt Nam. Hắn bảo, đừng bày vẽ ǵ, cứ trải
chiếu ngoài sân, dưới gốc cây hoàng lan, đăi nhau món đậu phụ chấm mắm tôm ăn
với bún là tuyệt nhất. Tôi chưa quen với mùi mắm tôm, nhưng sẽ thử cùng hắn và
nàng nếm cái vị của nó. Có lẽ hắn đúng, giữa mùi và vị th́ vị mới chính là
tinh cốt của đời.
Hà Nội 7/2005
V.N.T.